- Lưc lượng cán bộ phục vụ cho hoạt động kinh doanh trái phiếu còn mỏng: Lượng cán bộ dành cho loại hình kinh doanh này tại TLS mới chỉ có 2 người, một trưởng phòng chịu trách nhiệm c[r]
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, phần lớn các CTCK đều tập trung vào hoạt động tự doanh cổ phiếu
và môi giới mà chưa chú trọng tới hoạt động kinh doanh trái phiếu Điều này đã gây
ra khá nhiều rủi ro trong quá trình tham gia thị trường của CTCK bởi tự doanh cổ phiếu là hoạt động có thể mang lại lợi nhuận cao nhưng kèm với nó là rủi ro lớn Trong năm 2008, hoạt động tự doanh cổ phiếu đã đưa phần lớn các CTCK rơi vào tình trạng làm ăn thua lỗ và CTCK Thăng Long cũng không ngoại lệ Trước thực trạng trên các CTCK nói chung và CTCK Thăng Long nói riêng đã nghiên cứu thêm các phương án đầu tư mới trong đó có phương án kinh doanh trái phiếu Đây là một hoạt động nhằm giảm bớt rủi ro cho CTCK trong thời điểm thị trường biến động mà cũng mang lại lợi nhuận không nhỏ hơn so với hoạt động tự doanh cổ phiếu
TTTP của Việt Nam vẫn còn khá non trẻ nhưng cũng đã đóng góp 14,2% GDP tính đến hết năm 2008 và đang trong quá trình phát triển Trên thế giới, TPCP, trái phiếu công ty có tỷ trọng giao dịch lớn trên TTCK bởi sự sôi động của TTCK phái sinh Thời gian tới, theo xu thế chung của thế giới, hoạt động giao dịch trái phiếu sẽ ngày càng phát triển, đặc biệt khi TTTP chuyên biệt đã chính thức đi vào hoạt động
Tham gia vào TTTP từ tháng 6 năm 2008 nhưng CTCK Thăng Long đã gặt hái được khá nhiều thành công, đóng góp một phần lợi nhuận không nhỏ cho công
ty Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh trái phiếu tại TLS còn nhiều hạn chế và vẫn chưa phát triển do quy mô hoạt động kinh doanh nhỏ, phương thức đầu tư còn đơn điệu và mang tính rủi ro cao Nhận thức rõ vai trò của việc phát triển hoạt động kinh
doanh trái phiếu trong tương lai nên đề tài: “Phát triển hoạt động kinh doanh trái phiếu tại Công ty cổ phần Chứng khoán Thăng Long” đã được chọn để nghiên
cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động kinh doanh trái phiếu tại CTCK và phát triển hoạt động kinh doanh trái phiếu tại CTCK
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh trái phiếu tại CTCK Thăng Long
- Đề xuất giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh trái phiếu tại CTCK Thăng Long
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu hoạt động phát triển kinh doanh trái phiếu của CTCK
Trang 2- Nghiên cứu hoạt động phát triển kinh doanh trái phiếu tại CTCK Thăng Long từ khi Công ty gia nhập TTTP
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các phương pháp nghiên cứu được sử dụng: phân tích, tổng hợp, tư duy lôgic và làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu
5 Những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa lý luận về hoạt động kinh doanh trái phiếu tại CTCK, đặc biệt
lý luận về phát triển hoạt động kinh doanh trái phiếu tại CTCK
- Đề xuất một số giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh trái phiếu tại CTCK Thăng Long nói chung và cho các CTCK khác hoạt động trên thị trường tài chính Việt Nam nói riêng
6 Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu làm 3 chương chính
