1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Nghiên cứu kỹ thuận thu thập thông tin thống kê nhằm nâng cao chất lượng số liệu điều tra các chủ đề nhạy cảm ở Việt Nam

24 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sử dụng phương pháp điều tra theo mẫu cố định để đánh giá tác động của kỹ thuật thu thập thông tin điều tra vì: i) Thử nghiệm này lồng ghép trong một cuộc điều tra “thật” phục[r]

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu

Thông tin thống kê đóng một vai trò quan trọng trong xây dựng chính sách

và quản lý, điều hành các chương trình kế hoạch phát triển kinh tế xã hội Cùng với

sự phát triển của xã hội, nhu cầu thông tin thống kê ngày càng được yêu cầu cao hơn cả về số lượng và chất lượng Trong đó số liệu thống kê, sử dụng để hình thành thông tin thống kê, cũng được yêu cầu cung cấp với chất lượng tốt hơn Tuy nhiên, việc thu thập một số thông tin có tính chất cá nhân mang tính riêng tư hoặc liên quan đến hình ảnh cá nhân trong xã hội, liên quan đến pháp luật, gặp nhiều trở ngại trong việc có được thông tin chính xác về tình hình thực tế Lý do là những trả lời thường e ngại hoặc lo sợ người khác sẽ biết được những vấn đề mang tính riêng

tư, cá nhân của họ và sẽ ảnh hưởng đến hình ảnh cũng như những bất lợi khác họ

có thể sẽ gặp phải Điều này dẫn tới xu hướng che dấu thông tin bằng cách không trả lời/cung cấp thông tin hoặc trả lời không đúng thực tế mà thường trả lời theo mong đợi của xã hội Những thông tin như vậy gọi chung là thông tin nhạy cảm Để hạn chế việc che dấu thông tin nhạy cảm, khuyến khích người có thông tin cung cấp đúng tình hình thực tế, các nhà thiết kế điều tra cần nghiên cứu áp dụng các kỹ thuật thu thập thông tin phù hợp để những người được hỏi sẽ “hợp tác” tốt hơn trong cung cấp thông tin điều tra Tại Việt Nam, nghiên cứu, sử dụng và đánh giá tác động của việc sử dụng các kỹ thuật thu thập thông tin đến chất lượng số liệu về chủ đề nhạy cảm là cần thiết giúp nâng cao chất lượng số liệu điều tra Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một nghiên cứu học thuật nào về chủ đề này đã từng được

thực hiện tại Việt Nam Do vậy, Nghiên cứu kỹ thuật thu thập thông tin thống kê nhằm nâng cao chất lượng số liệu điều tra các chủ đề nhạy cảm ở Việt Nam thực

sự là rất cần thiết, cấp bách và có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn

Về mặt lý luận, nghiên cứu sẽ làm giầu thêm về mối quan hệ giữa kỹ thuật thu thập thông tin với chất lượng số liệu điều tra về chủ đề nhạy cảm nói chung và vấn đề nhạy cảm về HIV/AIDS nói riêng ở Việt Nam Về mặt thực tiễn, kết quả của nghiên cứu sẽ giúp các cơ quan sản xuất thống kê nghiên cứu và áp dụng các kỹ thuật thu thập thông tin phù hợp về chủ đề nhạy cảm nhằm nâng cao chất lượng số liệu điều tra, phản ánh chính xác hơn những vấn đề mang tính nhạy cảm trong xã hội

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của luận án là đề xuất sử dụng kỹ thuật điều tra thu thập thông tin phù hợp giúp nâng cao chất lượng số liệu các cuộc điều tra về chủ đề nhạy cảm ở Việt Nam

3 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu đề ra, nghiên cứu sẽ tập trung trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau đây:

Trang 2

Câu hỏi 1: Sử dụng các kỹ thuật thu thập thông tin khác nhau ảnh

hưởng như thế nào đến cách trả lời câu hỏi điều tra, đến thông tin thu thập được về chủ đề nhạy cảm? Mức độ ảnh hưởng của kỹ thuật thu thập thông tin đến chất lượng số liệu điều tra về chủ đề nhạy cảm như thế nào?

Câu hỏi 2: Sử dụng kỹ thuật thu thập thông tin điều tra nào là tốt hơn

trong điều tra các chủ đề nhạy cảm tại Việt Nam: xét về khía cạnh ảnh hưởng của kỹ thuật thu thập thông tin đến chất lượng số liệu?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các kỹ thuật thu thập thông tin điều tra

và ảnh hưởng của nó đến chất lượng số liệu điều tra về chủ đề nhạy cảm

Phạm vi nghiên cứu là các kỹ thuật thu thập thông tin điều tra về chủ đề nhạy cảm HIV/AIDS lồng ghép trong “Điều tra Kiến thức và hành vi về HIV/AIDS” năm 2013 Đối tượng cung cấp thông tin phục vụ nghiên cứu là những người từ 15 đến 49 tuổi tại thành phố Hà Nội

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu đề ra, nghiên cứu sử dụng các cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu sau:

* Tiếp cận định tính: Phân tích tài liệu sẵn có để thực hiện các tổng quan về sử

dụng các kỹ thuật thu thập thông tin điều tra và đánh giá chất lượng thông tin điều tra; Kế thừa có chọn lọc trong xây dựng, thử nghiệm các kỹ thuật thu thập thông tin trong điều tra về hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV

