1. Trang chủ
  2. » Hoá học lớp 10

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn nguồn tài trợ vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa trường hợp tiểu vùng Tây Bắc

27 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 577,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bằng cách chia nguồn vốn xã hội của doanh nghiệp thành 4 nhóm và đo lường mức độ sử dụng các mạng lưới này nghiên cứu đã chỉ mức độ sử dụng mạng lưới với nhóm cho vay chính thức và khô[r]

Trang 1

Tr-ờng đại học kinh tế quốc dân

NGHIÊN CứU CáC NHÂN Tố ảNH h-ởng đến lựa chọn nguồn tài trợ vốn của dnnvv –

tr-ờng hợp tiểu vùng tây bắc

Chuyên ngành: tài chính – ngân hàng

Mã số: 62340201

Hà Nội - 2017

Trang 2

Tr-ờng đại học Kinh tế Quốc dân

Phản biện 3: TS Nguyễn Minh Ngọc

Luận ỏn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận ỏn

Cấp Trường Đại học Kinh tế Quốc dõn

Vào hồi: 16h00 ngày 08 tháng 08 năm 2017

Có thế tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Quốc gia

- Thư viện Đại học Kinh tế Quốc dõn

Trang 3

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ LUẬN ÁN 1.1 Lý do lựa chọn đề tài

Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là bộ phận năng động và có đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế của mọi quốc gia Không chỉ góp phần tăng trưởng GDP, các DNNVV còn là lĩnh vực chủ chốt trong tạo việc làm, thúc đẩy tiến bộ công nghệ và nâng cao mức sống của người dân Bởi vậy sự phát triển ổn định và bền vững của DNNVV đối với nền kinh tế Việt Nam là rất quan trọng

Tuy nhiên, các DNNVV đang gặp rất nhiều khó khăn trong tiếp cận vốn Mặc

dù Nhà nước có nhiều chính sách nhằm tháo gỡ những khó khăn về vốn, nhưng kết quả vẫn chưa được như mong muốn Chỉ một số ít trong đó (20%) tiếp cận được vốn vay ngân hàng và (80%) doanh nghiệp còn lại khó tiếp cận vay ngân hàng dẫn tới các doanh nghiệp quyết định đi vay từ gia đình, bạn bè, nhóm tự giúp đỡ, cá nhân cho vay, tổ chức cầm đồ mặc dù nguồn này chỉ tài trợ khoảng 8% - 9% nhu cầu đầu tư (CIEM, 2013)

Các DNNVV có những đặc tính khác với các doanh nghiệp lớn Sự khác biệt này dẫn đến sự khác nhau trong xu hướng cũng như hành vi của doanh nghiệp trong các quyết định tài chính Các cơ sở khoa học cho giải thích và dự báo áp dụng cho doanh nghiệp lớn đôi khi không phù hợp khi vận dụng vào bối cảnh của DNNVV Điều này đỏi hỏi phải được nhìn nhận, phân tích trên một góc độ mới mẻ và năng động hơn Có rất ít các nghiên cứu về hành vi của DNNVV trong các quyết định tài chính dựa trên lý thuyết tài chính hành vi và lý thuyết vốn xã hội mà chủ yếu dựa trên

lý thuyết cơ cấu vốn truyền thống

Đặc thù kinh tế xã hội chính trị của vùng Tây Bắc khiến vai trò của DNNVV càng trở nên có ý nghĩa khi đa phần người dân Tây Bắc có tâm lý ỷ lại, không muốn thoát nghèo, phụ thuộc vào các hỗ trợ bao cấp của Nhà nước Do vậy, nhiều nghiên cứu trước đây đã cho rằng hỗ trợ các DNNVV phát triển hoạt động kinh doanh và tiếp cận vốn dễ dàng hơn sẽ ngay lập tức và trực tiếp tạo ra việc làm và giá trị kinh tế cho

vùng Tây Bắc Chính vì các lý do kể trên NCS chọn đề tài: “Nghiên cứu các nhân tố

ảnh hưởng đến lựa chọn nguồn tài trợ vốn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa - Trường hợp tiểu vùng Tây Bắc” làm luận án tiến sĩ của mình

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Luận án được thực hiện để giải quyết 3 mục tiêu:

Thứ nhất: Tìm hiểu hành vi lựa chọn nguồn tài trợ vốn của DNNVV thông qua việc tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia tín dụng và lựa chọn tín dụng

Thứ hai: Đánh giá thực trạng lựa chọn và tiếp cận tín dụng của các DNNVV Tây Bắc Thứ ba: Dựa vào kết quả nghiên cứu của hai mục tiêu trên để đề xuất giải pháp nhằm tăng cường tiếp cận tín dụng của DNNVV Tây Bắc và một số khuyến nghị chung

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Luận án được tiến hành nhằm trả lời bốn câu hỏi nghiên cứu sau:

1 Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc tham gia tín dụng của DNNVV ?