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về phát triển hoạt động kinh doanh
trái phiếu tại CTCK
Chương 2: Thực trạng phát triển hoạt động kinh doanh trái phiếu tại Công ty
Cổ phần Chứng khoán Thăng Long
Chương 3: Một số giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh trái phiếu tại
Công ty Cổ phần Chứng khoán Thăng Long
Trang 3CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TRÁI PHIẾU TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1 Tổng quan về hoạt động kinh doanh trái phiếu tại Công ty chứng khoán 1.1.1 Hoạt động cơ bản của Công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt được hình thành
trong thời kỳ phát triển cao của nền kinh tế Tại Việt Nam, theo điều 65, 66 Nghị
định 144/2003/NĐ-CP của Chính phủ về chứng khoán và TTCK Công ty chứng khoán là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn được UBCKNN cấp
Giấy phép thành lập để hoạt động kinh doanh, dịch vụ chứng khoán đáp ứng đủ các yêu cầu sau:
- Có phương án kinh doanh phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội và phát triển ngành chứng khoán
- Có đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật cho kinh doanh chứng khoán
- Giám đốc, Phó giám đốc (Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc), các nhân viên kinh doanh của CTCK phải đáp ứng đủ điều kiện để được cấp chứng chỉ hành nghề kinh doanh chứng khoán do ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp
- Giấy phép bảo lãnh phát hành chỉ được cấp cho công ty có Giấy phép tự doanh
- Có mức vốn pháp định theo từng loại hình kinh doanh sau
Các hoạt động cơ bản của công ty chứng khoán bao gồm: Môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán và bảo lãnh phát hành chứng khoán
1.1.2 Hoạt động kinh doanh trái phiếu tại công ty chứng khoán
Hoạt động kinh doanh trái phiếu của CTCK được hiểu là việc CTCK thực
hiện hoạt động môi giới trái phiếu cho khách hàng hoặc tự doanh trái phiếu hoặc cả hai để từ đó thu phí giao dịch, hoa hồng, trái tức hoặc chênh lệch giữa giá mua và giá bán nhằm mang lại lợi nhuận về cho CTCK
Các hình thức kinh doanh trái phiếu tại công ty chứng khoán
- Căn cứ vào công cụ đầu tư: Trái phiếu được chia thành hai loại chính:
TPCP và trái phiếu công ty tương ứng hoạt động kinh doanh trái phiếu được chia thành kinh doanh TPCP (TPCP và TPCQĐP, trái phiếu kho bạc, và trái phiếu đô thị)
và kinh doanh TPDN hay trái phiếu công ty
- Căn cứ vào nguồn vốn và trách nhiệm của công ty: Hoạt động kinh doanh
trái phiếu của CTCK được chia thành hoạt động tự doanh trái phiếu và môi giới giao dịch trái phiếu cho khách hàng
Trang 4- Căn cứ vào mục tiêu kinh doanh: Hoạt động kinh doanh trái phiếu được
chia thành ba loại là kinh doanh đầu tư hưởng lợi, kinh doanh đầu tư phòng vệ và nhà tạo lập thị trường
Quản lý danh mục đầu tư trái phiếu: Hoạt động quản lý danh mục đầu tư
trái phiếu là nhu cầu quản lý danh mục đầu tư trái phiếu trong kho tự doanh của CTCK, trong kho đối với CTCK là nhà tạo lập TTTP hoặc danh mục trái phiếu được
ủy thác quản lý của các nhà đầu tư Tiền đầu tư trái phiếu có thể là tiền tự có của CTCK hoặc tiền ủy thác của các nhà đầu tư trong đó CTCK cam kết trả thanh toán cho nhà đầu tư với một tỷ lệ lãi và kỳ trả lãi nhất định
