Cụ thể, khi nền kinh tế ở trong môi trường có lạm phát cao thì hiệu quả của các chính sách ổn định tổng cầu sẽ thấp đi, phần lớn sự gia tăng của tổng cầu danh nghĩa sẽ được chuyển [r]
Trang 1MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH VẼ
TÓM TẮT LUẬN VĂN II LỜI GIỚI THIỆU ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED CHƯƠNG 1 CÁC LÝ THUYẾT VỀ CHU KÌ ERROR! BOOKMARK NOT
DEFINED
KINH TẾ VÀ ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ ERROR! BOOKMARK NOT
DEFINED
1.1 C ÁC LÝ THUYếT Về CHU KÌ KINH Tế ( NGUYÊN NHÂN GÂY RA CHU KÌ KINH Tế – BUSINESS CYCLE ) ERROR!BOOKMARK NOT DEFINED
1.1.1 Chu kì kinh tế Error! Bookmark not defined 1.1.2 Các lý thuyết về chu kì kinh tế Error! Bookmark not defined 1.1.3 Đánh giá ổn định kinh tế vĩ mô Error! Bookmark not defined 1.2 C HÍNH SÁCH ổN ĐịNH KINH Tế VĨ MÔ ( STABILIZATION POLICY ) ERROR!
BOOKMARK NOT DEFINED
1.2.1 Chính sách tài khóa và các công cụ của chính sách tài khóa Error! Bookmark not defined.
1.2.2 Chính sách tiền tệ và các công cụ của chính sách tiền tệ Error! Bookmark not defined.
1.2.3 Đánh giá hiệu quả của chính sách ổn định kinh tế vĩ mô và cảnh báo
bất ổn kinh tế vĩ mô Error! Bookmark not defined 1.3 T ổNG QUAN TÀI LIệU ERROR!BOOKMARK NOT DEFINED
Trang 2CHƯƠNG 2 BIẾN ĐỘNG KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011 – 2016 ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED 2.1 T ĂNG TRƯởNG KINH Tế V IệT N AM GIAI ĐOạN 2011 - 2016 ERROR!
BOOKMARK NOT DEFINED
2.2 L ạM PHÁT ở V IệT N AM GIAI ĐOạN 2011 – 2016 ERROR!BOOKMARK NOT DEFINED
2.3 C HÍNH SÁCH ổN ĐịNH VĨ MÔ ở V IệT N AM GIAI ĐOạN 2011 – 2016 ERROR!
BOOKMARK NOT DEFINED
2.3.1 Chính sách tài khóa ở Việt Nam giai đoạn 2011 – 2016 Error! Bookmark not defined.
2.3.2 Chính sách tiền tệ ở Việt Nam giai đoạn 2011 – 2016 Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT VÀ MỨC ĐỘ ỔN ĐỊNH CỦA TỔNG CẦU TỚI HIỆU QUẢ CỦA CÁC CHÍNH SÁCH ỔN ĐỊNH KINH TẾ ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED 3.1 M Ô HÌNH NGHIÊN CứU ERROR!BOOKMARK NOT DEFINED
3.2 S ố LIệU Sử DụNG ERROR!BOOKMARK NOT DEFINED
3.3 Ư ớC LƯợNG VÀ KếT QUả ERROR!BOOKMARK NOT DEFINED
3.4 K ếT LUậN ERROR!BOOKMARK NOT DEFINED
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN CHUNG ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED TÀI LIỆU THAM KHẢO ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED PHỤ LỤC ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED.
