1. Trang chủ
  2. » Địa lý

Phát triển cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn thương tín - chi nhánh Hà Tĩnh

9 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 185,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự ra đời và phát triển của hoạt động CVTD đã và đang góp phần quan trọng trong việc thoả mãn lợi ích của các thành phẩn trong nền kinh tế, bao gồm: người vay tiêu dùng, người sản xuấ[r]

Trang 1

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ

Theo đà phát triển của nền kinh tế, thu nhập và đời sống nhân dân ngày càng cao và nhu cầu mua sắm của người dân ngày càng tăng Tuy nhiên,khả năng chi trả không phải lúc nào cũng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, đó chính là cơ hội để các Ngân hàng phát huy thế mạnh của mình trong hoạt động CVTD nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của khách hàng vay Các Ngân hàng đã chú trọng hơn việc phát triển các hoạt động CVTD và đã tạo ra được những kết quả tích cực, số lượng khách hàng vay tăng lên, nguồn thu nhập từ hoạt động này tăng lên đáng kể

Nhận thức được tầm quan trọng đó, trong những năm gần đây, Sacombank nói chung và chi nhánh Hà Tĩnh nói riêng đã chú trọng phát triển và nâng cao chất lượng CVTD Tuy nhiên, hoạt động CVTD của Sacombank – chi nhánh Hà Tĩnh trong thời gian qua còn có một số hạn chế Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng CVTD của Sacombank – chi nhánh Hà Tĩnh trong thời gian qua và đưa ra các giải pháp phát triển CVTD là rất cần thiết

Từ trước đến nay đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến hoạt động CVTD của các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề phát triển CVTD của Sacombank – chi nhánh Hà Tĩnh

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu lý thuyết về CVTD của NHTM

và phân tích thực trạng về CVTD của Sacombank - CN Hà Tĩnh giai đoạn 2013 –

2015, từ đó đưa ra các giải pháp để phát triển hoạt động CVTD trong giai đoạn

2016 – 2020

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động CVTD tại Sacombank – CN Hà Tĩnh, phạm vi nghiên cứu là thực trạng CVTD tại Sacombank – CN Hà Tĩnh trong giai đoạn 2013 – 2015, các giải pháp phát triển CVTD tại Sacombank – CN Hà Tĩnh đề xuất cho giai đoạn 2016 -2020

Đề tài sử dụng phương pháp điều tra khảo sát, thống kê, tổng hợp số liệu, từ

đó rút ra những nhận xét, đánh giá tình hình CVTD tại Sacombank – CN Hà Tĩnh, những kết quả đạt được, các hạn chế và những nguyên nhân của những hạn chế đó

Trang 2

Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp thiết thực để tiếp tục phát huy lợi thế đồng thời khắc phục những hạn chế tồn tại của hoạt động CVTD tại Sacombank – CN Hà Tĩnh trong giai đoạn 2016 – 2020

Căn cứ vào các mục tiêu đã đề ra, kết cấu của đề tài ngoài mở đầu, kết luận gồm có 3 chương

Chương 1 của đề tài đã trình bày một số vấn đề lý luận cơ bản về CVTD và

phát triển CVTD của NHTM, bao gồm: khái niệm, đặc điểm, các hình thức, quy trình CVTD của NHTM; khái niệm, tầm quan trọng, các chỉ tiêu đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển CVTD của NHTM

“CVTD là việc ngân hàng (NH) giao cho khách hàng một khoản tiền theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi trong một thời gian nhất định để

sử dụng cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt và các nhu cầu phục vụ đời sống” Nhìn chung, CVTD được coi là khoản tiền cấp tín dụng của Ngân hàng cho các khách hàng là cá nhân, hộ gia đình nhằm tài trợ cho các nhu cầu chi tiêu như: mua sắm nhà cửa, các phương tiện đi lại, trang thiết bị và các nhu cầu chi tiêu cho y tế, giáo dục… nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của các cá nhân, gia đình Hoạt động CVTD có một số đặc điểm nổi bật như:

- Các sản phẩm CVTD có lãi suất cứng nhắc

- CVTD có tính nhạy cảm theo chu kỳ

- Quy mô mỗi khoản vay nhỏ lẻ nhưng số lượng các khoản vay lớn

- Chi phí cho một khoản vay tiêu dùng là khá lớn

- CVTD là một trong những khoản mục có khả năng sinh lời cao nhất

- Nhu cầu vay tiêu dùng không thường xuyên

- CVTD thường có độ rủi ro cao

Hiện nay, có rất nhiều phương thức cho vay được NHTM đưa ra nhằm tạo thuận lợi cho khách hàng Dựa vào nhu cầu vay của khách hàng, mức độ tín nhiệm của Ngân hàng đối với khách hàng, hai bên thoả thuận để lựa chọn một loại hình cho vay phù hợp Quy trình CVTD là tổng hợp các công việc cụ thể mà cán bộ TD

và các phòng ban có liên quan trong Ngân hàng phải thực hiện khi cấp vốn cho

Trang 3

khách hàng Để hoàn thiện quá trình tiếp nhận hồ sơ vay vốn, thẩm định, giải ngân

và thu nợ, mỗi NHTM thường xây dựng cho mình một quy trình cho vay Giữa các Ngân hàng, quy trình ấy có thể có sự khác biệt, tuỳ thuộc vào đặc điểm và khả năng

tổ chức quản lý của Ngân hàng, tuy nhiên nhìn chung đều bao gồm 6 bước cơ bản: Nhận hồ sơ tín dụng, Thẩm định tín dụng, Xét duyệt và quyết định cho vay, Hoàn tất thủ tục pháp lý và tiến hành giải ngân, Kiểm tra trong quá trình cho vay, Thu hồi

nợ hoặc đưa ra quyết định tín dụng mới

Trong lĩnh vực Ngân hàng, phát triển CVTD (theo nghĩa hẹp) có thể hiểu sự tăng lên của doanh số, dư nợ CVTD ở tại Ngân hàng (tăng về lượng) Còn hiểu theo nghĩa rộng, phát triển CVTD là sự tăng lên về số lượng khách hàng, doanh số, dư

nợ và lợi nhuận từ CVTD và chất lượng dịch vụ CVTD được nâng cao hơn Sự ra đời và phát triển của hoạt động CVTD đã và đang góp phần quan trọng trong việc thoả mãn lợi ích của các thành phẩn trong nền kinh tế, bao gồm: người vay tiêu dùng, người sản xuất, Ngân hàng và sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế nói chung.Một số chỉ tiêu phản ánh phát triển cho vay tiêu dùng có thể kể đến như: Sự gia tăng về số lượng khách hàng vay tiêu dùng, Sự tăng trưởng về doanh số CVTD cá nhân, Sự tăng trưởng dư nợ CVTD cá nhân, Tỷ lệ thu lãi của hoạt động CVTD và Tỷ lệ nợ quá hạn trong tổng dư

nợ CVTD Bên cạnh đó, Phát triển CVTD không phải là kết quả của ngẫu nhiên, nó là kết quả hàng loạt các yếu tố kết hợp nhau, cả yếu tố xuất phát từ bên trong lẫn do yếu

tố bên ngoài tác động Vì vậy, luận văn đã nghiên cứu và chia các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển CVTD thành 2 nhóm, bao gồm các nhân tố khách quan và các nhân tố chủ quan

Trong chương 2, trên cơ sở những vấn đề lý luận đã trình bày, luận văn đã

nghiên cứu về lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức, tình hình hoạt động trong thời gian qua của Sacombank – CN Hà Tĩnh và tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng CVTD tại Sacombank – CN Hà Tĩnh giai đoạn 2013 – 2015

Căn cứ vào tình hình phát triển của kinh tế địa phương, vào sự phát triển của các Ngân hàng trên địa bàn và chiến lược mở rộng thị trường của Sacombank, ngày 27/06/2012 HĐQT Sacombank đã ra quyết định số 586/2012/QĐ-HĐQT về việc

Trang 4

thành lập CN Sacombank – CN Hà Tĩnh CN chỉ có 1 trụ sở chính tọa lạc tại địa chỉ 37-39 Đặng Dung, Khối phố 7, Phường Nam Hà, TP Hà Tĩnh Khi mới thành lập,

CN chỉ có 40 nhân viên Cho đến hết năm 2015 CN có 52 cán bộ nhân viên (trong

đó có 8 nhân sự dự trữ) Trong những năm qua, tập thể cán bộ nhân viên CN Hà Tĩnh đã cố gắng, nỗ lực hết sức trong việc hòa nhập thị trường, cạnh tranh với các Ngân hàng lâu năm trên địa bàn và đã đạt được nhiều kết quả khả quan Với đặc điểm là một CN mới thành lập, chỉ có 1 trụ sở chính chưa có mạng lưới CN nhỏ cho nên thị phần cho vay trên địa bàn còn thấp, chưa tạo được chỗ đứng vững chắc trong niềm tin của người dân Tuy nhiên, nếu mạng lưới được mở rộng, nhân sự được chuẩn bị sẵn sàng, cùng với uy tín của thương hiệu Sacombank trên thị trường cho thấy tiềm năng và khả năng chiếm lĩnh thị trường của CN là rất lớn

