- Bên cạnh đó, hệ số ƣớc lƣợng thể hiện mức độ tác của từng nhân tố đến động lực làm việc của ngƣời lao động tại Trung tâm không có sự dao động đáng kể (hệ số beta từ 0.12 đến 0.2), p[r]
Trang 1TÓM TẮT LUẬN VĂN
Luận văn có kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về động lực làm việc và các nhân tố tác động đến động lực làm việc của người lao động trong tổ chức
Chương 2: Thực trạng mức độ động lực làm việc và các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của người lao động tại Trung Tâm Thẻ - Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm tăng động lực làm việc của người lao động tại Trung Tâm Thẻ - Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam
Con người – nhân tố được coi là giá trị cốt lõi trong sự vận hành hiệu quả của mọi
tổ chức, cũng với ý nghĩa đó mà câu hỏi đặt ra cho nhà quản trị là: làm thế nào để người lao động phát huy được tối đa những phẩm chất, năng lực của mình từ đó nâng cao năng suất lao động, làm tiền đề để tổ chức phát triển bền vững trong tương lai Chính sách tạo động lực đang ngày được quan tâm và chú trọng nhiều hơn, các doanh nghiệp đều từng bước xây dựng chính sách, môi trường lao động xoay quanh việc lấy người lao động làm trung tâm, thống nhất mục tiêu của người lao động theo mục tiêu chung của tổ chức, xây dựng tổ chức ngày càng phát triển Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank) là ngân hàng hàng đầu Việt Nam, Vietinbank luôn coi nguồn nhân lực là nhân tố cốt lõi và là tài sản quý giá của ngân hàng Là một đơn vị sự nghiệp thuộc Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, Trung Tâm Thẻ trong những năm vừa qua luôn là đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đi đầu trong hoạt động kinh doanh của Vietinbank Tuy nhiên, trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của ngành ngân hàng hiện nay, khi
mà các nhân tố cạnh tranh khác như : Vốn, trình độ quản lý, trình độ công nghệ,
…của Vietinbank đều đã được các đối thủ cạnh tranh tiệm cận, thì nhân tố con người, mà cụ thể hơn là nhân tố động lực lao động, được xác định là nhân tố quan trọng để giúp cho Vietinbank tạo ra lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ khác Việc nghiên cứu động lực lao động tại Vietinbank nói chung và Trung Tâm Thẻ nói
Trang 2riêng trước đây chưa được nghiên cứu bài bản và chuyên sâu nhằm tìm ra các nhân
tố có tác động quan trọng đến động lực của người lao động tại Vietinbank Xuất phát từ thực tế như vậy, tôi chọn đề tài “NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG TẠI TRUNG TÂM THẺ NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM “ để nghiên cứu nhằm đóng góp cho sự phát triển của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam nói chung và Trung Tâm
Thẻ nói riêng
Chương 1: Làm rõ những vấn đề lý luận về động lực lao động và các nhân tố ảnh hưởng đến động lực lao động Sử dụng hai học thuyết : Học thuyết hệ thống nhu cầu của Maslow và Học thuyết hai nhóm nhân tố của Herzberg, cùng với thực
tế tại Trung Tâm Thẻ Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam để đưa ra mô hình nghiên cứu
Các nội dung được đưa ra bao gồm: Các khái niệm về động lực; Tầm quan trọng của tạo động lực làm việc cho người lao động; Các tiêu chí đo lường động lực làm việc của người lao động ( Kết quả thực hiện công việc, Thái độ làm việc, Mức độ tham gia vào công việc, Sự cố gắng nỗ lực trong công việc ) ; Học thuyết