* Tiếp cận định lượng: Phương pháp thống kê mô tả, so sánh; Ước lượng tham số

tổng thể dựa trên xác suất và thống kê Kiểm định các giả thuyết thống kê trong so sánh ước lượng tham số tổng thể phục vụ đánh giá chất lượng thông tin; Phương pháp phân tích đa nhân tố đánh giá tác động của việc sử dụng các kỹ thuật thu thập thông tin điều tra đối với chất lượng thông tin về hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV sử dụng mô hình hồi quy logistic

6 Đóng góp mới của luận án

Luận án được thực hiện đã mang lại một số đóng góp mới như sau:

(1) Đóng góp cho cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa sử dụng kỹ thuật thu thập thông tin với chất lượng số liệu điều tra về chủ đề nhạy cảm HIV/AIDS ở Việt Nam Các yêu cầu và điều kiện áp dụng các kỹ thuật thu thập thông tin điều tra chủ

đề nhạy cảm phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và trình độ phát triển xã hội hiện tại

ở Việt Nam

Trang 3

(2) Đóng góp vào cơ sở thực tiễn trong việc thiết kế sử dụng các kỹ thuật thu thập thông tin điều tra chủ đề nhạy cảm lồng ghép trong một cuộc điều tra quy mô quốc gia tại Việt Nam, bao gồm:

- Thiết kế và thử nghiệm sử dụng các kỹ thuật thu thập thông tin điều tra chủ

đề nhạy cảm trong một cuộc điều tra “thực” về “Điều tra Kiến thức và hành vi về HIV/AIDS” tại Việt Nam Áp dụng phương pháp điều tra theo mẫu cố định và đánh giá tác động của việc sử dụng các kỹ thuật thu thập tin tới chất lượng số liệu điều tra về chủ đề nhạy cảm

- Ba kỹ thuật thu thập thông tin điều tra chủ đề nhạy cảm về HIV/AIDS đã được sử dụng để thu thập thông tin và đánh giá tác động đến chất lượng số liệu là: phỏng vấn trực tiếp, phỏng vấn tự điền và kỹ thuật trả lời ngẫu nhiên (RRT) Trong

đó, RRT lần đầu tiên thực hiện thử nghiệm trong các điều kiện và hoàn cảnh thực tế của Việt Nam

- Luận án là nghiên cứu đầu tiên đánh giá tác động của việc sử dụng các kỹ thuật thu thập thông tin khác nhau đối với chất lượng số liệu điều tra nhạy cảm về HIV/AIDS, đặc biệt đã lượng hóa mức độ tác động của việc sử dụng các kỹ thuật thu thập thông tin tới chất lượng số liệu Kết quả nghiên cứu có thể suy rộng áp dụng cho các điều tra chủ đề nhạy cảm khác tại Việt Nam

7 Kết cấu của luận án

Luận án gồm 2 Phần và 3 Chương: Phần mở đầu; Chương 1: “Tổng quan nghiên cứu về kỹ thuật thu thập thông tin điều tra chủ đề nhạy cảm”.Chương 2:

“Thiết kế thử nghiệm các kỹ thuật thu thập thông tin chủ đề nhạy cảm về

HIV/AIDS” Chương 3: “Kết quả điều tra, đánh giá tác động của kỹ thuật thu thập thông tin đối với chất lượng số liệu điều tra chủ đề nhạy cảm về HIV/AIDS” Kết luận và khuyến nghị

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ KỸ THUẬT THU THẬP

THÔNG TIN ĐIỀU TRA CHỦ ĐỀ NHẠY CẢM 1.1 Các vấn đề lý luận về kỹ thuật thu thập thông tin điều tra chủ đề nhạy cảm

1.1.1 Một số khái niệm sử dụng trong luận án

Một số thuật ngữ được sử dụng trong luận án là những thuật ngữ đã được sử

dụng thông dụng trong các tài liệu thống kê trên thế giới và Việt Nam như Bảng hỏi câu hỏi điều tra; Thu thập thông tin điều tra; Đánh giá tác động Bên cạnh đó, một

số thuật ngữ được quy định chi tiết hơn trong luận án này, gồm:

Kỹ thuật thu thập thông tin điều tra là cách thức sử dụng bảng câu hỏi để

điều tra viên và đối tượng điều tra “giao tiếp” và “trao đổi” thông tin về vấn đề

nghiên cứu được đề cập trong một “cuộc phỏng vấn” Chủ đề nhạy cảm trong điều

Trang 4

tra thống kê là những vấn đề mang tính riêng tư, điều cấm kỵ hoặc những điều không phù hợp trong giao tiếp/trao đổi hàng ngày mà người có thông tin không muốn nói ra Đó là những điều mà mọi người thường muốn giữ bí mật hoặc lo sợ thông tin cung cấp sẽ bị tiết lộ cho người khác (Tourangeau R và Yan T., 2007) Một đặc điểm chung của thông tin nhạy cảm là người được hỏi thường che dấu thông tin bằng cách không trả lời hoặc nếu có trả lời thì theo mong đợi của xã hội hoặc theo chuẩn mực của xã hội Một số nội dung điều tra thống kê được coi là chủ

đề nhạy cảm như thu nhập, trốn thuế, tham nhũng, bầu cử, bạo lực gia đình, hành vi tình dục, sử dụng ma túy, nạo phá thai… (Tourangeau R và Yan T., 2007; Peter,