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Chương 1: Các lý thuyết về chu kỳ kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô
Chu kỳ kinh tế hay chu kỳ kinh doanh được định nghĩa là dao động của các hoạt động kinh tế trong nước trong một khoảng thời gian nhất định hay ở Việt Nam chính là sự thay đổi, biến động của giá trị tổng sản phẩm nội địa – GDP
Trang 3GDP chính là một trong những thước đo, phản ánh lại các hoạt động kinh tế của một nước Được tính bằng tổng giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất trên lãnh thổ của một quốc gia trong một thời kì nhất định GDP thường được các quốc gia đo bằng hai loại giá, một là GDP đo theo giá hiện hành (còn gọi là GDP danh nghĩa) và GDP đo theo giá cố định (hay giá
so sánh và còn gọi là GDP thực tế), sự khác nhau giữa các loại GDP này nằm ở giá cả Ngoài ra, một số quốc gia tiên tiến hiện còn đưa thêm một dạng thước đo nữa vào thống kê GDP là thước đo chain-weighted GDP
Được tạo nên bởi những biến động không có quy luật, chưa có các chu kì kinh tế nào mà hoàn toàn trùng lặp hoặc có những biến động như nhau, điều này khiến cho chu kì kinh tế rất khó để dự báo Hiện nay vẫn chưa có công thức xác định hay một phương pháp dự báo nào có thể đưa ra được các phán đoán chính xác về thời gian, phương hướng xảy ra các biến động của chu kì kinh tế Việc ở trong thế bị động đối với các biến động này, khiến cho hầu hết các chủ thể trong nền kinh tế vĩ mô, ở cả khu vực tư và khu vực công đều gặp nhiều khó khăn, hạn chế, nhất là khi nền kinh tế rơi vào thời kì suy thoái Lúc này, khi nền kinh tế rơi vào thời kì suy thoái, tổng sản lượng sản xuất trong nước sẽ sụt giảm nhanh chóng, nhiều người không có việc làm, tỷ lệ thất nghiệp trên cả nước tăng lên, tất
cả các thị trường từ thị trường hàng hóa, bất động sản, dịch vụ… cho đến thị trường vốn, ngoại tệ… đều thu hẹp lại Điều này nnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế vĩ mô, xã hội theo chiều hướng xấu
Mỗi một trường phái kinh tế riêng đều có những cách nhận định và đối phó riêng đối với chu kì kinh tế Lý thuyết cổ điển mới được dẫn dắt bởi mô hình thông tin không hoàn hảo của Lucas (1973) Mô hình không tin không hoàn hảo Lucas là một mô hình thể hiện mối quan hệ giữa cung tiền, giá cả và những biến động về sản lượng, được xét trong một nền kinh tế đơn giản cùng với giả thuyết
về kỳ vọng hợp lý Mô hình này cũng đưa ra một cách giải thích khác từ đường cong Phillips trong mối quan hệ giữa thất nghiệp và lạm phát
Trang 4Về trường phái Keynes mới, một nghiên cứu năm 1988 của Ball, Mankiw và Romer gọi tắt là BMR (1988) đã xây dựng một mô hình hồi quy động theo trường phái Keynes mới, trong mô hình này thì các doanh nghiệp và cá thể hoàn toàn có thể kiểm soát được giá cả sản phẩm của chính họ trên thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, lý thuyết này được xây dựng nhằm thay thế cho lý thuyết của Lucas Chi phí điều chỉnh giá (hay còn gọi là chi phí thực đơn) đã khiến cho các doanh nghiệp và cá nhân tham gia thị trường chỉ có thể thực hiện việc thay đổi giá bán của họ với những khoảng thời gian giãn cách nhất định chứ không thể thực hiện điều này liên tục Tốc độ điều chỉnh giá được xử lý nội sinh, tức là