hệ thống nhu cầu của Maslow và Học thuyết hai nhóm nhân tố của Herzberg
Học thuyết hệ thống nhu cầu của Maslow: Đây là lý thuyết được nhà tâm lý học Abraham Maslow xây dựng , Trong lý thuyết này, ông sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc, các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn
xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn trước
Học thuyết hai nhóm nhân tố được đưa ra bởi Frederick Herzberg, Thuyết này chia các nhân tố làm hai loại:
- Nhân tố duy trì: Nếu được đáp ứng sẽ không có sự bất mãn trong công việc làm giảm động lực lao động, ngược lại sẽ dẫn đến sự bất mãn
- Nhân tố động viên : Nếu nhân viên được đáp ứng sẽ mang lại sự thỏa mãn trong công việc cho họ và động lực công việc gia tăng và ngược lại nhân viên sẽ không có sự thỏa mãn làm giảm động lực
Trang 3Từ cơ sở lý luận trên ta có thể nhận thấy mối quan hệ giữa hai thuyết (Lý thuyết lý thuyết hệ thống nhu cầu của Maslow và học thuyết hai nhóm nhân tố của Frederic Herzberg) Mối quan hệ đó có thể thể hiện như sau: Maslow đã chỉ ra trong mỗi con người luôn có các nhu cầu và nó được chia thành 5 nấc thang từ thấp đến cao Herzberg lại nhấn mạnh nhóm 2 nhân tố là thúc đẩy và duy trì Kết quả so sánh Học thuyết này, chỉ ra hướng tác động vào các nhân tố ảnh hưởng động lực làm việc nhằm đáp ứng các bậc nhu cầu khác nhau Để thỏa mãn các nhu cầu bậc thấp, nhà quản lý cần phải sử dụng các nhân tố duy trì động lực, và để thỏa mãn các nhu cầu bậc cao, cần sử dụng các nhân tố thúc đẩy và tạo động lực
Các nhân tố ảnh hưởng tới động lực làm việc của người lao động :
- Các nhân tố thuộc về công việc : Đặc điểm công việc và tính hấp dẫn của công việc, Khả năng thăng tiến, Mối quan hệ với đồng nghiệp, Môi trường làm việc
- Các nhân tố thuộc về cá nhân người lao động: Nhu cầu của người lao động, Mục đích làm việc, Các quan điểm về giá trị, Khả năng, năng lực của người lao động, Đặc điểm tính cách người lao động
- Các nhân tố thuộc về môi trường bên trong: Văn hóa của đơn vị lao động, Phong cách lãnh đạo, Chính sách về nhân sự
Theo như nhận xét rút ra từ các phân tích trên, tác giả vận dụng 2 học thuyết Thuyết 2 nhóm nhân tố của Herzberg và Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow cùng với tình hình thực tế tại Trung Tâm Thẻ Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam để xây dựng mô hình nghiên cứu như sau:
Đặc điểm công việc, tính hấp dẫn của
công việc (DDCV )
Khả năng thăng tiến ( KNTT)
Môi trường làm việc (MTLV)
Văn hóa của tổ chức (VHTC)
Phong cách lãnh đạo (PCLĐ)
Các chính sách về nhân sự (CSNS)
Động lực làm việc (DLLV)
Kết quả thực hiện công việc
Thái độ làm việc
Mức độ tham gia vào công việc
Sự cố gắng nỗ lực trong công việc
Trang 4Chương 2 giới thiệu tổng quan về hoạt động kinh doanh, tình hình nhân lực của Trung Tâm Thẻ Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, phân tích, đánh giá thực trạng động lực lao động và các nhân tố ảnh hưởng đến động lực lao động tại đây
Trung Tâm Thẻ là một đơn vị sự nghiệp trực thuộc Ngân hàng thương mại