S.M.các cộng sự, 2006; Lensvelt-Mulders và các cộng sự, 2005) Hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV là những hành động của con người có thể làm vi rút HIV lây truyền

từ người này sang người khác như: quan hệ tình dục với hơn một người, mại dâm,

tiêm chích ma túy hoặc quan hệ tình dục đồng giới Chất lượng số liệu, hiểu một

cách đơn giản, là số liệu “phù hợp để sử dụng”: ở mức chính xác nhất định để đạt được mục đích điều tra, đáp ứng yêu cầu về mặt thời gian và có thể tiếp cận được

số liệu (Biemer và Lyberg, 2003) Trong khuôn khổ luận án này, chất lượng số liệu được phân tích thuần túy dựa trên tính chính xác của số liệu

1.1.2 Kỹ thuật thu thập thông tin

Trong các cuộc điều tra thống kê, phỏng vấn là kỹ thuật thu thập thông tin

được sử dụng thông dụng nhất, gồm: (1) Phỏng vấn trực tiếp có tỷ lệ trả lời cao, hỗ

trợ trực tiếp trong việc giải thích các câu hỏi do vậy chất lượng số liệu tốt Tuy nhiên, đối với điều tra các chủ đề nhạy cảm, phỏng vấn trực tiếp thường dẫn đến số liệu chệch theo mong đợi của xã hội (Biemer và Lyberg, 2003; Ghanem K.G và các cộng sự, 2004, De Leeuw và Van der Zouwen, 2002), chi phí điều tra cao, ảnh hưởng của điều tra viên đối với câu trả lời của đối tượng điều tra (Yehuda et al,

2010) (2) Phỏng vấn tự điền dễ tổ chức, không sử dụng hoặc sử dụng rất ít điều

tra viên, điều tra trong thời gian ngắn… Đặc biệt đối với các câu hỏi nhạy cảm thì phỏng vấn tự điền có nhiều khả năng thu thập được thông tin trung thực hơn so với phỏng vấn trực tiếp do không bị tác động của điều tra viên và không bị ảnh hưởng bởi mong đợi của xã hội (Dillman, 2000) Tuy nhiên, phỏng vấn tự điền lại yêu cầu tính chặt chẽ trong thiết kế câu hỏi, đối tượng điều tra phải có trình độ nhất định để

đọc hiểu bảng câu hỏi (3) Phỏng vấn qua điện thoại ít tốn kém, tiết kiệm thời

gian, thông tin khách quan, thông tin trả lời không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố của điều tra viên (Statistics Canada, 2010; Biemer và Lyberg, 2003…) Tuy vậy, phỏng vấn qua điện thoại thường bị sai lệch theo mong đợi của xã hội, tính đại diện của mẫu không cao, thời gian phỏng vấn thường ngắn nên nội dung thu thập không nhiều và không đầy đủ cho nghiên cứu, hỗ trợ trực quan cho quá trình phỏng vấn không thể thực hiện được (De Leeuw, Joop J Hox, Don A Dillman, 2007;

Trang 5

Statistics Canada, 2010; Biemer và Lyberg, 2003…) (4) Kết hợp các kỹ thuật thu thập thông tin sử dụng đồng thời các kỹ thuật phỏng vấn khác nhau ví dụ như kỹ

thuật trả lời ngẫu nhiên (RRT) nhằm tận dụng những ưu điểm và khắc phục những hạn chế của các kỹ thuật thu thập thông tin được lựa chọn Việc sử dụng kết hợp các kỹ thuật thu thập thông tin khác nhau là xu hướng phổ biến hiện nay

1.1.3 Thiết kế điều tra chủ đề nhạy cảm

Một số yêu cầu quan trọng trong thiết kế điều tra chủ đề nhạy cảm như:

(1) Nhấn mạnh tầm quan trọng của chủ đề nghiên cứu và sự tham gia của đối tượng điều tra nhằm tạo cho đối tượng điều tra sự tin tưởng vào cơ quan thực

hiện điều tra và điều tra viên; giúp đối tượng điều tra “hợp tác” tốt hơn và cung cấp thông tin “thật” hơn trong trả lời câu hỏi Một số hình thức thực hiện như gửi thư

mời tham gia điều tra, điều tra viên giới thiệu, người dẫn đường giới thiệu ; (2) Đảm bảo tính riêng tư và bảo mật thông tin là một trong những vấn đề cốt yếu

đảm bảo tính khả thi và đồng thời nâng cao chất lượng số liệu điều tra chủ đề nhạy cảm Khi tính riêng tư và bảo mật thông tin được đảm bảo, đối tượng điều tra sẽ

cung cấp thông tin “thật” hơn những câu hỏi nhạy cảm mang tính cá nhân; (3) Thiết kế bảng câu hỏi và cách đặt câu hỏi giúp giảm bớt tính “nhạy cảm” của chủ