Qua quá trình phân tích, tác giả đã nhận thấy: Trong giai đoạn 2013 – 2015, Sacombank – CN Hà Tĩnh mới đi vào hoạt động được 4 năm, do đó còn có nhiều khó khăn trong việc thực hiện các hoạt động nói chung và hoạt động CVTD nói riêng Tuy nhiên, thông qua đánh giá về doanh số CVTD, tốc độ tăng trưởng dư nợ, hình thức CVTD, nợ quá hạn tại CN trong giai đoạn 2013- 2015, có thể thấy CN triển khai hoạt động CVTD và phát triển hoạt động CVTD là một chính sách hoàn toàn hợp lý Thực tế, hoạt độngCVTD của Sacombank – CN Hà Tĩnh giai đoạn này

đã cho thấy nhiều kết quả đáng ghi nhận

Thứ nhất, Quy mô hoạt động CVTD ngày càng tăng Kể từ khi bắt đầu đi vào hoạt động cho tới nay, quy mô của hoạt động CVTD của CN không ngừng tăng lên qua các năm, điều này được thể hiện trong các bảng biểu về dư nợ cho vay, tốc độ

tăng trưởng dư nợ trong 3 năm (từ 2013- 2015)

Thứ hai, Dư nợ CVTD tăng qua các năm Từ bảng 2.5 Tốc độ tăng trưởng

dư nợ CVTD cho thấy hoạt động CVTD không chỉ tiếm tỷ trọng cao mà còn có sự tăng trưởng qua các năm Năm 2013 tỷ trọng này chỉ đạt 29,5%, đến năm 2014 là 33% và đến năm 2015 là 38% Điều này cho thấy hoạt động CVTD vẫn luôn được chú trọng và đạt hiệu quả cao qua các năm

Thứ ba, Chất lượng hoạt động CVTD ngày càng được nâng cao Từ Bảng

Trang 5

2.8: Tình hình nợ quá hạn CVTD tại CN Hà Tĩnh năm 2013-2015, ta thấy dư nợ CVTD liên tục tăng qua các năm, nợ trong hạn chiếm tỷ trọng cao nhất, nợ quá hạn luôn chiếm phần nhỏ trong dư nợ CVTD Dư nợ quá hạn tăng nhưng tỷ lệ nợ quá hạn có xu hướng giảm qua các năm Năm 2013, tỷ lệ nợ quá hạn là 1,93% trong dư

nợ cho vay nhưng giảm còn 1,49% năm 2014 và xuống 1,12 năm 2015 Mặc dù nợ quá hạn vẫn là con số nhỏ trong tổng dư nợ nhưng điều đó cũng cần chú ý bởi nó ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ của Ngân hàng

Thứ tư, Số lượng khách hàng ngày càng gia tăng Số lượng khách hàng ngày càng gia tăng do CN đã áp dụng các chính sách cho vay linh hoạt, ngoài ra hoạt động tiếp thị và quảng báo hình ảnh của Ngân hàng cũng làm tăng số lượng khách hàng đến với Ngân hàng Ngoài ra theo bảng 2.4 Tình hình tăng trưởng khách hàng năm 2013- 2015 thì ta thấy số lượng khách hàng đến giao dịch tại CN tăng mạnh qua các năm.Năm 2013 số lượng khách hàng đến CN giao dịch là 599 khách hàng nhưng đến năm 2014 đã đạt 997 khách hàng và tăng lên 1207 khách hàng vào năm

2015

Bên cạnh các kết quả đã đạt được, thực trạng CVTD tại Sacombank – CN Hà Tĩnh cũng đã bộc lộ một số hạn chế cần khắc phục

Trước hết, dư nợ CVTD vẫn còn thấp chưa tương xứng với tiềm năng của Chi nhánh cũng như thị trường Mặc dù CVTD trong những năm vừa qua đã phát triển nhanh chóng, tuy nhiên nếu đem so sánh với dư nợ của cả Ngân hàng thì dư nợ CVTD của CN vẫn ở mức rất thấp Điều này cho thấy việc phát triển của CVTD chưa tương xứng với tiềm năng của một CN nằm ở trung tâm thành phố, nơi mà người dân có nhu cầu tiêu dùng khá cao