Vai trò của hoạt động kinh doanh trái phiếu tại công ty chứng khoán Vai trò của hoạt động kinh doanh trái phiếu là tăng tính lỏng và tính sinh lời
của các tài sản đầu tư, đa dạng hóa tài sản đầu tư, hạn chế rủi ro, thúc đẩy quá
trình luân chuyển vốn và cung ứng vốn cho nền kinh tế
1.2 Phát triển hoạt động kinh doanh trái phiếu tại công ty chứng khoán
1.2.1 Quan niệm về phát triển hoạt động kinh doanh trái phiếu tại công ty chứng khoán
Phát triển là sự thay đổi về lượng và chất theo hướng tích cực Như vậy, phát triển hoạt động kinh doanh trái phiếu tại CTCK được hiểu là sự tăng lên về chất và lượng trong hoạt động kinh doanh trái phiếu
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá mức phát triển hoạt động kinh doanh trái phiếu của công ty chứng khoán
1.1.2.1 Các chỉ tiêu định tính
- Tính đa dạng của hoạt động kinh doanh trái phiếu
- Cơ cấu danh mục đầu tư
- Tính chuyên nghiệp trong hoạt động kinh doanh trái phiếu và chất lượng cán
bộ tham gia hoạt động kinh doanh trái phiếu
1.2.2.2 Các chỉ tiêu định lượng
- Chỉ tiêu về mức tăng doanh thu kinh doanh
Mức tăng doanh thu từ
hoạt động kinh doanh =
Chênh lệch doanh thu kinh doanh năm nay (kỳ này)
x 100%
Doanh thu kinh doanh năm trước
(kỳ trước)
- Chỉ tiêu về tỷ lệ chi phí hoạt động kinh doanh
Tỷ lệ % chi phí hoạt
động kinh doanh =
Chi phí của hoạt động kinh doanh trong kỳ
x 100%
Doanh thu từ hoạt động kinh
doanh trong kỳ
Trang 5- Chỉ tiêu lợi nhuận trên vốn
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn là chỉ tiêu đo lường mức sinh lợi của đồng vốn
Tỷ suất lợi nhuận trên
Lợi nhuận từ hoạt động kinh
Vốn
- Chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng của tỷ suất lợi nhuận trên vốn
Tỷ suất lợi nhuận trên
vốn
=
Tỷ suất lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận năm trước
x 100%
Vốn
- Chỉ tiêu về tốc độ gia tăng thị phần của CTCK trong hoạt động kinh doanh trái phiếu
Thị phần gia tăng của công
Thị phần của công ty
Thị phần của công
ty năm trước
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển hoạt động kinh doanh trái phiếu tại công ty chứng khoán
1.3.1 Nhân tố chủ quan
- Quan điểm của lãnh đạo CTCK về phát triển hoạt động kinh doanh trái phiếu
- Cơ cấu tổ chức của công ty
- Đội ngũ nhân viên thực hiện hoạt động kinh doanh trái phiếu
- Quy mô vốn cho hoạt động kinh doanh trái phiếu
- Các nhân tố khác: Cơ sở vật chất kỹ thuật, hệ thống thông tin, quan hệ của CTCK với khách hàng và những tổ chức kinh doanh trái phiếu khác trên thị trường, các hoạt động khác của công ty như, các công cụ phòng vệ
1.3.2 Các nhân tố khách quan
- Nhân tố pháp lý
- Nhân tố chính sách
- Sự phát triển của thị trường chứng khoán nói chung và thị trường trái phiếu nói riêng
- Sự phát triển của Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính và kinh doanh chứng khoán
- Các nhân tố khác: Nhân tố về sự ổn định và tăng trưởng kinh tế, nhân tố
về công chúng đầu tư, rủi ro về thông tin không cân xứng, sự cạnh tranh giữa các công ty tham gia kinh doanh trái phiếu
Trang 6CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TRÁI PHIẾU
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN THĂNG LONG