đề nghiên cứu để đối tượng điều tra dễ hiểu và dễ trả lời thông tin hơn và khuyến

khích đối tượng điều tra trả lời câu hỏi (4) Lựa chọn kỹ thuật thu thập thông tin phù hợp Đối với điều tra chủ đề nhạy cảm, kỹ thuật thu thập thông tin nào đảm

bảo tính riêng tư và bảo mật thông tin thì đối tượng điều tra sẽ báo cáo thông tin chính xác hơn và do vậy kỹ thuật thu thập thông tin đó được coi là tốt hơn Như đã trình bày ở mục 1.1.2, một số kỹ thuật đặc biệt kết hợp của phỏng vấn tự điền và phỏng vấn trực tiếp được phát triển phục vụ điều tra chủ đề nhạy cảm như: RRT;

kỹ thuật đếm không cân xứng; kỹ thuật mở rộng mạng lưới; kỹ thuật điều tra lặp lại RRT được phát triển bởi Warner (1965) và tiếp tục được phát triển bởi các nhà khoa học khác, giúp giảm độ chệch do không trả lời và tác động của mong đợi xã hội đối với câu trả lời về chủ đề nhạy cảm RRT gồm 4 thiết kế: thiết kế cặp câu hỏi đối nghĩa; Thiết kế câu trả lời bắt buộc; Thiết kế câu trả lời ngụy trang; Thiết kế cặp câu hỏi không liên quan Trong đó, cặp câu hỏi đối nghĩa và câu trả lời bắt buộc là hai thiết kế đơn giản nhất và dễ thực hiện nhất mặc dù có một số hạn chế về mức độ hoàn toàn tin tưởng của đối tượng điều tra và quy trình thực hiện RRT

1.1.4 Đánh giá tác động của kỹ thuật thu thập thông tin đối với chất lượng số liệu điều tra

Đánh giá chất lượng thông tin thống kê tại Việt Nam dựa trên sáu tiêu thức,

gồm: tính phù hợp, tính chính xác, tính kịp thời, khả năng tiếp cận, khả năng giải thích và tính chặt chẽ, logic (Bộ kế hoạch và đầu tư, 2015) Chất lượng số liệu điều

tra trong luận án này được xem xét thuần túy ở khía cạnh tính chính xác của số liệu

Trang 6

Đối với điều tra chủ đề nhạy cảm, các tiêu thức được sử dụng phổ biến để đánh giá chất lượng số liệu là tỷ lệ không trả lời (De Leeuw & van der Zouwen, 1988; Aigul Mavletova, 2013; Laura H Lind và các cộng sự, 2013…) và ước lượng

“nhiều hơn là tốt hơn” (Lensvelt-Mulders et al., 2005; Tourangeau và Yan, 2007) Nếu sử dụng các kỹ thuật thu thập thông tin không phù hợp, thì việc báo cáo “Có” tham gia vào vấn đề nhạy cảm (không theo mong đợi của xã hội) thường thấp hơn thực tế do đối tượng điều tra không muốn người khác biết (do lo sợ, xấu hổ, sợ người khác đánh giá ), do vậy kỹ thuật thu thập thông tin nào cho báo cáo cao hơn

sẽ là kỹ thuật thu thập thông tin tốt hơn Để thực hiện đánh giá tác động, một số phương pháp đã được xây dựng và thực hiện như: Phương pháp điều tra ngẫu nhiên; Phương pháp bán thực nghiệm; Đánh giá tác động vĩ mô trong đó có phương pháp điều tra theo mẫu cố định (Haughton Dominique, Haughton Jonathan, 2011; Paul J Gertler và các cộng sự, 2011)

Phân tích hồi quy đa nhân tố thường được sử dụng trong đánh giá và đo lường mối quan hệ giữa yếu tố thử nghiệm (trong trường hợp của luận án là kỹ thuật thu thập thông tin) với kết quả thu được từ thử nghiệm đó

1.2 Những vấn đề thực tiễn về nghiên cứu và ứng dụng kỹ thuật thu thập thông tin chủ đề nhạy cảm nhằm nâng cao chất lƣợng số liệu điều tra

1.2.1 Gia tăng nhu cầu thông tin thống kê

Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, thông tin thống kê đóng vai trò quan trọng trong quá trình ra quyết định dựa trên bằng chứng; việc đo lường đúng và đầy

đủ thông tin theo yêu cầu là yếu tố quan trọng cho quá trình xây dựng lý thuyết khoa học và thiết lập chính sách tốt (De Leeuw,D., Joop J Hox, Don A Dillman, 2007) Tại Việt Nam, các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm, hàng năm, các Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội được thiết lập dựa trên cơ sở thực tiễn phản ánh qua thông tin thống kê nhà nước do Tổng cục Thống kê và các Bộ ngành liên quan cung cấp Do vậy, người sử dụng tin ngày càng có nhiều yêu cầu hơn về số lượng các thông tin thống kê với chất lượng tốt hơn đảm bảo phục vụ tốt cho sự phát triển kinh tế - xã hội và hợp tác quốc tế

1.2.2 Ứng dụng các kỹ thuật thu thập thông tin chủ đề nhạy cảm

Nghiên cứu và ứng dụng các kỹ thuật thu thập thông tin nói chung và thông tin về chủ đề nhạy cảm nói riêng tại Việt Nam đã và đang được thực hiện, cải tiến nhằm nâng cao chất lượng số liệu điều tra Tuy nhiên một số tồn tại cần được khắc phục: (1) Phương pháp điều tra thống kê hiện nay còn chậm được cải tiến, đặc biệt là các kỹ thuật thu thập thông tin Trong khoảng 50 cuộc điều tra thống

kê quốc gia thì kỹ thuật thu thập thông tin phỏng vấn trực tiếp vẫn chiếm chủ yếu Ngoài ra, phỏng vấn tự điền được thực hiện hạn chế trên đối tượng điều tra là các