Thứ hai, cơ chế CVTD còn khá khắt khe, khách hàng khó tiếp cận được nguồn vốn vay tiêu dùng trước những thủ tục, điều khoản hồ sơ nghiêm nghặt Các quy định về định giá TSĐB và tỷ lệ cho vay so với giá trị TSĐB tại Sacombank thường thấp hơn các NHTM khác, đặc biệt là lĩnh vực cho vay BĐS, trong khi CVTD BĐS là sản phẩm trọng yếu chiếm tới khoảng 55% dư nợ CVTD Các khoản cho vay chứng minh tài chính với thủ tục khá khắt khe: TSĐB cho khoản vay phải

Trang 6

là số dư tài khoản tiền gửi có kỳ hạn, sổ tiết kiệm, hoặc giấy tờ có giá được hình thành từ chính vốn vay của Ngân hàng Đồng nghĩa với việc người vay đã lấy tiền đảm bảo cho khoản vay của mình Trong khi thực tế nếu khách hàng đã có tiền tiết kiệm, tiền gửi thì ít ai nghĩ đến việc vay Ngân hàng

Thứ ba, Chính sách TSĐB chưa linh hoạt Hầu như các khoản CVTD đều cần có TSĐB, còn đối với những khoản vay tín chấp thì đa số chỉ dành cho cán bộ nhân viên của Ngân hàng, các khoản vay tiêu dùng không cần TSĐB như vay chứng minh năng lực tài chính thì chiếm một tỷ lệ rất thấp trong tổng dư nợ Điều này chứng tỏ Ngân hàng còn quá coi trọng vấn đề TSĐB trong khi yếu tố quan trọng nhất cần xét đến trong quá trình thẩm định khoản vay là phướng án và nguồn trả nợ Chính điều này làm cho sức cạnh tranh của Ngân hàng bị giảm sút, việc thu hút khách hàng sẽ khó khăn hơn

Thứ tư, số lượng sản phẩm CVTD còn quá ít, nghèo nàn về chủng loại sản phẩm, chưa xây dựng được thế mạnh riêng của Ngân hàng trong mỗi sản phẩm Thực tế Chi nhánh mới chỉ có một số loại hình CVTD bao gồm: Cho vay chuyển nhượng sữa chữa BĐS, cho vay mua xe ôtô, cho vay CBNV và CVTD khác Một số loại hình CVTD như cho vay du học, cho vay xuất khẩu lao động, chưa được triển khai tại Chi nhánh Trong khi nhu cầu của khách hàng đối với những sản phẩm này khá cao và còn nhiều tiềm năng để khai thác

Nguyên nhân dẫn đến các vấn đề còn hạn chế nói trên xuất phát từ cả phía Ngân hàng, từ phía khách hàng và từ phía môi trường cạnh tranh

Từ phía Ngân hàng, trước hết chính sách tín dụng của Ngân hàng yêu cầu đa

số các sản phẩm CVTD phải có TSĐB, do đó đã bỏ qua một thị phần khách hàng có khả năng và thiện chí trả nợ nhưng lại không có TSĐB Ngoài ra, CN Hà Tĩnh không có phòng thẩm định có giá trị tài sản nên tự chuyên viên khách hàng sẽ thực hiện việc định giá TSĐB, tự thẩm định theo kinh nghiệm, chưa có trình độ chuyên môn định giá tài sản sâu Thứ hai, nguồn thông tin về khách hàng mà chuyên viên khách hàng thu nhập được chủ yếu là từ khách hàng cung cấp, thông tin mang tính một chiều Thứ ba, số lượng nhân sự tín dụng rất ít lại hay bị biến động, một cán bộ

Trang 7

phải giải quyết quá nhiều khoản vay dẫn tới chất lượng thẩm định từng khoản vay

có thể không cao.Thứ tư, riêng về vấn đề cho vay du học, Ngân hàng vẫn chưa thực

sự thu hút được số lượng lớn khách hàng tới vay vốn do nếu muốn vay vốn tại Ngân hàng để đi du học thì bắt buộc phải thực hiện việc chuyển tiền qua Ngân hàng Điều này gây khó khăn cho khách hàng bởi nhiều người đã có tài khoản ở Ngân hàng khác hoặc chuyển thực hiện việc chuyển tiền ở nơi khác không muốn phải chuyển tiền qua Sacombank mà chỉ muốn tới vay tiền mà thôi Thứ năm, hoạt động Marketing Ngân hàng chưa phát triển Phương thức tiếp cận khách hàng của Chi nhánh còn đơn điệu chủ yếu là tiếp xúc trực tiếp với khách hàng Thứ sáu, công nghệ hỗ trợ hoạt động CVTD còn hạn chế