2.1 Khái quát về công ty Cổ phần chứng khoán Thăng Long
Công ty Cổ phần Chứng Khoán Thăng Long thành lập theo quyết định số 05/GPHĐKD do Chủ tịch UBCK Nhà nước cấp ngày 11/05/2000 với ngành nghề kinh doanh chủ yếu là: Môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, lưu ký chứng khoán, tư vấn tài chính
và các dịch vụ tài chính khác
2.2 Thực trạng phát triển hoạt động kinh doanh trái phiếu tại công ty chứng khoán Thăng Long
2.2.1 Thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam
Ngày nay, TTTP là một bộ phận của TTCK, là kênh huy động vốn tiềm năng
và hiệu quả cho các dự án của Chính phủ và tư nhân Tuy nhiên, hiện nay TTTP Việt Nam vẫn là một thị trường có quy mô nhỏ, thanh khoản thấp, hàng hoá trên thị trường chủ yếu là TPCP, trong khi theo kinh nghiêm trên thế giới thì TPDN mới là yếu tố quyết định tính sôi động của thị trường này nhưng thị trường TPDN phát
hành ở Việt Nam vẫn còn rất hạn chế
Hệ thống các nhà đầu tư cũng chưa phát triển, số lượng các thành viên tham gia đấu thầu qua TTCK còn hạn chế và lãi suất đặt thầu càng ít mang tính đại diện cho thị trường
2.2.2 Thực trạng phát triển hoạt động kinh doanh trái phiếu của Công ty Cổ phần Chứng khoán Thăng Long
Nguồn vốn hoạt động của TLS đã có sự tăng trưởng nhanh và lớn mạnh, từ 9
tỷ đồng từ ngày đầu thành lập đến nay TLS vốn điều lệ là 800 tỷ đồng và kế hoạch lên tới 2.000 tỷ tới cuối năm 2012, hiện CTCK Thăng Long đứng thứ 9 về vốn điều
lệ trong số 103 CTCK trên cả nước, tổng tài sản lên tới 4.210 tỷ đồng cũng là một con số không nhỏ trong số các CTCK trên thị trường
Hoạt động phát hành trái phiếu
Bắt đầu tham gia thị trường trái phiếu từ năm 2007, TLS đã huy động nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh từ phát hành trái phiếu, năm 2007 huy động được 200
tỷ đồng, năm 2008 công ty phát hành thêm 350 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn 2 năm với lãi suất 8,9% Trong năm 2009, TLS phát hành thêm 360 tỷ đồng nâng tổng giá trị trái phiếu TLS phát hành là 910 tỷ đồng Toàn bộ số tiền phát hành trái phiếu phục
vụ cho hoạt động dịch vụ tài chính là chủ yếu còn lại dành cho dịch vụ kinh doanh đầu tư trái phiếu là 100 tỷ đồng
Trang 7 Hoạt động môi giới trái phiếu
Hiện nay, hoạt động môi giới trái phiếu của TLS mới chỉ dừng ở việc tiến hành giao dịch trái phiếu cho Ngân hàng TMCP Quân đội
Năm 2007, giá trị giao dịch của TLS đạt 1.258 tỷ chiếm 1,4% thị phần trên cả hai sàn HNX và HSX Sang năm 2008 và 2009 thị phần tăng lên 1,5% và 2,57% Đặc biệt, năm 2009, TLS đã đứng vào danh sách 10 công ty có thị phần giao dịch trái phiếu cao nhất trên sàn HSX và HNX
Hoạt động tự doanh trái phiếu
- Bắt đầu tham gia thị trường trái phiếu với nghiệp vụ repo trái phiếu vào tháng
3 năm 2008, Thực hiện nghiệp vụ này, TLS đã dần làm quen với một số đối tác giao dịch trái phiếu trên thị trường, đã định giá trái phiếu để thực hiện nghiệp vụ repo
- Tháng 5/2008, phòng DVTC tiền thân của phòng Nguồn vốn sau này đã bắt đầu tập trung phân tích thị trường kinh tế vĩ mô, thị trường TPCP và doanh nghiệp, nhận thức tình hình kinh tế có nhiều biến động, căng thẳng về thanh khoản kéo dài