Trang 7

doanh nghiệp Một số kỹ thuật thu thập thống kê tiên tiến chưa được áp dụng hoặc

áp dụng chưa thống nhất và thường xuyên như kỹ thuật thu thập thông tin trực tuyến (online survey); cơ sở dữ liệu lớn, khai thác dữ liệu hành chính và hồ sơ đăng ký ; (2) Ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển các kỹ thuật thu thập thông tin còn hạn chế Tổng cục Thống kê đã thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin trong thu thập số liệu từ cuối những năm 2009, nhưng chỉ mang tính tạm thời ở một số cuộc điều tra quy mô nhỏ, không thường xuyên như sử dụng thiết bị hỗ trợ

cá nhân (PDA) và máy tính bảng trong một số cuộc điều tra xã hội và giá cả Kết quả của các điều tra này được sử dụng cho công tác phân tích số liệu mà chưa đánh giá tác động của các kỹ thuật thu thập thông tin cho việc mở rộng mô hình ứng dụng phổ biến tại Việt Nam; (3) Ứng dụng công nghệ thông tin để phát triển các kỹ thuật thu thập thông tin giúp nâng cao chất lượng số liệu còn chưa tương xứng với trình độ phát triển công nghệ thông tin trong nước Đến thời điểm hiện nay tại Việt Nam, chưa có cuộc điều tra thường xuyên quy mô cấp quốc gia nào trong 50 cuộc điều tra quốc gia sử dụng thiết bị điện tử di động trong công tác thu thập thông tin; (4) Một số kỹ thuật thu thập thông tin điều tra về chủ đề nhạy cảm chưa được nghiên cứu và ứng dụng phổ biến đối với điều tra quy mô cấp quốc gia

1.2.3 Tổng quan nghiên cứu quốc tế và trong nước về kỹ thuật thu thập thông tin điều tra chủ đề nhạy cảm và tác động tới chất lượng số liệu

(1) Các nghiên cứu quốc tế Trên thế giới đã thực hiện nhiều nghiên cứu

đánh giá tác động của việc sử dụng kỹ thuật thu thập thông tin đối với chất lượng

số liệu điều tra về chủ đề nhạy cảm Hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy phỏng vấn tự điền là kỹ thuật thu thập thông tin tốt hơn phỏng vấn trực tiếp hoặc phỏng vấn qua điện thoại và phỏng vấn tự tự điền sử dụng thiết bị điện tử di động như phỏng vấn tự điền ghi chép bằng máy tính (CASI), phỏng vấn tự điền bằng tai nghe

và ghi chép bằng máy tính (ACASI) tốt hơn sử dụng các bảng câu hỏi giấy in sẵn Luận án đã tổng quan các nghiên cứu của Anne, I Christensen và các cộng sự (2013) về hành vi y tế, quan hệ xã hội, sức khỏe - chất lượng cuộc sống; Tourangeau (1996) về hành vi quan hệ tình dục, số bạn tình và tiêm chích ma túy; Laura, H Lind và các cộng sự (2013); Aquilino, W S., 1994; Schober, S., và các cộng sự (1992); Ghanem, K G., và các cộng sự (2004) về hành vi nguy cơ lây nhiễm bệnh lây truyền qua đường tình dục,

Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra rằng sử dụng RRT trong thu thập thông tin nhạy cảm nhận được sự “hợp tác” cao hơn của đối tượng điều tra, kết quả điều tra cũng tốt hơn phỏng vấn trực tiếp và phỏng vấn tự điền RRT đảm bảo tính riêng tư

Trang 8

và bảo mật thông tin hơn so với các kỹ thuật thu thập thông tin khác và được coi là một kỹ thuật thu thập thông tin phù hợp với điều tra về chủ đề nhạy cảm RRT cho các kết quả ước lượng thông tin về chủ đề nhạy cảm tốt hơn các kỹ thuật thu thập thông tin khác ở hầu hết các nghiên cứu Tuy nhiên, việc tuân thủ quy trình và thực hiện đúng hướng dẫn là một trong những thách thức của RRT Luận án đã tổng quan các nghiên cứu của Warner S L (1965); Greenberg, và các cộng sự (1969); Raghavarao, D và W T Federer (1979); Mangat và R Singh (1990); Kuk (1990); Mangat (1994); Boruch (1971); Fox, J A & Tracy, P E (1984); Van de Heijden, P G., và các cộng sự (2000); Greenberg, B G., và các cộng sự (1971); Ostapczuk, M

J Musch & Moshagen, M (2009); Zdep S M và Isabelle N Rhodes (1976); Ajit

C Tamhane (2010); Lensvelt-Mulders và các cộng sự (2005)

Phương pháp điều tra ngẫu nhiên thường được sử dụng để đánh giá tác động của kỹ thuật thu thập thông tin đối với chất lượng điều tra Đây được coi là “tiêu chuẩn vàng” của nghiên cứu đánh giá tác động Tuy nhiên, có nhiều nghiên cứu thực hiện điều tra theo mẫu cố định vì ưu điểm của nó cho phép đánh giá tác động thuần túy của kỹ thuật thu thập thông tin đối với chất lượng số liệu điều tra Với bất

cứ phương pháp thực hiện nào, mô hình hồi quy đa nhân tố đều được sử dụng để đánh giá và lượng hóa mối quan hệ giữa kỹ thuật thu thập thông tin với chất lượng

số liệu đã thu thập được

(2) Các nghiên cứu tại Việt Nam

Một số cuộc điều tra về lĩnh vực xã hội đã sử dụng kỹ thuật phỏng vấn tự điền trên bảng câu hỏi giấy để thu thập thông tin nhạy cảm Tuy nhiên, mục đích của các cuộc điều tra này nhằm cung cấp thông tin phục vụ hoạch định chính sách