Trang 4

2 Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc lựa chọn tín dụng của DNNVV ?

3 Thực trạng lựa chọn nguồn tài trợ vốn của các DNNVV Tây Bắc hiện nay như thế nào ?

4 Những kiến nghị nào có thể rút ra cho các DNNVV nhằm cải thiện khả năng

1.5 Phương pháp và quy trình nghiên cứu

1.5.1 Phương pháp nghiên cứu

Luận án dùng cả phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng để phục vụ cho quá trình nghiên cứu

Bảng 1.1 Phương pháp nghiên cứu Bước Phương pháp

01 tháng (tháng 5 năm 2016)

Phỏng vấn trực tiếp – chính thức

4 tháng (từ tháng 5-tháng 9 năm 2016)

(1) Nghiên cứu định tính: Được tiến hành để khám phá nhân tố đặc thù trong hành vi của chủ sở hữu, điều chỉnh và bổ sung các biến quan sát để đo lường các khái niệm nghiên cứu

(2) Nghiên cứu định lượng: Được tiến hành theo hai giai đoạn Giai đoạn 1 là nghiên cứu sơ bộ và giai đoạn 2 là nghiên cứu chính thức Cả 2 giai đoạn đều sử dụng phương pháp khảo sát để thu thập dữ liệu

Trang 5

1.6 Các đóng góp của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án có những đóng góp về cả lý luận lẫn thực tế

* Những đóng góp về mặt lý luận

Thứ nhất: Luận án đã vận dụng quan điểm của tài chính hành vi và vốn xã hội

để xem xét những lý do tiềm ẩn bên trong chủ các DNNVV từ đó giải thích hành vi tham gia và lựa chọn tín dụng Nghiên cứu này được thực hiện, góp phần làm phong phú thêm lĩnh vực nghiên cứu và góp phần vào nền tảng kiến thức chung

Thứ hai, các nghiên cứu trước đây trên thế giới đã khẳng định vai trò quan trọng của vốn xã hội trong việc nâng cao khả năng tiếp cận tài chính Bằng cách chia nguồn vốn

xã hội của doanh nghiệp thành 4 nhóm và đo lường mức độ sử dụng các mạng lưới này nghiên cứu đã chỉ mức độ sử dụng mạng lưới với nhóm cho vay chính thức và không chính thức sẽ ảnh hưởng đến tham gia tín dụng và lựa chọn tín dụng của DNNVV

Thứ ba: Tác giả đề xuất được kiểm định trong bối cảnh mới, là tiểu vùng Tây Bắc nơi có vị trí đặc biệt quan trọng về an ninh, chính trị, kinh tế kém phát triển nhất

cả nước và tồn tại 22 dân tộc anh em sinh sống Tại nơi đây có lẽ chưa từng có một nghiên cứu nào được thực hiện

Thứ tư: Về các thang đo lường các biến trong nghiên cứu định lượng, tuy là sử dụng của các học giả nước ngoài trước đây Tuy nhiên, nghiên cứu này đã địa phương hóa cho phù hợp với bối cảnh của Việt Nam nói chung và của tiểu vùng Tây Bắc nói riêng thông qua phỏng vấn sâu và đảm bảo độ tin cậy của thang đo

* Những đóng góp về mặt thực tiễn

Thứ nhất: Luận án cung cấp cho các cơ quan quản lý, các hiệp hội doanh nghiệp biết thực trạng hiệu quả kinh doanh, cơ cấu vốn, lựa chọn vốn của các DNNVV Tây Bắc, điều này có thể tương đối quan trọng đối với họ, bởi lẽ, cho đến nay chưa có cơ quan nào tổng hợp và đưa ra báo cáo chi tiết, cụ thể

Thứ hai: Kết quả của nghiên cứu này có ý nghĩa góp ý cho các cơ quan quản

lý, các ngân hàng thương mại và bản thân các DNNVV hiểu về hành vi tham gia và lựa chọn tín dụng của DNNVV để có chính sách cho phù hợp nhằm khuyến khích các DNNVV tham gia vào thị trường tín dụng và lựa chọn tín dụng chính thức để nền kinh tế năng động, linh hoạt hơn

Thứ ba: Luận án cũng đưa ra được một số khuyến nghị cho hiệp hội doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng, các cơ quan của Chính phủ nhằm giúp các DNNVV tăng cường tiếp cận tín dụng