nó sẽ phụ thuộc vào tần suất điều chỉnh giá của từng doanh nghiệp và cá nhân riêng lẻ, tần suất sẽ được xác định dựa trên nguyên tắc tối đa hóa lợi nhận Chính khoảng thời gian giãn cách giữa các lần thay đổi giá sẽ làm cho các cú sốc tổng cầu danh nghĩa sẽ có hiệu ứng thực đối với sản lượng Một trong những dự đoán chính của mô hình này đó là tác động thực đến sản lượng của các cú sốc tổng cầu
sẽ phụ thuộc vào lạm phát trung bình, khi lạm phát trung bình lớn thì tác động của các cú sốc tổng cầu sẽ nhỏ Hiệu ứng này sẽ phụ thuộc vào khoảng thời gian giãn cách giữa các lần thay đổi giá, lạm phát trung bình cao sẽ làm cho các doanh nghiệp và cá nhân tham giá tren thị trường thực hiện việc điều chính giá
và tiền lương thường xuyên hơn và do vậy làm giảm đi hiệu quả của các cú sốc cầu hay các chính sách kích cầu của chính phủ
Ngoài ra còn có những trường phái kinh tế học khác, như trường phái kinh tế học trong cung có các lý thuyết đi ngược lại so với trường phải Keynes, các nhà kinh tế học này cho rằng giá cả trên thị trường là linh hoạt và giá cả sẽ dẫn dắt nền kinh tế hoạt động tại mức sản lượng tiềm năng của nền kinh tế mà không cần
sự quản lý của chính phủ Những tác động, can thiệp của chính phủ vào nhằm giảm sự biến động của thị trường sẽ gây ra chu kỳ kinh tế và làm tồi tệ thêm chứ không phải làm tình hình thị trường tốt lên Hay như Lý thuyết tiền tệ: cho rằng chu kì kinh tế là do sự mở rộng hay thắt chặt của chính sách tiền tệ và tín dụng
Trang 5Mô hình gia tốc - số nhân: do Paul Samuelson đưa ra, mô hình này cho rằng các biến động ngoại sinh được lan truyền theo cơ chế số nhân kết hợp với sự gia tốc trong đầu tư tạo ra những dao động có tính chu kì của GDP Lý thuyết chính trị: quy cho các chính trị gia là nguyên nhân gây ra chu kì kinh tế vì họ hướng các chính sách tài khóa và tiền tệ để có thể thắng cử Lý thuyết chu kì kinh doanh cân bằng: phát biểu rằng những nhận thức sai lầm về sự vận động của giá cả, tiền lương đã khiến cho cung về lao động quá nhiều hoặc quá ít dẫn đến các chu kì của sản lượng và việc làm Lý thuyết chu kì kinh doanh thực tế: lập luận rằng những biến động tích cực hay tiêu cực về năng suất lao động trong một khu vực
có thể lan tỏa trong nền kinh tế và gây ra những dao động có tính chu kì Tuy vậy, cho dù mỗi lý thuyết trên đây đều có tính hiện thực, không có lý thuyết nào
tỏ ra đúng đắn ở mọi lúc, mọi nơi
Phần tiếp theo của chương một đưa ra những lý thuyết về Chinh sách của Chính phủ, gồm có Chính sách tài khóa và Chính sách tiền tệ
Chính sách tài khóa (fical policy) là một hệ thống các chính sách của nhà nước được các cơ quan lập pháp, hành pháp hoạch định và thực hiện với hai công cụ chính là thu và chi ngân sách nhà nước cho các hàng hóa và dịch vụ công cộng, cho thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước nhằm đạt được những mục tiêu về phát triển kinh tế - xã hội trong một giai đoạn nhất định Chính sách tài khoá là một công cụ quan trọng giúp Nhà Nước thực hiện mục tiêu ổn định kinh
tế vĩ mô Chính sách tài khoá có thể ảnh hưởng tới tiết kiệm, đầu tư, tăng trưởng kinh tế trong dài hạn Còn trong ngắn hạn chính sách tài khoá chủ yếu ảnh hưởng tới tổng cầu về hàng hoá và dịch vụ Có thể thấy, hai công cụ chính của chính sách tài khóa là chi tiêu của chính phủ và thu ngân sách nhà nước
Chính sách tiền tệ là chính sách kinh tế vĩ mô trong đó Ngân hàng Trung ương thông qua các công cụ của mình thực hiện việc kiểm soát và điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông nhằm đảm bảo sự ổn định giá trị đồng tiền đồng thời thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và đảm bảo công ăn việc làm Trong hệ thống