và các chương trình có liên quan nên đã không thực hiện đánh giá tác động của kỹ thuật thu thập thông tin đối với số liệu điều tra Từ năm 2009 trở lại đây, một số cuộc điều tra đã cải tiến kỹ thuật thu thập thông tin từ việc sử dụng bảng câu hỏi giấy in sẵn sang sử dụng bảng câu hỏi điện tử (PDA, máy tính sách tay, máy tính bảng ) Các cuộc điều tra này, mặc dù sử dụng kỹ thuật thu thập thông tin mới, nhưng do mục đích là cung cấp thông tin phục vụ cho công tác phân tích số liệu và hoạch định chính sách, do vậy, ngoài báo cáo phân tích số liệu điều tra cũng không

có bất kỳ báo cáo đánh giá tác động của kỹ thuật thu thập thông tin đối với chất lượng số liệu

Sử dụng một số kỹ thuật thu thập thông tin trong điều tra chủ đề nhạy cảm như RRT chưa được thực hiện và công bố chính thức trong một công trình nghiên cứu hàn lâm nào tại Việt Nam Kỹ thuật mở rộng mạng lưới sử dụng “quả bóng

Trang 9

tuyết” đã áp dụng trong các điều tra về hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV của các nhóm dân cư có nguy cơ cao như mại dâm, đồng giới nam và nghiên chích ma túy Tuy vậy, không có nghiên cứu tác động của các kỹ thuật thu thập thông tin này được báo cáo

Tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy đánh giá tác động của kỹ thuật thu thập thông tin về chủ đề nhạy cảm là một công việc quan trọng và cần thiết giúp áp dụng các kỹ thuật thu thập thông tin nâng cao chất lượng số liệu điều tra Tuy nhiên, cho đến nay, đây là một khoảng trống tri thức tại Việt Nam vì hầu hết các ứng dụng kỹ thuật thu thập thông tin mới (như phỏng vấn tự điền với sự hỗ trợ của điều tra viên, sử dụng máy tính bảng trong điều tra ) đều mặc định công nhận tính tích cực của các kỹ thuật này trên thế giới đã thực hiện để áp dụng cho Việt Nam

Do vậy, công đoạn đánh giá tác động của việc sử dụng các kỹ thuật thu thập thông tin đối với chất lượng số liệu điều tra tại Việt Nam đã không thực hiện Luận án đã nghiên cứu các cuộc điều tra quốc gia về thanh niên và vị thành niên Việt Nam (Tổng cục Thống kê, 2005 và 2010); Điều tra những cuộc đời trẻ thơ (2009); Điều tra sức khỏe phụ nữ (2009); nghiên cứu của Đỗ Quý Toàn và các cộng sự (2010); Điều tra kết hợp chỉ số sinh học và giám sát hành vi (2011)

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ THỬ NGHIỆM CÁC KỸ THUẬT THU THẬP

THÔNG TIN CHỦ ĐỀ NHẠY CẢM VỀ HIV/AIDS 2.1 Lựa chọn chủ đề HIV/AIDS để nghiên cứu thử nghiệm

2.1.1 Lý do lựa chọn chủ đề HIV/AIDS

Nghiên cứu thử nghiệm các kỹ thuật thu thập thông tin chủ đề nhạy cảm có thể thực hiện trên một hoặc nhiều chủ đề nhạy cảm cùng một lúc tùy thuộc vào điều kiện và khả năng thực hiện Nghiên cứu này chọn chủ đề HIV/AIDS để thực hiện nghiên cứu do thông tin về hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV là thông tin nhạy cảm đối với đại bộ phân dân cư Thông tin về hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV có chung đặc điểm với thông tin nhạy cảm nói chung ở chỗ, người được hỏi thường che dấu thông tin do lo ngại người khác biết được thông tin cá nhân mang tính riêng tư sẽ ảnh hưởng đến hình ảnh, uy tín, … Chọn chủ đề HIV/AIDS dựa trên tính sẵn sàng của việc lồng ghép thử nghiệm trong một cuộc điều tra “thật” của Tổng cục Thống

kê và tận dụng các nguồn lực được hỗ trợ để thực hiện nghiên cứu

2.1.2 Nhu cầu thông tin về HIV/AIDS và khả năng đáp ứng thông tin

Thông tin về HIV/AIDS phục vụ thực hiện Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 và thực hiện các cam kết quốc tế về việc ngăn chặn và xóa bỏ căn bệnh thế kỷ này Dịch HIV/AIDS tại

Trang 10

Việt Nam tập trung vào những nhóm dân số chủ yếu (bao gồm người nghiện chích

ma túy, người hoạt động mại dâm và nam có quan hệ tình dục với nam) và đang có

có xu hướng lan rộng ra cộng đồng, lây nhiễm chéo giữa nhóm dân cư có hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV cao và tổng thể dân số nói chung thì việc nắm bắt các thông tin về HIV/AIDS từ tổng thể dân số là cần thiết cho công tác quản lý, thực hiện kiểm soát dịch và tiến tới xóa bỏ căn bệnh này tại Việt Nam Cho đến nay, rất ít thông tin về HIV/AIDS từ tổng thể dân số được thu thập và công bố, do vậy, các thông tin về HIV/AIDS cần được nghiên cứu, thu thập trên mẫu tổng thể dân số nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của xã hội