1.7 Bố cục luận án

Bố cục luận án gồm 5 chương

Chương 1: Giới thiệu chung về nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý luận về lựa chọn nguồn tài trợ vốn của DNNVV

Chương 3: Thực trạng lựa chọn nguồn tài trợ của DNNVV Tây Bắc

Chương 4: Phương pháp và kết quả nghiên cứu

Chương 5: Thảo luận và khuyến nghị

Trang 6

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỰA CHỌN NGUỒN TÀI TRỢ VỐN CỦA DNNVV 2.1 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan

2.1.1 Tổng quan về lựa chọn tài trợ vốn của DNNVVV

Các DNNVV là bộ phận năng động và có đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế của mọi quốc gia, nhưng các DNNVV đang phải đối mặt với nhiều khó khăn đặc biệt tình trạng thiếu vốn Mặc dù, các nguồn tài trợ vốn cho DNNVV rất đa dạng như: vốn tự có, lợi nhuận giữ lại hoặc các nguồn tài trợ bên ngoài như: các khoản vay từ gia đình, bạn bè, các đối tượng cho vay cá nhân, tín dụng thương mại, quỹ đầu tư mạo hiểm, bao thanh toán, tín dụng từ các tổ chức tài chính,…trong đó nguồn tài trợ

từ tín dụng ngân hàng là quan trọng và phổ biến nhất ở hầu hết các quốc gia đặc biệt

là các quốc gia đang phát triển (Carey và Flynn, 2005) nhưng các DNNVV khó tiếp cận nguồn tín dụng này do bị chi phối bởi Chính Phủ nên đã quá ưu ái cấp tín dụng cho các doanh nghiệp Nhà nước (Perotti, 1993) và sự bất cân xứng thông tin giữa người cho vay và người đi vay Peirson và cộng sự (1999) Vì vậy, nhiều doanh nghiệp

có quan điểm không muốn đi vay (tham gia tín dụng) mặc dù có “đủ khả năng” (Kon

và Storey, 2003) vì họ nghĩ rằng hồ sơ vay vốn của họ sẽ bị từ chối Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp khi chấp nhận tham gia tín dụng lại có xu hướng lựa chọn tín dụng không chính thức làm nguồn tài trợ chính

Trong một số các cơ sở lý giải cho việc lựa chọn nguồn vốn của DNNVV đã được kiểm chứng là dựa trên lý thuyết cơ cấu vốn như các nghiên cứu của Bradley và cộng sự (1984), Friend và Lang (1988), Beck và Levine (2004), Beck và cộng sự (2005), Marsh (1982), Rajan và Zingales (1995), Booth và cộng sự (2001) Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cũng cho thấy lựa chọn nguồn vốn không hẳn dựa trên cơ sở

lý thuyết cơ cấu vốn mà dựa vào đặc điểm tâm lý của chủ doanh nghiệp và mối quan

hệ của chủ doanh nghiệp với các tổ chức cung ứng vốn như các nghiên cứu của Baker

và cộng sự (2005), Heaton (2002), Fairchild (2005), Laibson và cộng sự, (2003), Bauer và cộng sự (2012), Brown và cộng sự (2013) Ngoài ra, nghiên cứu của Hussain và cộng sự (2006), McMillan và Woodruff (2002) chỉ ra vốn xã hội sẽ trợ giúp DNNVV tìm kiếm các nguồn tài trợ khác một cách dễ dàng thông qua các mối quan hệ Nghiên cứu của Firth et al (2009) đã chỉ ra nếu các DNNVV không có mối quan hệ với các ngân hàng thương mại thì sẽ rất hiếm các doanh nghiệp được vay vốn

do đó các DNNVV có xu hướng xa lánh nguồn tài chính chính thức từ các ngân hàng

và tiếp cận với nguồn phi chính thức

2.1.2 Khoảng trống của các công trình đã công bố

Các nghiên cứu trước đây về lựa chọn nguồn tài trợ vốn của DNNVV còn bộc

Trang 7

tổng số DNNVV Các DNNVV này có thể là khách hàng tiềm năng trong tương lai nếu các ngân hàng cung cấp các sản phẩm/dịch vụ tín dụng phù hợp Từ đó sẽ thúc đẩy việc mở rộng và phát triển cả khu vực DNNVV

Thứ ba: các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào quyết định vay vốn chính thức (vay NHTM) của DNNVV nhưng bỏ qua việc nghiên cứu các nhân

tố ảnh hưởng đến lựa chọn vay không chính thức Các nghiên cứu về vay không chính thức chỉ tập trung chủ yếu vào đối tượng hộ gia đình ở khu vực nông thôn