Trang 6các công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước thì chính sách tiền tệ là một trong những chính sách quan trọng nhất vì nó tác động trực tiếp vào lĩnh vực lưu thông tiền tệ Song nó cũng có quan hệ chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác như chính sách tài khoá, chính sách thu nhập, chính sách kinh tế đối ngoại Đối với Ngân hàng trung ương, việc hoạch định và thực thi chính sách chính sách tiền tệ là hoạt động cơ bản nhất, mọi hoạt động của nó đều nhằm làm cho chính sách tiền tệ quốc gia được thực hiện có hiệu quả hơn
Chương 2: Biến động kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011 – 2016
Phần này trình bày về bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam với các chỉ tiêu chính được đề cập đến trong bài nghiên cứu đó là: tăng trưởng, lạm phát, chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ
Tăng trưởng giai đoạn 2010 – 2015 có xu hướng phục hồi nhưng còn chậm, vẫn có biểu hiện trì trệ đối với khu vực kinh tế trong nước Xét chung toàn nền kinh tế, mặc dù đã có những dự báo tích cực cho năm 2015 nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn chậm hơn so với mục tiêu đặt ra và chậm hơn nhiều so với mức trung bình của giai đoạn 2006 – 2010 Từ năm 2014, tăng trưởng có xu hướng nhanh hơn là do sự hỗ trợ của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Trong khi đó các ngành kinh tế đặc trưng nội địa và các ngành đóng góp cao vào tăng trưởng kinh tế đều có xu hướng không tích cực, như: nông nghiệp, ngư nghiệp, ngành công nghiệp chế biến chế tạo, ngành thương mại bán buôn bán lẻ hàng hóa đều có tốc độ tăng trưởng giảm dần, ngành xây dựng chỉ đạt 3,5% giai đoạn
2011 – 2015 so với 8,85% của giai đoạn 2006 – 2010 Chất lượng tăng trưởng rất thấp so với yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng Trong giai đoạn 2011 –
2015, đóng góp của việc cải tiến chất lượng của lao động, vốn và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực (TFP) vào tăng trưởng có cao hơn giai đoạn 2006 –
2010, nhưng đây không phải do sự phát triển vượt trội hơn của yếu tố TFP mà là
do yếu tố vốn có sự suy giảm về quy mô ở mức cần thiết của nó để duy trì một
Trang 7tốc độ tăng trưởng theo dự kiến Trong cấu trúc tăng trưởng, yếu tố TFP chiếm khoảng 25% là quá thấp so với mục tiêu đặt ra (30 – 32% giai đoạn 2011 – 2015)
và thấp hơn nhiều so với các nước khác trong khu vực Các ngành sản phẩm có giá trị gia tăng cao và sử dụng công nghệ hiện đại có tốc độ tăng trưởng giảm sút hoặc có đóng góp vào tăng trưởng rất thấp Tăng trưởng giai đoạn 2011 – 2015 vẫn chủ yếu dựa vào những ngành kinh tế mang tính truyền thống với trình độ công nghệ không cao Sang năm 2016 là năm mà tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế của Việt Nam có dấu hiệu suy giảm, theo thống kê của Tổng cục thống
kê thì tăng trưởng kinh tế nửa đầu năm 2016 chỉ đạt 5,55% so với cùng kỳ của năm trước, tuy nửa cuối năm đạt mức tăng trưởng khá cao nhưng cả nền kinh tế chung chỉ đạt mức 6,2% cả năm, con số này là thấp hơn so với con số 6,68% tăng trưởng kinh tế của năm 2015 Tuy cũng không đạt được mục tiêu tăng trưởng 6,7% theo như Chính phủ đặt ra nhưng cũng có thể coi đây là một kết quả chấp nhận được Trong khi nền kinh tế toàn cầu gặp nhiều bất lợi, các yếu tố nội địa cũng không thuận lợi như môi trường, thiên tai Ngoài ra, mức tăng trưởng này cũng vượt qua mức mà Ngân hàng Thế giới dự đoán là 6%