Thông tin về HIV/AIDS từ tổng thể dân số có thể được thu thập từ các cuộc điều tra mẫu hộ gia đình, nơi các thành viên hộ gia đình đại diện cho tổng thể dân

số Rà soát các cuộc điều tra mẫu hộ gia đình hiện cho thấy mẫu điều tra của Khảo sát mức sống dân cư có thể đáp ứng yêu cầu thông tin về HIV/AIDS, đồng thời cuộc điều tra này có thể cung cấp thêm những thông tin cấp độ hộ gia đình và cộng đồng phục vụ cho quá trình phân tích số liệu (như các thông tin về thu nhập, chi tiêu, tình trạng hôn nhân, việc làm ), do vậy thử nghiệm được thực hiện dựa trên mẫu của Khảo sát mức sống dân cư

2.2 Điều tra Kiến thức và hành vi về HIV/AIDS và yêu cầu thử nghiệm các kỹ thuật thu thập thông tin về hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV

2.2.1 Điều tra Kiến thức và hành vi về HIV/AIDS

Điều tra Kiến thức và hành vi về HIV/AIDS nhằm thu thập các thông tin của người dân về hiểu biết, thái độ và các hành vi liên quan đến HIV/AIDS phục vụ cung cấp thông tin cho các nhà hoạch định chính sách, các tổ chức quốc tế và những người dùng tin khác trong quá trình hoạch định và thực hiện các chính sách, chương trình phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam Điều tra thu thập thông tin của những người từ 15-49 tuổi tại thành phố Hà Nội, tỉnh Khánh Hòa và Thành phố Hồ Chí Minh năm 2013

Điều tra Kiến thức và hành vi về HIV/AIDS gồm các nội dung về kiến thức, thái độ và hành vi về HIV/AIDS Các thông tin phục vụ mục đích điều tra được thu thập thông qua các bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp và bảng câu hỏi phỏng vấn tự điền Các kỹ thuật thu thập thông tin này được khuyến khích thực hiện trong môi trường phỏng vấn ngoài hộ gia đình thay vì thực hiện phỏng vấn tại hộ gia đình

2.2.2 Yêu cầu nghiên cứu thử nghiệm các kỹ thuật thu thập thông tin

Một số nghiên cứu chỉ ra rằng kỹ thuật thu thập thông tin phỏng vấn tự điền về chủ đề nhạy cảm không tốt hơn phỏng vấn trực tiếp, trong khi đó hầu hết các nghiên cứu khác lại cho rằng phỏng vấn tự điền cho kết quả tốt hơn phỏng vấn trực tiếp về chất lượng số liệu đối với các thông tin nhạy cảm được thu thập Kết quả này là do

Trang 11

sự khác biệt về phạm vi địa lý (nghiên cứu tại các quốc gia khác nhau) và thời gian nghiên cứu (nghiên cứu tại các thời điểm khác nhau) Bên cạnh đó, các yếu tố về tổ chức điều tra như tập huấn ĐTV, các điều kiện hoàn cảnh áp dụng, ở mỗi quốc gia, mỗi thời điểm chưa được khai thác và đánh giá đầy đủ Tại Việt Nam, các khảo sát, đánh giá định tính trước khi thiết kế điều tra “Điều tra quốc gia về Thanh niên và

vị thành niên Việt Nam_SAVY” năm 2002 cho thấy kỹ thuật thu thập thông tin phỏng vấn tự điền khuyến khích sự tham gia điều tra của thanh niên và vị thành niên hơn so với phỏng vấn trực tiếp; Kết quả điều tra “Dân số và các chỉ tiêu về AIDS_ VPAIS” năm 2005 cho các ước lượng điều tra sử dụng kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp chênh lệch lớn so với các cuộc điều tra tương tự dựa trên nhóm đối tượng có hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV cao Tuy nhiên, các cuộc điều tra này chưa đánh giá và lượng hóa tác động thuần túy của yếu tố sử dụng kỹ thuật thu thập thông tin đến kết quả điều tra thu được Luận án này tiếp tục việc nghiên cứu, đánh giá và lượng hóa tác động của việc sử các kỹ thuật thu thập thông tin khác nhau đến chất lượng số liệu thu thập được về vấn đề nhạy cảm, sử dụng “Điều tra Kiến thức và hành vi về HIV/AIDS” để lồng ghép các kỹ thuật thu thập thông tin trong điều tra

Lồng ghép thử nghiệm các kỹ thuật thông tin trong “Điều tra Kiến thức và hành vi về HIV/AIDS” nhằm sử dụng dàn mẫu và những thông tin sẵn có của cuộc điều tra để đánh giá các kỹ thuật thu thập thông tin đáp ứng mục tiêu nghiên cứu Kết quả của nghiên cứu là đánh giá phương pháp điều tra, hoàn toàn độc lập với kết quả phân tích số liệu của Điều tra kiến thức và hành vi về HIV/AIDS được Tổng cục Thống kê công bố

2.3 Thiết kế thử nghiệm các kỹ thuật thu thập thông tin

2.3.1 Lựa chọn kỹ thuật thu thập thông tin để thử nghiệm

Trong 50 cuộc điều tra và tổng điều tra thống kê quốc gia tại Việt Nam hiện nay, kỹ thuật thu thập thông tin phỏng vấn trực tiếp sử dụng bảng câu hỏi in sẵn được áp dụng phổ biến Do vậy, những người thực hiện điều tra (người thiết kế điều tra, điều tra viên, đối tượng điều tra ) vẫn đang “hài lòng” với kỹ thuật thu thập thông tin này vì sự thành thạo của họ và sự dễ dàng trong điều tra Tuy nhiên, cần đánh giá kết quả điều tra ở cả khía cạnh về sự thuận tiện đối với người tham gia điều tra và cả chất lượng số liệu mà điều tra mang lại Một trong những yếu tố tác động đến chất lượng số liệu điều tra là kỹ thuật thu thập thông tin