Thứ tư: vùng Tây Bắc Việt Nam, một vùng có vị trí chiến lược quan trọng về quân sự, chính trị, các doanh nghiệp tại đây còn gặp rất nhiều khó khăn đề phát triển, mang đầy đủ đặc trưng của DNNVV Việt Nam thì chưa có một nghiên cứu nào về tham gia và lựa chọn tín dụng

2.2 Cơ sở lý thuyết

2.2.1 Các lý thuyết cơ cấu vốn và lựa chọn nguồn tài trợ vốn

Trong trường hợp nghiên cứu của DNNVV thì rất nhiều các nghiên cứu chỉ ra rằng các DNNVV quyết định lựa chọn nguồn tài trợ vốn theo lý thuyết trật tự phân hạng vì các lập luận đều cho rằng các DNNVV phần lớn không thể phát hành cổ phiếu cũng như khó có thể tiếp cận nguồn từ các quỹ đầu tư mạo hiểm để huy động vốn, mà chủ yếu dựa vào vốn chủ, trường hợp rất cần thiết để mở rộng quy mô các DNNVV sẽ đi vay Các khẳng định này được các nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra như

nghiên cứu của Blumberg và Letterie (2008), Leary và Roberts (2005)

2.2.2 Lý thuyết tài chính hành vi và lựa chọn nguồn tài trợ vốn

Đối với quyết định lựa chọn nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh đã có nhiều học giả xem xét mối tương quan giữ việc lựa chọn vốn của DNNVVV với các yếu tố phi tài chính dựa vào quan điểm tài chính hành vi Các nghiên cứu của Baker và cộng

sự (2007), Heaton (2002), Fairchild (2005) đều cho rằng sự lạc quan và quá tự tin có tác động đáng kể đến quyết định của nhà quản lý tài chính và các nhà đầu tư Nghiên cứu của Grable và Lytton (2003) cho rằng với các CEO có khả năng chấp nhận rủi ro cao thường vay nợ nhiều Ngược lại, với các CEO e ngại với rủi ro thì không thích vay nợ và thường dựa vào nguồn tài trợ nội bộ như nghiên cứu của Malmendier và

cộng sự (2011)

Đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm xem xét mối quan hệ giữa các yếu tố tài chính hành vi và việc quyết định vay tiêu dùng như nghiên cứu của Bauer và cộng sự (2012) về quyết định lựa chọn vay các tổ chức tài chính vi mô của phụ nữ nông thôn

Ấn Độ cho rằng yếu tố thiên vị lựa chọn hiện tại có ảnh hưởng đến lựa chọn vay vốn Ngoài ra các nghiên cứu của Brown và cộng sự (2008), Daly và cộng sự (2010), Davies và Lea (1995) đã chỉ ra mối quan hệ giữa thái độ với nợ, thái độ đối với rủi ro

có ảnh hưởng quyết định đi vay

2.2.3 Lý thuyết vốn xã hội và lựa chọn nguồn tài trợ vốn

Một số nghiên cứu đã thừa nhận rằng vốn xã hội không chỉ giúp các doanh nghiệp tự tin đưa ra các quyết định kinh doanh mà còn giúp các doanh nghiệp có được danh tiếng và tăng cường tính pháp lý Nếu có được danh tiếng thì các doanh nghiệp sẽ có điều kiện được tiếp cận với các nguồn lực bên ngoài như các khoản

Trang 8

vay từ các tổ chức tín dụng, đặc biệt là đối các DNNVV tại các nước chậm phát triển đang hoạt động trong môi trường bất cân xứng thông tin, trở ngại tiếp cận thị trường tín dụng, tài sản thế chấp có giá trị ít, luôn tiềm ẩn rủi ro đạo đức thể hiện trong nghiên cứu của Biggs và Shah (2006), Anderson và cộng sự (2002)

2.2.4 Lựa chọn lý thuyết phù hợp cho nghiên cứu

Các lý thuyết về cơ cấu vốn chưa thể giải thích được tình trạng các DNNVV lựa chọn tín dụng không chính thức có lãi suất cao hơn nhiều lần so với đi vay ngân hàng và một bộ phận doanh nghiệp lại không đi vay hoặc không muốn đi vay nữa do

bị từ chối nhiều từ các tổ chức tín dụng mặc dù vẫn có nhu cầu vay

Có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng lý thuyết tài chính hành vi có thể dùng để giải thích các quyết định lựa chọn tài chính trong tiêu dùng và trong hoạt động đầu tư, Ngoài ra,thì lý thuyết vốn xã hội cũng được nhiều các nghiên cứu chỉ ra có thể vận dụng đề giải thích việc lựa chọn nguồn tài trợ chính thức và không chính thức của DNNVV Từ các lập luận trên, để tìm nhân tố ảnh hưởng đến việc tham gia và lựa chọn tín dụng có thể dùng lý thuyết hành vi tài chính và lý thuyết vốn xã hội để lập luận tìm nhân tố từ nghiên cứu thực nghiệm