Từ phía khách hàng, người tiêu dùng chưa thực sự hiểu biết về hình thức CVTD của Ngân hàng, họ vẫn còn tâm lý nghi ngại rằng sẽ phải đối mặt với các thủ tục phức tạp, rườm rà khi vay Ngân hàng Bên cạnh đó, các quy định về điều kiện vay vốn ngày càng chặt chẽ đã làm cho nhiều khách hàng không đáp ứng được điều kiện về năng lực tài chính, TSĐB cho khoản vay Ngoài ra, một số khách hàng có thu nhập chưa ổn định, khả năng trả nợ có thể không đảm bảo trong suốt thời gian trả nợ

Về môi trường cạnh tranh, hiện nay, phát triển CVTD đang trở thành một trong những chiến lược chính của các TCTD trên địa bàn Hà Tĩnh, điển hình là các Ngân hàng như Agribank, BIDV, Vietcombank, Vietinbank,… Sự cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt buộc các Ngân hàng ngày càng chú trọng đến thị trường đầy tiềm năng này Các Ngân hàng ngày càng chú trọng đến những đối tượng khách hàng cá nhân, hộ gia đình… nhằm thỏa mãn nhu cầu vay vốn của họ.Với áp lực cạnh tranh gay gắt, thị phần CVTD bị chia nhỏ, cho nên thị phần của những Ngân hàng mới gia nhập trên địa bàn như Sacombank chiếm tỷ trọng khá nhỏ

Trong chương 3, tác giả đã căn cứ vào các kết quả phân tích đánh giá ở

chương 2, định hướng phát triểnCVTD tại Sacombank – CN Hà Tĩnh đến năm 2020

để đề xuất một số giải pháp phát triển CVTD tại Sacombank – CN Hà Tĩnhtrong giai đoạn 2016 – 2020 bao gồm: Xây dựng chính sách thu hút khách hàng hiệu quả,

Trang 8

Nâng cao chất lượng quản trị rủi ro và giảm nợ xấu CVTD, Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ CVTD, Hoàn thiện cơ chế cho vay, Nâng cao chất lượng thẩm định đối với các khoản CVTD, Điều chỉnh lãi suất linh hoạt, tăng khả năng cạnh tranh, Tăng cường công tác Marketing

Cuối cùng, luận văn đưa ra một số đề xuất, kiến nghị đối với Sacombank, Ngân hàng nhà nước, Chính phủ và các cơ quan Nhà nước để có thể tạo thuận lợi cho việc phát triển CVTD của Sacombank – CN Hà Tĩnh trong thời gian tới

Có thể khẳng định lại, trong những năm gần đây, phát triển CVTD là hướng

đi hiệu quả của các NHTM, giúp cho NHTM phân tán rủi ro, đa dạng hóa sản phẩm, đồng thời góp phần đáp ứng nhu cầu chi tiêu tiêu dùng của người dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội đất nước Bởi vậy, trong chiến lược phát triển của Sacombank - CN Hà Tĩnh, công tác CVTD cần được đẩy mạnh, mở rộng quy mô và nâng cao hơn nữa về chất lượng nhằm nâng cao vị thế của CN trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh Với mục tiêu đó, tác giả hi vọng rằng đề tài “Phát triển CVTD tại Sacombank – CN Hà Tĩnh” có thể là một nguồn tài liệu hữu ích để Ban lãnh đạo chi nhánh có thể tham khảo và triển khai các giải pháp phát triển trong thời gian tới Do hạn chế

về thời gian, về năng lực nghiên cứu và sự hiểu biết đối với hoạt độngCVTD, đề tài không tránh khỏi một số thiếu sót Kính mong nhận được sự góp ý các nhà nghiên cứu, các thầy giáo, cô giáo để luận văn được hoàn thiện hơn và có giá trị thực tế trong việc phát triển CVTD tại Sacombank – CN Hà Tĩnh nói riêng và của các NHTM tại Việt Nam nói chung

Ngày đăng: 16/01/2021, 01:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w