từ tháng 4/2008, phòng DVTC ban Tổng giám đốc phê duyệt sử dụng 100 tỷ đồng cho kinh doanh dầu tư dài hạn và 500 tỷ cho kinh doanh ngắn hạn Sau gần 2 năm kinh doanh hiện TLS đã có vị thế trên TTTP với tổng doanh thu hoạt động kinh doanh trái phiếu lên tới 24 tỷ đồng Mặc dù vốn sử dụng cho hoạt động kinh doanh trái phiếu chiếm tỷ trọng nhỏ 2% trong tổng tài sản của công ty nhưng hoạt động này
đã đem lại lợi nhuận 9% trong tổng lợi nhuận năm 2009 của toàn công ty
2.3 Đánh giá thực trạng phát triển hoạt động của Công ty cổ phần chứng khoán Thăng Long trên thị trường trái phiếu Việt Nam
2.3.1 Những kết quả chính về hoạt động kinh doanh trái phiếu tại TLS
- Góp phần tạo nên một kênh đầu tư mới và an toàn: Bên cạnh hình thức hoạt
động môi giới chứng khoán và đầu tư cổ phiếu, TLS đã mạnh dạn bước vào lĩnh vực kinh doanh trái phiếu, đây là một kênh đầu tư an toàn nhất trong các loại đầu tư chứng khoán bởi TPCP được bảo đảm thanh toán bởi Chính phủ Việt Nam
- Lựa chọn thời điểm đầu tư hợp lý: Tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu TTTP,
lạm phát là vấn đề nan giải của nền kinh tế Lạm phát tính từ đầu năm 2008 đến tháng 5/2008 là 15,96%-16,2% Thâm nhập TTTP thời điểm này giúp TLS mua được trái phiếu với giá rẻ sau đó bán lại tại thời điểm thị trường ổn định từ đó thu được khá nhiều lợi nhuận
- Lựa chọn công cụ đầu tư hợp lý: Vào thời điểm cuối năm 2008, toàn bộ nền
kinh tế thế giới rơi vào trạng thái khủng hoảng, Vnindex rớt không phanh, lãi suất tăng mạnh thì việc kinh doanh trái phiếu lại thể hiện được hết ưu việt Việc mua trái phiếu với kỳ hạn từ 3-5 năm đã đem lại một khoản lợi nhuận từ đầu tư khá an toàn
Trang 8- Linh hoạt trong kinh doanh trái phiếu: Tính linh hoạt trong hoạt động kinh
doanh TPCP còn không chỉ thể hiện ở việc đầu tư nghiên cứu trái phiếu với các kỳ hạn khác nhau của TPCP mà còn đa dạng hóa danh mục đầu tư sang TPDN
- Hiệu quả kinh doanh cao: Trong năm khủng hoảng 2008, thì hoạt động kinh
doanh trái phiếu đã giúp cho lợi nhuận của công ty không bị âm và vai trò của hoạt động này cũng không giảm trong năm 2009, chiếm tới 9% trong tổng lợi nhuận của công ty trong khi vốn sử dụng chỉ là 2% giá trị tái sản
Đến thời điểm hiện nay, TLS đã xây dựng cho mình một mạng lưới khách hàng rộng lớn bao gồm các các công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán Đầu tư, Chứng khoán Ngân hàng Ngoại thương, Chứng khoán Ngân hàng Nông Nghiệp, Chứng khoán Ngân hàng An Bình,… các công ty tài chính như Công ty tài chính Hadinco, Công ty tài chính Cao su, Công ty tài chính Xi Măng,… Ngân hàng HSBC, ANZ, các Quỹ, và các tập đoàn tài chính khác
2.3.2 Hoạt động kinh doanh trái phiếu tại TLS chưa phát triển
Mặc dù có những kết quả tốt như trên nhưng đánh giá sự phát triển hoạt động kinh doanh trái phiếu tại TLS qua các chỉ tiêu định tính và định lượng nhận thấy hoạt động kinh doanh trái phiếu tại TLS vẫn chưa phát triển, điều này được khẳng định qua phân tích dưới đây:
- Phương thức kinh doanh còn đơn điệu: Về hoạt động môi giới trái phiếu,