2.2.5 Khái quát về các nhân tố ảnh hưởng

2.2.4.1 Thiên lệch lựa chọn hiện tại (Thiếu kiên nhẫn trong lựa chọn)

Về mối quan hệ giữa thái độ không kiên nhẫn và lựa chọn các nguồn vốn đã

có nhiều nghiên cứu chỉ ra như nghiên cứu của Meier và Sprenger (2007) chỉ ra rằng nếu các tổ chức tín dụng có thể cung cấp các khoản vay ngay lập tức thì việc vay nợ sẽ không ngừng gia tăng Ngoài ra, còn một số nghiên cứu cũng có cùng quan điểm như Ikeda và cộng sự (2010), Bauer và cộng sự (2012), Laibson (1996), Krusell và cộng sự (2002), Laibson và cộng sự (2003)

2.2.4.2 Thái độ với rủi ro

Nghiên cứu của Daly và cộng sự (2010) đã khẳng định rằng thái độ đối với rủi ro là một biến độc lập của việc vay nợ, nghiên cứu kết luận rằng thái độ đối rủi

ro là một yếu tố có tác động mạnh mẽ đến việc vay nợ của các cá nhân cho dù đặc điểm nhân khẩu học, tính cách, xem xét hậu quả trong tương lai là khác nhau

2.2.4.4 Tâm lý quá tự tin

Về mối quan hệ giữa tâm lý quá tự tin và việc sử dụng nợ của doanh nghiệp đã

có nhiều nghiên cứu nhắc đến như nghiên cứu của Shefrin (2001), Heaton (2002), Baker và cộng sự (2007), Hackbarth (2008), Oliver (2005) Các nghiên cứu này cho rằng việc quá tự tin trong quản lý sẽ dẫn đến sử dụng đòn bẩy tài chính cao

2.2.4.5 Mạng lưới xã hội

Các nhà nghiên cứu đều khẳng định rằng các mạng lưới có thể giúp các doanh nghiệp để nâng cao tính hợp pháp và sau đó tăng cường tiếp cận tài chính từ bên ngoài

Trang 9

như nghiên cứu của Peng và Luo (2000), Talavera và cộng sự (2010) Nghiên cứu của Peng và La Chí Tường (2000) khẳng định sự liên kết mạng với quan chức chính phủ sẽ giúp hỗ trợ các thủ tục vay với các cơ quan và các ngân hàng được trơn tru và nhanh chóng hơn Tương tự như vậy, các mối quan hệ tốt với các nhà quản lý tại các doanh nghiệp khác cũng có thể giúp các doanh nghiệp tiếp cận nguồn tín dụng tốt hơn, giảm bớt các thủ tục, các mối quan hệ khác cũng được thiết lập Các nghiên cứu sâu hơn về vai trò của các mạng đến việc tiếp cận các nguồn vốn vay của các DNVVN có thể được tìm thấy trong các nghiên cứu của Zhang và cộng sự (2006), Biggs và Sha (2006), Atieno (2009), Khwaja và cộng sự (2011)

2.2.4.6 Các nhân tố khác khác

a Đặc điểm của chủ sở hữu

* Giới tính: Các nghiên cứu của Carter và Rosa (1998), Verhuel và Thurik,

(2001), Alicia và Wolken (2002) cho rằng quyết định vay nợ có sự khác nhau về giới tính của chủ sở hữu

* Độ tuổi: Nghiên cứu của Romano và cộng sự (2001) cho rằng những chủ

doanh nghiệp trẻ tuổi thường đi vay nhiều hơn các chủ doanh nghiệp nhiều tuổi

* Trình độ học vấn: Nghiên cứu của Coleman (2007) khẳng định trình độ học

vấn của chủ sở hữu có quan hệ tích cực đến việc sử dụng đòn bẩy tài chính

* Kinh nghiệm: Nghiên cứu của Cole (1998) kết luận kinh nghiệm của chủ sở hữu

được đo bằng số năm làm việc trong một lĩnh vực kinh doanh cụ thể và nó có tác động tích cực đến việc lựa chọn nguồn tài trợ vốn của doanh nghiệp

b Đặc điểm của doanh nghiệp

* Quy mô: Quy mô của một doanh nghiệp một yếu tố được nhắc đến nhiều nhất ảnh

hưởng đến lựa chọn nguồn tài trợ vốn cụ thể như các nghiên cứu của Friend và Lang (1988), Devereux và Schiantarelli (1990), Beck và Levine, (2004), Beck và cộng sự (2005)