cổ phần Công Thương Việt Nam, thành lập ngày 28/09/2007, có trụ sở tại Khu Nội Chính, Phường Nhân Chính, Thanh Xuân, Hà Nội, liên tục nhiều năm liền hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được Hội đồng quản trị giao Cơ cấu tổ chức của Trung tâm gồm 10 phòng ban hoạt động tương tác, hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình vận hành và hạch toán kế toán của tổ chức Tình hình thực hiện chỉ tiêu kinh doanh thẻ trong các năm vừa qua đều đạt kết quả cao, các chỉ tiêu kinh doanh đều đạt và vượt so với kế hoạch đặt ra, góp phần duy trì vị thế dẫn đầu của Vietinbank trên thị trường thẻ Căn cứ báo cáo đánh giá xếp loại của Hiệp hội thẻ Ngân hàng, VietinBank là ngân hàng đứng thứ 1 trong hoạt động phát hành thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, mạng lưới đơn vị chấp nhận thẻ và ngân hàng đứng thứ 2 về thị phần doanh
số thanh toán
Thực trạng động lực và các nhân tố ảnh hưởng tới động lực làm việc cho người lao động tại Trung Tâm Thẻ - Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
Động lực của người lao động
Theo kết quả thống kê mô tả theo thang đo từ 1- 5 về mức độ đồng ý của người lao động, tác giả đánh giá động lực làm việc (DLUC) tại Trung Tâm Thẻ NHTMCP Công thương luôn được duy trì ở mức cao, giá trị trung bình theo mẫu tính toán là 3.83 (trên 5), với mức độ sai lệch theo giá trị trung bình là 0.33 Cụ thể:
- Động lực làm việc ở lao động Nữ được đánh giá là cao hơn lao động Nam trung bình khoảng 0.1 điểm (trên 5)
Trang 5- Động lực làm việc của các lao động ở các độ tuổi khác nhau là tương đương nhau (khoảng 3.8/5), phản ánh mức độ tạo động lực lên người lao động không có sự phân hóa theo độ tuổi
- Người lao động ở nhóm lao lao động có trình độ học vấn càng cao thì có động lực làm việc theo kết quả khảo sát càng cao Cụ thể, nhóm lao động Đại học
và trên đại học có động lực làm việc được đánh giá theo khảo sát có số điểm trung bình trê 3.8/5 Nhóm lao động có trình độ Trung cấp và Cao đẳng có động lực làm việc theo kết quả khảo sát đạt 2.5/5, thấp hơn đối tượng lao động phổ thông (3.5/5) Nguyên nhân lý giải cho sự bất thường này là do phân công lao động của Trung tâm hiện nay, xếp lao động có trình độ phổ thông và trình độ cao đẳng vào cùng một nhóm phân công lao động, trong khi các nhu cầu đặt ra của nhóm đối tượng trung cấp, cao đẳng là cao hơn đối tượng lao động phổ thông: họ muốn mức lương cao hơn, Khả năng thăng tiến lớn hơn, vị trí làm việc cao hơn những lao động phổ thông Điều này hoàn toàn là hợp lý, khi tiến hành phỏng vấn sâu ban Lãnh đạo của Trung tâm, tác giả được biết nhóm đối tượng lao động có trình độ Trung cấp
và Cao đẳng đa số đều là lao động trái ngành, không có chuyên ngành phù hợp với đặc điểm công việc của Trung tâm, từ đó mà khi tuyển dụng về Trung tâm phải tiến hành đào tạo một khóa ngắn hạn cho đối tượng này như các lao động Phổ thông
- Nghiên cứu còn cho thấy Vị trí công tác càng cao thì động lực làm việc của người lao động càng cao, tức là động lực làm việc của các nhà quản lý (4.2/5) cao hơn động lực làm việc của đội ngũ nhân viên (3.7/5) Điều này có thể được lý giải bỏi theo tháp nhu cầu của Maslow, khi người lao động đạt tới vị trí của quản
lý, đồng nghĩa với người lao động nhận được sự tin trưởng, tín nhiệm của cấp trên,
sự tôn trọng của cấp dưới Người lao động được phép sáng tạo ra những chiến lược, kế hoạch, và đưa ra các quyết định thực thi các chiến lược đó Khi này nhu cầu của người lao động đã được đặt ra ở mức độ cao hơn