mặc dù đứng trong 13 thành viên giao dịch trái phiếu của HNX trên thị trường trái phiếu chuyên biệt nhưng hiện nay TLS mới chỉ có khách hàng duy nhất là ngân hàng TMCP Quân Đội thực hiện giao dịch qua TLS Hoạt động kinh doanh trái phiếu mới chỉ dừng ở đầu cơ hưởng lợi chứ chưa linh hoạt trong đầu tư trái phiếu như đầu tư chứng khoán phái sinh với với mục đích phòng vệ, hay đầu cơ giảm giá
- Thiếu sự đa dạng trong kinh doanh trái phiếu: Hiện nay, trái phiếu TLS tiến
hành giao dịch bao gồm cả TPCP và TPDN, tuy nhiên, trong thời gian qua ,TLS mới chỉ giao dịch một loại TPDN và cũng bán ngay sau khi mua trái phiếu này để hưởng chênh lệch giá và chưa có ý định nắm giữ loại trái phiếu này Trong danh mục kinh doanh đầu tư trái phiếu của TLS đã tiến hành trong thời gian qua chủ yếu mới chỉ kinh doanh trái phiếu kỳ hạn ngắn và trung hạn là chủ yếu mà chưa có trái phiếu kỳ hạn dài
- Quy mô hoạt động kinh doanh còn nhỏ: So với tổng tài sản của TLS là 4.210
tỷ đồng thì giá trị trái phiếu nắm giữ thời điểm hiện tại của TLS còn khá khiêm tốn, chỉ chiếm 2,4% tổng giá trị tài sản Trong khi đó, hoạt động đầu tư tự doanh cổ phiếu chiếm 26% và kinh doanh vốn là hoạt động phụ trợ cho các khách hàng mở tài khoản giao dịch chứng khoán tại TLS như ứng trước, hợp tác kinh doanh trái phiếu niêm yết và chưa niêm yết chiếm 51%
Trang 9- Hoạt động kinh doanh mang tính rủi ro cao: Hoạt động kinh doanh trái
phiếu tại TLS chưa có chiến lược quản lý danh mục đầu tư cụ thể đồng thời cán bộ tham gia hoạt động kinh doanh trái phiếu vẫn còn ít nên mang tính chủ quan khá lớn
2.3.3 Nguyên nhân hoạt động kinh doanh trái phiếu tại TLS chưa phát triển 2.3.3.1 Nguyên nhân chủ quan:
- Thiếu sự quan tâm của Ban lãnh đạo: Ban lãnh đạo chưa có một định hướng
cụ thể nên chưa đầu tư vốn và nhân lực vào lĩnh vực kinh doanh trái phiếu
- Hoạt động kinh doanh trái phiếu chưa có bộ phận chuyên trách: Hiện nay
hoạt động kinh doanh trái phiếu của TLS được giao cho phòng Nguồn vốn đảm nhận
mà chưa có một bộ phận chuyên biệt cho hoạt động này Bên cạnh việc đổi mới cơ cấu trong mảng hoạt động tự doanh trái phiếu cũng cần có sự tác nghiệp của các đơn
vị khác trong công ty, các bộ phận trong công ty không có sự phối hợp đồng bộ với nhau, bộ phận phân tích trái phiếu và cổ phiếu tách riêng, không có sự trao đổi thông tin qua lại Bộ phận quản lý rủi ro mới chỉ đánh giá hoạt động môi giới của công ty chứ chưa xem xét phân tích rủi ro trong hoạt động kinh doanh trái phiếu nói riêng và đầu tư chứng khoán nói chung
- Lưc lượng cán bộ phục vụ cho hoạt động kinh doanh trái phiếu còn mỏng:
Lượng cán bộ dành cho loại hình kinh doanh này tại TLS mới chỉ có 2 người, một trưởng phòng chịu trách nhiệm chung về hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu, 1 cán bộ trực tiếp chịu trách nhiệm kinh doanh trái phiếu, nhân viên này vừa phân tích đánh giá thị trường thực hiện các báo cáo về TTTP, vừa thực hiện trading trái phiếu giao dịch với khách hàng đồng thời làm các thủ tục hồ sơ giấy tờ mua bán trái phiếu Điều này sẽ dẫn đến hoạt động đầu tư mang nhiều tính chủ quan và có thể dẫn đến sai sót trong định giá hoặc trading trái phiếu
- Thiếu nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh trái phiếu: Hiện nguồn vốn cho
hoạt động kinh doanh trái phiếu mới chỉ chiếm 2% giá trị tài sản và 10% vốn điều lệ trong khi đối với các công ty chứng khoán phát triển khác thì con số này lên tới 20% giá trị tài sản và 50% vốn điều lệ