Nghiên cứu lựa chọn ba kỹ thuật thu thập thông tin để thử nghiệm thu thập thông tin nhạy cảm và thực hiện đánh giá tác động đối với chất lượng số liệu điều tra là: phỏng vấn trực tiếp, phỏng vấn tự điền và RRT Đối với RRT, nghiên cứu

lựa chọn thiết kế câu trả lời bắt buộc vì ưu điểm dễ thực hiện và thiết kế này phù

Trang 12

hợp với thiết kế phỏng vấn của “Điều tra Kiến thức và hành vi về HIV/AIDS” trong cách đặt câu hỏi và cách trả lời câu hỏi

2.3.2 Thiết kế câu hỏi và bảng câu hỏi

Luận án sử dụng phương pháp điều tra theo mẫu cố định (PS) để thu thập thông tin phục vụ đánh giá tác động của kỹ thuật thu thập thông tin đến chất lượng

số liệu Nghĩa là mỗi kỹ thuật thu thập thông tin sẽ được hỏi trên cùng đối tượng điều tra về những hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV Do vậy, để đảm bảo tính đồng nhất về câu hỏi trong các bảng hỏi phỏng vấn trực tiếp, phỏng vấn tự điền và RRT, nghiên cứu sẽ sử dụng bảng câu hỏi phỏng vấn tự điền làm trung tâm cho thiết kế bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp và RRT

(1) Câu hỏi và bảng câu hỏi phỏng vấn tự điền được thiết kế đơn giản để dễ

đọc, dễ hiểu, có thể ghi lại được thông tin; không sử dụng các câu hỏi lọc, bước nhảy Hướng dẫn để thực hành ghi chép thông tin đơn giản tối đa: những biến liên tục thiết kê ô trống để ghi thông tin còn với những biến rời rạc thì yêu cầu khoanh

số thay vì ghi lại mã của câu trả lời như trong bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp Những hướng dẫn này được ghi vào sau câu hỏi (với phông chữ khác) để đối tượng điều tra dễ phân biệt và được sử dụng thống nhất trong toàn bộ bảng câu hỏi phỏng vấn tự điền

Trong số 17 câu hỏi hành vi có 13 câu hỏi nhạy cảm về HIV/AIDS chia theo

4 nhóm: hành vi tình dục với hơn một bạn tình; hành vi tình dục mại dâm; hành vi tình dục đồng giới; hành vi nghiện chích ma túy Có thể chọn cả 13 câu hỏi để thử nghiệm hai kỹ thuật thu thập thông tin còn lại, tuy nhiên việc này sẽ làm gia tăng gánh nặng cho đối tượng điều tra trong khi không cần thiết cho nghiên cứu Như vậy, 13 câu hỏi này sẽ được cân nhắc để lựa chọn một số câu hỏi cho thử nghiệm

kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp và RRT theo nguyên tắc mỗi câu hỏi chỉ được hỏi lặp lại một lần Danh sách các câu hỏi đã được lựa chọn để so sánh được trình bày trong Bảng 2.1

(2) Câu hỏi và bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp Chọn 6 câu hỏi nhạy cảm

về HIV để thử nghiệm phỏng vấn trực tiếp, trong đó 4 câu hỏi về hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV và 2 câu hỏi có mức độ nhạy cảm thấp hơn, để thiết bảng câu hỏi Các câu hỏi được sắp xếp theo thứ tự các câu hỏi ít nhạy cảm trước sau đó là câu hỏi nhạy cảm và cuối cùng là câu hỏi ít nhạy cảm (dạng thiết kế parabol) Việc sắp xếp như vậy nhằm hướng đối tượng điều tra quen dần với câu hỏi nhạy cảm để có thể “hợp tác” và trả lời tốt câu hỏi Danh sách 6 câu hỏi trong Bảng 2.1

(3) Câu hỏi và bảng câu hỏi RRT Theo thiết kế câu trả lời bắt buộc của

RRT, đối tượng điều tra sẽ lựa chọn ngẫu nhiên hoặc trả lời câu hỏi nhạy cảm (câu trả lời có thể là CÓ với mã trả lời là “1” hoặc KHÔNG với mã trả lời là “2”) hoặc

tự động khoanh mã “1” Việc lựa chọn ngẫu nhiên này dựa trên kết quả tung đồng

Ngày đăng: 15/01/2021, 22:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Danh sách các câu hỏi thử nghiệm trong ba kỹ thuật thu thập thông tin - Nghiên cứu kỹ thuận thu thập thông tin thống kê nhằm nâng cao chất lượng số liệu điều tra các chủ đề nhạy cảm ở Việt Nam
Bảng 2.1. Danh sách các câu hỏi thử nghiệm trong ba kỹ thuật thu thập thông tin (Trang 13)
(* So sánh với bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp về tỷ lệ người trả lời có vợ/có chồng) - Nghiên cứu kỹ thuận thu thập thông tin thống kê nhằm nâng cao chất lượng số liệu điều tra các chủ đề nhạy cảm ở Việt Nam
o sánh với bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp về tỷ lệ người trả lời có vợ/có chồng) (Trang 14)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w