Trang 6- Khảo sát còn chỉ ra, những người lao động có thời gian làm việc trên 5 năm có động lực làm việc cao nhất, được đánh giá điểm 3.9/5, thể hiện nhu cầu an toàn, tìm kiếm công việc ổn định và gắn bó lâu dài thúc đẩy động lực làm việc hăng say của người lao động
- Cuối cùng, những lao động có thu nhập trên 20 triệu cho thấy mức độ động lực làm việc cao hơn tương đối so với những đối tượng khác, đạt điểm 4.2/5 Điều này phản ánh rõ ràng bởi nhu cầu về sinh lý là nhu cầu cơ bản nhất của con người, được phản ánh cụ thể qua thu nhập thường xuyên là tiền lương của người lao động
Nhân tố ảnh hưởng tới động lực của người lao động
- Đặc điểm công việc và động lực làm việc của người lao động :
Theo số liệu khảo sát tổng hợp, tác giả có một số nhận xét như sau: Đặc điểm công việc có tác động rõ ràng tới mức động lực của người lao động người lao động khi xem xét theo: Trình độ học vấn, Vị trí làm việc, số năm công tác, thu nhập hàng tháng
Điều này có thể được lý giải bởi đặc điểm công việc tại Trung Tâm Thẻ là công việc liên quan tới hoạt động bán hàng, một hoạt động cần nhiều tới trình độ chuyên môn, hiểu biết xã hội, cũng như kinh nghiệm
Bởi vậy, xét theo trình độ, đối tượng lao động đại học/ trên đại học có sự tác động về đặc điểm công việc cao nhất (3.8/5) thể hiện rằng những lao động có trình
độ càng cao thì đặc điểm công việc lại càng có xu hướng tác động mạnh tới động lực làm việc của họ
Xét theo vị trí làm việc thì đối tượng quản lý có sự tác động về đặc điểm công việc cao nhất (4.31/5) thể hiện rằng những lao động có vị trí làm việc càng cao thì đặc điểm công việc lại có xu hướng tác động mạnh mẽ tới động lực làm việc của họ
Xét theo số năm làm việc thì đối tượng lao động có số năm làm việc nhiều hơn 5 năm có sự tác động về đặc điểm công việc cao nhất (3.75/5) thể hiện rằng những người lao động có số năm kinh nghiệm càng cao thì đặc điểm công việc lại
có xu hướng tác động mạnh mẽ tới động lực làm việc của họ
Trang 7Xét theo thu nhập hàng tháng thì đối tượng lao động có thu nhập hàng tháng trên 20 triệu có sự tác động về đặc điểm công việc cao nhất (4.31/5) thể hiện rằng những người lao động có thu nhập hàng tháng càng cao thì đặc điểm công việc lại
có xu hướng tác động mạnh mẽ tới động lực làm việc của họ
Mô hình nghiên cứu tác động của đặc điểm công việc tới động lực làm việc của người lao động cho ta kết quả như sau: Phương trình thể hiện mối liên hệ là: ĐLUC = 2.156 + 0.482 ĐĐCV Hệ số ước lượng của mô hình hồi quy thể hiện tác động: Trong điều kiện các nhân tố khác là không thay đổi, thì Đặc điểm công việc tại Trung tâm thay đổi 1 đơn vị thì Động lực làm việc của người lao động sẽ thay đổi 0.482 đơn vị
Kết luận: Trong điều kiện các nhân tố khác là không đổi, nhân tố đặc điểm công việc có sự tương tác cùng chiều với động lực làm việc của người lao động
- Khả năng thăng tiến và động lực làm việc của người lao động
Theo số liệu khảo sát tổng hợp, tác giả có một số nhận xét như sau: Khả năng thăng tiến có tác động rõ ràng tới mức động lực của người lao động người lao động khi xem xét theo: Trình độ học vấn, Vị trí làm việc, số năm công tác, thu nhập hàng tháng
Điều này có thể lý giải theo học thuyết nhu cầu của Maslow, khi người lao động tiến tới ngưỡng nhu cầu khẳng định bản thân thể hiện qua vị trí làm việc, số năm công tác, thu nhập, trình độ học vấn thì họ có nhiều cơ hội tiền đề để sáng tạo