* Tuổi doanh nghiệp: đã có nhiều nghiên cứu cũng khẳng định ảnh hưởng tích

cực của yếu tố thời gian hoạt động đến việc sử dụng nợ như nghiên cứu của Coleman

và Cohn (2000), Beck và cộng sự (2005), Akoten và cộng sự (2006)

* Hình thức pháp lý: Về khía cạnh hình thức sở hữu, một số nghiên cứu cho

rằng với các hình thức pháp lý khác nhau thì việc lựa chọn nguồn tài trợ vốn cũng khác nhau như nghiên cứu của Laeven (2003), Le và Nguyen (2009)

* Báo cáo tài chính đƣợc kiểm toán: nghiên cứu của Berry và cộng sự (1993)

cho rằng các doanh nghiệp có báo cáo tài chính đã được kiểm toán có khả năng lựa chọn nguồn vốn vay chính thức với chi phí thấp so với các doanh nghiệp chưa có báo cáo tài chính được kiểm toán

2.3 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

Tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu dự kiến hình 2.2 và các giả thuyết như sau: Giả thuyết H1a: Các yếu tố thuộc tài chính hành vi như: thiếu kiên nhẫn lựa chọn, thái độ đối với rủi ro, thái độ đối với nợ, tâm lý quá tự tin có ảnh hưởng đến tham gia tín dụng của các DNNVV

Giả thuyết H2a: Các yếu tố đặc điểm chủ sở hữu có ảnh hưởng đến tham gia tín dụng của các DNNVV

Trang 10

Giả thuyết H3b: Các yếu tố đặc điểm doanh nghiệp có ảnh hưởng đến tham gia tín dụng của các DNNVV

Giả thuyết H4a: Yếu tố vốn xã hội có ảnh hưởng đến tham gia tín dụng của các DNNVV

Giả thuyết H1b: Các yếu tố thuộc tài chính hành vi như: Thiếu kiên nhẫn lựa chọn, thái độ đối với rủi ro, thái độ đối với nợ, tâm lý quá tự tin có ảnh hưởng đến lựa chọn tín dụng của các DNNVV

Giả thuyết H2b: Các yếu tố đặc điểm chủ sở hữu có ảnh hưởng đến lựa chọn tín dụng của các DNNVV

Giả thuyết H3b: Các yếu tố đặc điểm doanh nghiệp có ảnh hưởng đến lựa chọn tín dụng của các DNNVV

Giả thuyết H4b: Yếu tố vốn xã hội có ảnh hưởng đến có ảnh hưởng đến lựa chọn tín dụng của các DNNVV

Đặc điểm CSH/DN

Mạng lưới

xã hội

Tham gia tín dụng

Lựa chọn nguồn tài trợ vốn

Trang 11

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG LỰA CHỌN CÁC NGUỒN TÀI TRỢ VỐN CỦA DNNVV

TÂY BẮC 3.1 Khái quát về DNNVV Việt Nam

Định nghĩa: Tại Việt Nam định nghĩa DNNVV được hiểu theo Nghị định số

56/2009/NĐ-CP Theo Nghị định này thì “DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký

kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)” Các DNNVV Việt Nam có vai trò rất lớn

trong đóng góp cho tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, tham gia vào quá trình phân phối lại thu nhập, giúp ổn định xã hội Ngoài ra còn là khu vực thu hút các nguồn vốn, nguồn lực của xã hội cho đầu tư phát triển, làm cho nền kinh tế năng động hơn, tạo ra những đội ngũ doanh nhân kế cận trong tương lai,…

3.2 Vai trò của Chính phủ đối với sự phát triển của DNNVV

Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách cụ thể đối với các DNNVV như Kế hoạch phát triển DNNVV giai đoạn 2006 – 2010, Kế hoạch phát triển DNNVV từ năm 2011 - 2015 (Quyết định số 1231/QĐ-TTg) Một nội dung quan trọng trong các chính sách trên là hỗ trợ tài chính cho các DNNVV, hỗ trợ cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Ngoài ra, Chính phủ còn thành lập ra Cục Phát triển DNNVV (ASMED) trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư chuyên phục vụ việc xây dựng và thực hiện chính sách cho DNNVV