- Nguyên nhân khác như quan hệ của khách hàng và các thành viên giao dịch
trái phiếu khác, khả năng thu thập và phân tích thông tin, kỹ thuật phân tích thị trường, phát triển ứng dụng các công cụ phòng vệ, … đều chưa được phát triển
2.3.3.2 Nguyên nhân khách quan
- Do sự hạn chế về sự phát triển của TTTP: Trong những năm gần đây, TTTP
Việt Nam tuy đã có những dấu hiệu khả quan nhưng quy mô vẫn còn nhỏ, thanh khoản còn thấp Hàng hoá trên thị trường chủ yếu là TPCP, trong khi theo kinh
Trang 10nghiêm trên thế giới thì TPDN mới là yếu tố quyết định tính sôi động của thị trường này nhưng TPDN phát hành ở Việt Nam vẫn còn rất hạn chế Số lượng các thành viên tham gia đấu thầu qua TTCK còn hạn chế và lãi suất đặt thầu ít mang tính đại diện cho thị trường Bên cạnh đó, khối lượng phát hành các TPCP còn hạn chế, chưa
đa dạng về chủng loại Tính cạnh tranh của TTTP còn thấp khi các hình thức gửi tiết kiệm, đầu tư kỳ phiếu ở các NHTM với tính thuận tiện hơn nên được ưa chuộng hơn đầu tư vào trái phiếu, cùng với tính thanh khoản kém hơn nên trái phiếu chưa thu hút được tiền nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế và cá nhân, đặc biệt là tiềm năng về vốn trong dân cư hiện nay là rất lớn
- Không có tổ chức xếp hạng tín dụng chuyên nghiệp: Đây là rào cản cho các
doanh nghiệp nhỏ khi phát hành trái phiếu Thiếu tổ chức xếp hạng tín dụng, các tổ chức nắm giữ TPDN rất khó bán trái phiếu này trên thị trường thứ cấp Do vậy, khi quyết định đầu tư TPDN, các công ty thường xác định nắm giữ trái phiếu cho tới khi đáo hạn
- Thiếu vắng các nhà tạo lập thị trường: Các nhà tạo lập thị trường chính là
những người giúp cân bằng áp lực cung - cầu trên thị trường trái phiếu Thiếu vắng các nhà tạo lập thị trường làm cho hoạt động kinh doanh trái phiếu trên thị trường thứ cấp thiếu tính linh hoạt và thanh khoản thấp từ đó dẫn đến sự kém phát triển của thị trường trái phiếu
- Hoạt động công bố thông tin chưa đầy đủ:Việc công khai hóa thông tin vẫn
còn ở mức độ giới hạn, chưa rõ ràng, minh bạch Chính phủ cung cấp chưa kịp thời cho nhà đầu tư các báo cáo tài chính Điều này đã làm cho các nhà đầu tư khó khăn trong việc hoạch định kế hoạch đầu tư dài hạn Đối với các doanh nghiệp phát hành trái phiếu vẫn còn tâm lý e ngại việc công khai thông tin, chỉ thực hiện việc này theo hình thức đối phó, chưa thật sự minh bạch Ngoài ra, các thông tin về tình hình và hiệu quả sử dụng vốn huy động từ trái phiếu ra công chúng chưa được đầy đủ
- Hệ thống pháp luật bước đầu hình thành nhưng chưa hoàn thiện: Các
nguyên tắc quản lý và chuẩn mực quốc tế về tính minh bạch, kế toán, kiểm toán tuy đã được áp dụng nhưng còn ở phạm vi hẹp Thể chế pháp luật còn thiếu các qui định cần thiết cho thị trường phi tập trung (OTC), hoạt động định mức tín nhiệm, các công cụ phái sinh ,… nên chưa tạo được hành lang pháp lý nhằm giúp nhà đầu
tư có thể bảo vệ rủi ro cho mình
- Nguyên nhân khác: Do thị trường phi tập trung OTC còn chưa phát triển,
nhận thức của các doanh nghiệp và công chúng đầu tư về thị trường chứng khoán nói chung và thị trường trái phiếu nói riêng còn thấp…