ra những cái mới, những sự cải cách để từ đó triển khai nó phát triển tổ chức, và tiếp tục có được những Khả năng thăng tiến mới
Phương trình thể hiện mối liên hệ là: ĐLUC = 2.156 + 0.498 CHTT Hệ số ước lượng của mô hình hồi quy thể hiện tác động: Trong điều kiện các nhân tố khác là không thay đổi, thì Khả năng thăng tiến tại Trung tâm thay đổi 1 đơn vị thì Động lực làm việc của người lao động sẽ thay đổi 0.498 đơn vị
Kết luận: Trong điều kiện các nhân tố khác là không đổi, nhân tố Khả năng thăng tiến có sự tương tác cùng chiều với động lực làm việc của người lao động
- Phong cách lãnh đạo và động lực làm việc của người lao động
Trang 8Theo số liệu khảo sát tổng hợp, tác giả có một số nhận xét như sau: Phong cách lãnh đạo có tác động rõ ràng tới mức động lực của người lao động người lao động khi xem xét theo: Trình độ học vấn, Vị trí làm việc, số năm công tác, thu nhập hàng tháng Mối quan hệ thuận chiều thể hiện ở cấp càng cao trong thang phân loại thì Phong cách lãnh đạo sẽ có tác động lớn hơn tới động lực làm việc của người lao động Đặc biệt là phân loại về Vị trí làm việc, Phong cách lãnh đạo có tác động vượt trội hơn hẳn ở những đối tượng là cấp quản lý so với đối tượng nhân
viên trong Trung Tâm Thẻ với điểm số là 4.29/5
Mô hình nghiên cứu tác động của nhân tố Phong cách lãnh đạo tới động lực làm việc của người lao động cho kết quả: Phương trình thể hiện mối liên hệ là: ĐLUC = 2.198 + 0.446 PCLĐ Hệ số ước lượng của mô hình hồi quy thể hiện tác động: Trong điều kiện các nhân tố khác là không thay đổi, thì Phong cách lãnh đạo tại Trung tâm thay đổi 1 đơn vị thì Động lực làm việc của người lao động sẽ thay đổi 0.498 đơn vị
Kết luận: Trong điều kiện các nhân tố khác là không đổi, nhân tố phong cách lãnh đạo có sự tương tác cùng chiều với động lực làm việc của người lao động
- Môi trường làm việc và động lực làm việc của người lao động
Môi trường làm việc có tác động rõ ràng tới mức động lực của người lao động người lao động khi xem xét theo: trình độ học vấn và vị trí công tác Còn khi xem xét theo : giới tính, số năm công tác, thu nhập hàng tháng, độ tuổi cho thấy không có sự khác biệt Mối quan hệ thuận chiều thể hiện ở cấp càng cao trong thang phân loại thì Môi trường làm việc sẽ có tác động lớn hơn tới động lực làm việc của người lao động
Mô hình nghiên cứu tác động của môi trường làm việc tới động lực làm việc của người lao động cho ta kết quả như sau: Phương trình thể hiện mối liên hệ là: ĐLUC = 0.962 + 0.440*MTLV Hệ số ước lượng của mô hình hồi quy thể hiện tác động: Trong điều kiện các nhân tố khác là không thay đổi, thì Môi trường làm việc tại Trung tâm thay đổi 1 đơn vị thì Động lực làm việc của người lao động sẽ thay đổi 0.482 đơn vị
Kết luận: Trong điều kiện các nhân tố khác là không đổi, nhân tố môi trường làm việc có sự tương tác cùng chiều với động lực làm việc của người lao động
Trang 9- Chính sách đãi ngộ và động lực làm việc của người lao động