Về hỗ trợ các DNNVV tiếp cận tài chính: Chính phủ đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ DNNVV Đó là những quy định tài chính khuyến khích mở rộng cho vay đối với các DNNVV, thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV, cung cấp các chương trình đào tạo cho các doanh nghiệp nhỏ để giúp họ nâng cao năng lực của mình trong kỹ năng quản lý và lập kế hoạch kinh doanh, thành lập Quỹ phát triển DNNVV, các quỹ hỗ trợ xuất khẩu, Quỹ Hỗ trợ phát triển tại địa phương Để hỗ trợ tài chính cho khu vực này, hầu hết các quốc gia đều có Quỹ Phát triển DNNVV

3.3 Khái quát về các nguồn tài trợ vốn cho DNNVV

Về mặt lý thuyết thì hiện nay có rất nhiều nguồn tài trợ vốn mà các DNNVV

có thể lựa chọn để huy động cho hoạt động kinh doanh Cụ thể, các DNNVV Việt Nam có thể huy động tài trợ từ các nguồn sau: (1) nguồn tài trợ từ vay các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, (2) nguồn tài trợ từ các chương trình của Chính phủ, (3) nguồn tài trợ từ thị trường chứng khoán, (4) nguồn tài trợ từ nguồn vốn liên doanh, (5) nguồn tài trợ từ thuê tài chính, (6) nguồn tài trợ từ bao thanh toán, (7) vốn chủ sở hữu và tín dụng không chính thức

3.4 Khái quát về các DNNVV Tây Bắc

Theo báo cáo trong niên giám của Cục thống kê các tỉnh thì số lượng DNNVV Tây Bắc đã không ngừng tăng lên qua các năm tính đến năm 2015 số DNNVV Tây Bắc là 5.346 doanh nghiệp Tuy số lượng DNNVV Tây Bắc có tăng

Trang 12

lên theo thời gian nhưng còn chưa tương xứng với tiềm năng, với tổng diện tích của vùng Tổng số DNNVV Tây Bắc chỉ chiếm khoảng hơn 1% số lượng DNNVV cả nước, chỉ bằng ½ số DNNVV của Tây Nguyên (cũng có 4 tỉnh) Tính

đến năm 2015 toàn vùng có 99,7% DNNVV thuộc khu vực kinh tế ngoài Nhà

nước còn lại 0,3% thuộc kinh tế Nhà nước Trong năm 2014 các DNNVV Tây Bắc đã đóng góp cho ngân sách Nhà nước 798 tỷ đồng, giải quyết việc là m cho 118.682 lao động, thu nhập bình quân lao động/năm là 4.276.000 đồng Tuy nhiên, lợi nhuận sau thuế năm 2015 đang ở mức âm

3.5 Thực trạng nguồn vốn và lựa chọn nguồn vốn của DNNVV Tây Bắc

3.5.1 Thực trạng nguồn vốn

Cơ cấu nguồn vốn của các DNNVV Tây Bắc được thể hiện trong bảng 3.9

Bảng 3.9: Cơ cấu nguồn vốn của DNNVV Tây Bắc giai đoạn 2011 - 2015

Nguồn: Cục thống kê các tỉnh Tây bắc (2011,2012,2013,2014,2015)

Số liệu trong bảng 3.9 cho thấy rằng các DNNVV Tây Bắc sử dụng vốn chủ khoảng 36% tổng vốn còn lại khoảng 64% là nguồn vốn bên ngoài và liên tục gia tăng qua các năm cùng với việc tăng lên của tổng vốn kinh doanh, tốc độ gia tăng vốn vay trung bình trong giai đoạn 2011 - 2015 là 28% mỗi năm

Trang 13

Kết quả điều tra doanh nghiệp các tỉnh cho thấy các DNNVV đang dùng 5 nguồn chính để tài trợ cho việc kinh doanh là: vốn chủ sở hữu, vay ngân hàng, vay các tổ chức tài chính phi ngân hàng, vay bạn bè, người thân và các nguồn khác

Trong các nguồn này thì nguồn vốn chủ và vốn vay ngân hàng là hai nguồn tài trợ chính với tổng vốn huy động chiếm lần lượt 39,2% và 45% Nguồn huy động từ bạn bè, người thân chiếm khoảng 12,6% tổng vốn cũng là một nguồn quan trọng còn lại 3,2% số vốn được huy động từ các tổ chức phi tài chính và các nguồn khác như tín dụng thương mai, ứng trước khách hàng,…

3.6 Đánh giá thực trạng nguồn tài trợ vốn của DNNVV Tây Bắc

Thông qua các số liệu về thực trạng nguồn vốn của các DNNVV Tây Bắc có thể đưa ra các nhận xét sau:

+ Phần lớn các DNNVV Tây Bắc đang hoạt động trong tình trạng không đủ vốn cần thiết, tình trạng này đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh doanh cũng như năng lực cạnh tranh trên thị trường nội tỉnh và cả nước

+ Khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay của các DNNVV Tây Bắc gặp nhiều khó khăn do các điều kiện vay vốn phức tạp, chi phí giao dịch cao

+ Mặc dù có nhiều nguồn cung ứng vốn nhưng tại vùng Tây Bắc vốn tín dụng ngân hàng vẫn là kênh cung ứng nguồn vốn chủ yếu cho các DNNVV Tuy nhiên, nguồn vốn tín dụng ngân hàng cho DNNVV Tây Bắc đang có xu hướng giảm và chưa đáp ứng được nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp

+ Nguồn vốn tín dụng thương mại hiện nay tại vùng Tây Bắc chưa pháp triển, liên kết trong hệ thống DNNVV chưa cao, vai trò của các tổ chức chính trị, xã hội hỗ trợ doanh nghiệp chưa phát huy hết vai trò của mình trong kết nối cũng như bảo lãnh doanh nghiệp

+ Các nguồn cung ứng khác như cho thuê tài chính, vốn từ các quỹ đầu tư mạo hiểm, vốn từ thị trường chứng khoán chưa thực sự phát triển tại vùng Tây Bắc

+ Các chương trình, dự án về nguồn vối đối với các DNNVV của Nhà nước tại vùng Tây Bắc chậm được triển khai hay khó đến được đối tượng thụ hưởng

+ Nguồn tín dụng không chính thức từ vay bạn bè, người thân, các nhóm cho vay cũng đang là nguồn bên ngoài quan trọng của các DNNVV trong việc đáp ứng nhu cầu ngắn hạn, tức thời Tuy nhiên, nguồn này có hạn chế là quy mô vốn thấp, một số khoản vay có lãi suất cao hơn nhiều lần so với lãi suất ngân hàng

Ngày đăng: 15/01/2021, 21:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Cơ cấu nguồn vốn của cỏc DNNVV Tõy Bắc được thể hiện trong bảng 3.9. - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn nguồn tài trợ vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa trường hợp tiểu vùng Tây Bắc
c ấu nguồn vốn của cỏc DNNVV Tõy Bắc được thể hiện trong bảng 3.9 (Trang 12)
Kết quả kiểm định sự phự hợp của thang đo được thể hiện qua cỏc bảng dưới đõy: - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn nguồn tài trợ vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa trường hợp tiểu vùng Tây Bắc
t quả kiểm định sự phự hợp của thang đo được thể hiện qua cỏc bảng dưới đõy: (Trang 15)
Bảng 4.8: Kết quả phõn tớch Cronbach’s Alpha biến Thỏi độ với nợ Thỏi độ với nợ  - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn nguồn tài trợ vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa trường hợp tiểu vùng Tây Bắc
Bảng 4.8 Kết quả phõn tớch Cronbach’s Alpha biến Thỏi độ với nợ Thỏi độ với nợ (Trang 15)
Bảng 4.10: Kết quả phõn tớch EFA với số liệu thu đƣợc Biến Thỏi độ với nợ Mạng lƣới  - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn nguồn tài trợ vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa trường hợp tiểu vùng Tây Bắc
Bảng 4.10 Kết quả phõn tớch EFA với số liệu thu đƣợc Biến Thỏi độ với nợ Mạng lƣới (Trang 16)
Bảng 4.24 cho thấy giỏ trị -2LL = 145.261 là khụng quỏ cao, thể hiện mức độ phự hợp tốt của mụ hỡnh tổng thể - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn nguồn tài trợ vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa trường hợp tiểu vùng Tây Bắc
Bảng 4.24 cho thấy giỏ trị -2LL = 145.261 là khụng quỏ cao, thể hiện mức độ phự hợp tốt của mụ hỡnh tổng thể (Trang 17)
Bảng 4.30: Kiểm định Omnibus Omnibus Tests of Model Coefficients - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn nguồn tài trợ vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa trường hợp tiểu vùng Tây Bắc
Bảng 4.30 Kiểm định Omnibus Omnibus Tests of Model Coefficients (Trang 19)
Bảng 4.32: Khả năng dự bỏo của mụ hỡnh Classification Tablea - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn nguồn tài trợ vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa trường hợp tiểu vùng Tây Bắc
Bảng 4.32 Khả năng dự bỏo của mụ hỡnh Classification Tablea (Trang 20)
Bảng 4.33: Tổng hợp hệ số hồi quy lựa chọn tớn dụng lần ba Variables in the Equation - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn nguồn tài trợ vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa trường hợp tiểu vùng Tây Bắc
Bảng 4.33 Tổng hợp hệ số hồi quy lựa chọn tớn dụng lần ba Variables in the Equation (Trang 20)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w