Tỷ lệ lạm phát sau khi tăng cao và biến động mạnh trong giai đoạn 2005 –
2010, tuy nhiên đến giai đoạn 2011 – 2015 thì lạm phát kiềm chế ở mức thấp (ngoại trừ năm 2011) Chu kỳ lạm phát ba năm (hai năm tăng, một năm giảm) kéo dài trong giai đoạn trước đây dường như đã được xóa bỏ, gợi ý rằng chu kỳ lạm phát tăng cao có thể đã chấm dứt và Việt Nam có thể đi vào một thời kỳ có mức tăng lạm phát ổn định hơn Với mục tiêu điều hành các chính sách thận trọng nhằm ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ hệ thống doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng khó khăn, chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước giai đoạn vừa qua đã góp phần duy trì đà tăng trưởng kinh tế nhất định trong điều kiện vĩ mô nhiều bất ổn Dù chịu áp lực mở rộng tín dụng từ nhiều phía để thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam thoát khỏi suy thoái, Ngân hàng Nhà nước vẫn kiên trì định hướng tăng trưởng tín dụng thận trọng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh
Trang 8tế theo nguyên tắc bảo đảm chất lượng tín dụng, hạn chế phân bổ vốn vào khu vực không khuyến khích có nguy cơ gây ra lạm phát cao và tăng trưởng thiếu bền vững trong tương lai Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng thương mại chuyển dịch cơ cấu tín dụng theo hướng
ưu tiên tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, sản xuất hàng xuất khẩu…; điều chỉnh giảm lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với năm nhóm lĩnh vực ưu tiên; kiểm soát tỷ trọng dư nợ cho vay đối với các lĩnh vực không khuyến khích Nhờ vậy, tăng trưởng kinh tế tuy không phục hồi mạnh mẽ nhưng đã được cải thiện dần qua thời gian Diễn biến các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô và lạm phát, tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn vừa qua đã cho thấy mục tiêu tăng trưởng không phải khi nào cũng có thể đánh đổi bằng mức lạm phát cao Bằng chứng là giai đoạn 2008 – 2010, tỷ lệ lạm phát cao song tốc
độ tăng trưởng kinh tế vẫn thường xuyên không đạt mục tiêu đề ra Ngược lại trong các năm 2014, 2015, sự ổn định giá cả do CSTT mang lại lại có tác động lớn đối với ổn định kinh tế vĩ mô, do đó, thúc đầy phục hồi kinh tế Năm 2016 được coi là thành công trong việc kiểm soát lạm phát trong điều kiện giá một số mặt hàng thiết yếu tăng trở lại nhưng vẫn tạo điều kiện để điều chỉnh giá
2016
so với năm 2015 tăng 2,66%; CPI tháng 12 năm 2016 tăng 4,74% so tháng 12 năm 2015, thấp hơn so với mục tiêu 5% của Quốc hội đặt ra
Chương 3 Mô hình tác động của lạm phát và mức độ ổn định của tổng cầu tới hiệu quả của các chính sách ổn định kinh tế
Ở phần này tôi sẽ sử dụng phương pháp thực nghiệm của BMR (1988) áp dụng cho chuỗi thời gian để phân tích cho Việt Nam trong giai đoạn 2004Q1 – 2017Q1 Bài nghiên cứu này kế thừa những nghiên cứu trước của TS Phạm Thế Anh có sử dụng Phương pháp thực nghiệm của BMR (1998) Mô hình lý thuyết
Trang 9này có dạng:
Với đặc tính số liệu được thống