Theo số liệu khảo sát tổng hợp, tác giả có một số nhận xét như sau: Chính sách đãi ngộ có tác động rõ ràng tới mức động lực của người lao động người lao động khi xem xét theo: Trình độ học vấn, Vị trí làm việc, số năm công tác, thu nhập hàng tháng Mối quan hệ thuận chiều thể hiện ở cấp càng cao trong thang phân loại thì Chính sách đãi ngộ sẽ có tác động lớn hơn tới động lực làm việc của người lao động Đăc biệt, sự phân hóa ảnh hưởng thể hiện rõ nhất trong thang phân loại về Thu nhập hàng tháng, những đối tượng có thu nhập trên 20 triệu có mức độ động lực cao hơn hẳn với những đối tượng khác và đạt 4.31/5 điểm
Mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của chính sách đãi ngộ tới động lực làm việc của người lao động cho kết quả như sau: Phương trình thể hiện mối liên hệ là: ĐLUC = 0.722 + 0.493*CSĐN Hệ số ước lượng của mô hình hồi quy thể hiện tác động: Trong điều kiện các nhân tố khác là không thay đổi, thì Chính sách đã ngộ tại Trung tâm thay đổi 1 đơn vị thì Động lực làm việc của người lao động sẽ thay đổi 0.493 đơn vị
Kết luận: Trong điều kiện các nhân tố khác là không đổi, nhân tố Chính sách đãi ngộ có sự tương tác cùng chiều với động lực làm việc của người lao động
- Văn hóa tổ chức và động lực làm việc của người lao động
Mô hình nghiên cứu tác động của nhân tố Văn hóa doanh nghiệp tới động lực làm việc của người lao động tại Trung tâm cho kết quả như sau:
Phương trình thể hiện mối liên hệ là: ĐLUC = 1.246 + 0.435*VHDN Hệ số ước lượng của mô hình hồi quy thể hiện tác động: Trong điều kiện các nhân tố khác là không thay đổi, thì Văn hóa doanh nghiệp tại Trung tâm thay đổi 1 đơn vị thì Động lực làm việc của người lao động sẽ thay đổi 0.435 đơn vị
Kết luận: Trong điều kiện các nhân tố khác là không đổi, nhân tố Văn hóa doanh nghiệp có sự tương tác cùng chiều với động lực làm việc của người lao
động động
Trang 10Trên cơ sở phân tích hồi quy tuyến tính cho thấy tác động của các nhân
tố tác động đến động lực lao động của người lao động tại Trung Tâm Thẻ - Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, tác giả hình thành mô hình hồi quy tổng thể như sau:
Dựa trên kết quả hồi quy , mô hình tổng thể có thể viết lại thành con số như sau: DLUC = - 0.89639 + 0.200793*ĐĐCV + 0.199086*CHTT + 0.154346*PCLĐ + 0.184424*ĐKLV +0.127456*CSĐN+0.164164*VHDN
Qua kiểm định cho tác giả đã thu được các kết quả là có sáu nhân tố có tác động đến động lực làm việc của người lao động tại Trung Tâm Thẻ NHTMCP Công thương Việt Nam cụ thể như sau:
(i) Nhân tố 1: Đặc điểm công việc (ĐĐCV) khi nhân tố 1 tăng lên 1 đơn vị thì động lực lao động tăng lên 0.200793 đơn vị và ngược lại Điều này cho thấy đặc điểm công việc đã tạo hứng thú lao động miệt mài cho người lao động, và sẽ tạo điều kiện gia tăng động lực làm việc tại Trung Tâm Thẻ NHTMCP Công thương Việt Nam
(ii) Nhân tố 2: Khả năng thăng tiến (CHTT), khi nhân tố 2 tăng lên 1 đơn vị thì động lực lao động tăng 0.199086 đơn vị và ngược lại Như vậy khi kết quả của công nhân viên được đánh giá cao bằng việc xem xét khả năng thăng chức thì từ đó
sẽ làm gia tăng động lực làm việc cho người lao động tại Trung Tâm Thẻ NHTMCP Công thương Việt Nam
(iii) Nhân tố 3: Phong cách lãnh đạo (PCLĐ); khi nhân tố 3 tăng lên 1 đơn vị thì làm động lực làm việc của người lao động tăng 0.154346 đơn vị và ngược lại Điều này hàm nghĩa rằng nếu như có một người lãnh đạo mẫu mức, luôn có được
sự thấu hiểu, kết nối với người lao động thì động lực làm việc của người lao động tại Trung tâm sẽ gia tăng
DLUC = α + β1*Nhân tố 1 + β2*Nhân tố 2 + β3*Nhân tố 3 + β4*Nhân tố 4 + β5*Nhân tố 5 + β6*Nhân tố 6