kê theo quý tại Việt Nam, bài nghiên cứu sẽ tính toán lạm phát trung bình dựa trên phương pháp trung bình trượt trong 5 quý và lạm phát trung bình sẽ là trung bình của cả lạm phát trong quá khứ (2 quý trước), hiện tại và tương lai (2 quý tiếp theo) để có thể phán ảnh được ảnh hưởng của lạm phát trong quá khứ và lạm phát kì vọng Biến độ lệch chuẩn của tổng cầu cũng sẽ được tính toán tương tự trong năm quý một lần Lý thuyết của trường phái Keynes mới có thể được kiểm định theo số liệu thực tế tại Việt Nam dựa vào việc khảo sát dấu và ý nghĩa thống kê của các tham số ước lượng, các kiểm định sau hồi quy cũng được thực hiện để đảm bảo tính hợp lý của mô hình
Trong bài, tôi sử dụng số liệu được cung cấp bởi Tổng cục Thống kê về Tổng sản phẩm quốc nội Việt Nam, đó là GDP thực tế và GDP danh nghĩa Các chuỗi số liệu này lấy trên trang dữ liệu của Tổng cục Thống kê, từ thời điểm quý
1 năm 2004 và có tần suất theo quý
Từ kết quả ước lượng cho thấy tham số phản ánh tác động của sự tương tác giữa tốc độ tăng trưởng của tổng cầu danh nghĩa với lạm phát trung bình có giá trị (< 0), giả thuyết bị bác bỏ với mức ý nghĩa 1%
(Giá trị p = 0.0002) Kết quả từ mô hình ước lượng đã cho thấy sự ủng hộ với lý
thuyết của trường phái Keynes cho rằng: lạm phát cao sẽ khiến các doanh nghiệp điều chỉnh giá và tiền lương thường xuyên hơn hay nói cách khác là khoảng thời gian giữa các lần liều chỉnh giá của các doanh nghiệp sẽ ngắn hơn Do vậy hiệu quả của các cú sốc cầu đối với GDP thực tế của nền kinh tế sẽ giảm đi
Tham số phản ánh mối quan hệ giữa hiệu ứng thực của các cú sốc tổng cầu với những biến động của tổng cầu có giá trị , tuy nhiên lại
không có ý nghĩa về mặt thống kê (Giá trị p = 0.4403) Kết quả cho thấy rằng tại
Việt Nam thì việc tổng cầu danh nghĩa biến động mạnh hay yếu cũng không có ảnh hưởng tới hiệu quả của các cú sốc cầu đối với GDP thực tế
Trang 10Ngoài ra, ta cũng xét các tham số và tham số thể hiện mối quan hệ phi tuyến tính giữa hiệu quả của chính sách điều tiết tổng cầu với từng biến lạm phát trung bình và biến động của tổng cầu Giá trị mang dấu dương đạt giá trị là
và có ý nghĩa thống kê ở mức 1% Giá trị nhưng không có ý nghĩa thống kê Như vậy, chỉ có lạm phát trung bình là có mối quan hệ phi tuyến với hiệu quả của chính sách điều tiết tổng cầu, dạng mô hình của mối quan hệ này có hình chữ U Điều này hàm ý rằng lạm phát trung bình có tác động xấu đến hiệu quả của các cú sốc cầu, tuy nhiên tác động xấu này giảm dần khi lạm phát trung bình tăng lên, tương tự đối với biến độ lệch chuẩn của tổng cầu
Ở mối quan hệ phi tuyến tính giữa lạm phát trung bình và GDP thực tế, hàm bậc hai này có điểm cực tiểu đạt giá trị là lớn hơn đáng kể so với giá trị lạm phát trung bình của cả giai đoạn nghiên cứu 2004 – 2017(Q1) là , ngoài ra hiện tại cũng chưa có lý thuyết kinh tế nào ủng hộ mối quan hệ ngược chiều khi lạm phát tăng lại làm tăng hiệu quả của các cú sốc tổng cầu Vì vậy, mối quan hệ phi tuyến tính giữa lạm phát trung bình và GDP thực tế này không phù hợp với tình hình kinh tế Việt Nam giai đoạn hiện nay, kết quả này có thể đến từ việc sử dụng CPI thay cho chỉ số điều chỉnh GDP
Biến giá dầu được đưa vào mô hình đã chứng minh rằng giá dầu có ảnh hưởng đến GDP thực tế khi tham số đạt giá trị và có ý nghĩa
thống kê ở mức ý nghĩa 1% (Giá trị p = 0.0004) Như vậy là giá dầu có tác động
dương đến mức GDP thực tế, hay nói cách khác khi giá dầu tăng lên sẽ kéo theo tăng trưởng GDP Điều này cũng phù hợp với tình trạng hiện tại, khi tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc khá nhiều vào mức độ tăng trưởng của ngành công nghiệp khai khoáng
Chương 4: Kết luận chung