Tuy nhiên, do phải hoạt động trong môi trường mà các điều kiện về tiền tệ, lạm phát chưa ổn định, cạnh tranh ngày càng gay gắt và do những nguyên nhân khác từ phía Ngân hàng cũng như k[r]
Trang 1TÓM TẮT LUẬN VĂN PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế đã mở ra cho Việt Nam nhiều cơ hội cũng không ít thách thức trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, đặc biệt ngành Ngân Hàng Hệ thống NHTM vốn giữ vai trò “huyết mạch” trong nền kinh tế thị trường đang phải hoạt động trong môi trường cạnh tranh hết sức gay gắt Những ngân hàng hàng đầu thế giới với những lợi thế vượt trội về vốn, quy mô hoạt động, mạng lưới, công nghệ quản lý và đặc biệt là sự đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ gần như đã có mặt ở Việt Nam như BNP Paribas, Citigroup, HSBC, Crédit Agricole, Deutsche Bank Bối cảnh cạnh tranh này đặt ra yêu cầu cấp bách cho các NHTM nội địa phải cải tiến hoạt động của mình hướng về khách hàng để tồn tại và phát triển
Cùng với sự phát triển và tăng trưởng không ngừng của nền kinh tế, nhu cầu vốn đang là một nhu cầu vô cùng cấp thiết cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, trang thiết bị cũng như chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội Chính vì thế mà hiện nay hệ thống ngân hàng thương mại đang phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam và giữ một vị trí chiến lược trong việc đáp ứng nhu cầu về vốn với nền kinh tế Và tín dụng là công cụ đắc lực để thực hiện điều đó
Trong ngân hàng tín dụng là nghiệp vụ sinh lời lớn nhất thông qua thu lãi cho vay, quan hệ tín dụng là quan hệ xương sống, quyết định mọi hoạt động kinh tế trong nền kinh
tế quốc dân, nó quyết định sự tồn tại phát triển của Ngân hàng Tuy nhiên, hoạt động tín dụng hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, các hoạt động tín dụng mang lại nhiều rủi ro nhất ngay cả với các khoản vay có tài sản cầm cố, thế chấp được xác định có hệ số rủi ro là 50% Ngoài ra chất lượng tín dụng đang chịu tác động và ảnh hưởng bởi rất nhiều nhân
tố liên quan như: Môi trường kinh tế, chính trị, pháp lý; môi trường văn hóa, xã hội, dân cư; môi trường cạnh tranh, sản phẩm dịch vụ thay thế, khách hàng và cả môi trường nội tại từ phía các Ngân hàng Chính các nhân tố này ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động tín dụng tại các Ngân hàng cũng như sự phát triển của nền kinh tế Vì vậy để nâng cao nâng lực cạnh tranh, các NHTM cần phải nâng cao chất lượng tín dụng vì chất lượng tín dụng
Trang 2là yếu tố sống còn đối với hoạt động của một ngân hàng thương mại bởi chất lượng tín dụng thể hiện ở khả năng hoàn trả nợ đúng hạn của người đi vay cho ngân hàng Chất lượng tín dụng có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động tín dụng nói chung cũng như tổng thể hoạt động của ngân hàng Chất lượng tín dụng quyết định khả năng thu hồi vốn
và lãi cho ngân hàng Trong khi các khoản cho vay đối với khách hàng (là các tổ chức kinh tế và các cá nhân) chiếm đến 70% tổng tài sản có, nguồn thu nhập từ lãi cho vay là nguồn thu nhập chủ yếu của một ngân hàng thương mại Vì vậy chất lượng tín dụng quyết định khả năng thu lợi nhuận của ngân hàng Chất lượng tín dụng tốt không chỉ nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động của mỗi ngân hàng riêng lẻ mà còn cho cả hệ thống bởi mối quan
hệ mật thiết của các ngân hàng thương mại với tổng thể nền kinh tế cũng như với từng chủ thể kinh tế bằng vai trò thực thi chính sách tiền tệ và điều tiết vĩ mô nền kinh tế của mình Do vây có thể hiểu “Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, phản ánh sức mạnh cạnh tranh, sự thích nghi của ngân hàng với môi trường bên ngoài để ngân hàng có thể tồn tại và phát triển”
Chất lượng dịch vụ ngân hàng có gì khác với chất lượng dịch vụ ở các lĩnh vực khác?
Để trả lời câu hỏi này đã có nhiều nghiên cứu về chất lượng tín dụng ngân hàng, cho vay tín chấp và chất lượng dịch vụ ngân hàng trực tuyến được đề cập đến
Herington & Weaven (2007) cũng đã khám phá tác động của chất lượng dịch vụ trực tuyến đến mức độ thỏa mãn của khách hàng và sự phát triển của mỗi quan hệ khách hàng Một cuộc khảo sát nhằm thu thập dữ liệu từ mẫu thuận tiện của 200 người trả lời người Úc sử dụng ngân hàng trực tuyến Phân tích nhân tố và mô hình cấu trúc tuyến tính được sử dụng để kiểm định các mô hình Kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng dịch vụ trực tuyến không có ảnh hưởng đến sự thỏa mãn của khách hàng, sự tin cậy hoặc sự phát triển của mối quan hệ với khách hàng nhưng lại có một mối quan hệ với lòng trung thành Tuy nhiên, yếu tố “hiệu quả” của chất lượng dịch vụ trực tuyến có liên quan đến sự tin cậy Yếu tố “nhu cầu cá nhân” và “trang web của tổ chức” của chất lượng dịch vụ trực tuyến có liên quan đến sự trung thành, trong đó “nhu cầu cá nhân” có tác động mạnh nhất
Nhận thức được điều đó, thời gian qua Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội luôn quan tâm đến việc phát triển hoạt động tín dụng và bước đầu đã thu được những thành
Trang 3quả nhất định Tuy nhiên bên cạnh những thành quả đó, Ngân hàng cũng gặp phải không
ít khó khăn, hạn chế Những khó khăn, hạn chế đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng đều ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng và khả năng thu hồi nợ Chất lượng tín dụng cũng vì thế bị ảnh hưởng và cần có những giải pháp để nâng cao hơn nữa, Đề tài này tại Ngân hàng TMCP SHB Chi nhánh Đồng Nai vẫn chưa được nghiên cứu nên tôi
quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP SHB Chi nhánh Đồng Nai”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống hóa lý luận về chất lượng tín dụng và đánh giá chất lượng tín dụng của NHTM, các mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của NHTM
Đánh giá các yếu tố cấu thành chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn –
Hà Nội các biện pháp mà ngân hàng đã triển khai để nâng cao chất lượng tín dụng từ đó
đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng trong thời gian tới
3 Đối tượng nghiên cứu và Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng tín dụng, các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng tại Ngân hàng thương mại
Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: Nghiên cứu tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội Chi nhánh Đồng Nai
+ Thời gian: Nghiên cứu thực trạng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội Chi nhánh Đồng Nai trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2014, đề xuất giải pháp đến năm
2020
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin số liệu:
+ Số liệu thứ cấp: Các thông tin số liệu hoạt động kinh doanh của ngân hàng lấy từ các báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo tài chính của ngân hàng
+ Số liệu sơ cấp: Tiến hành tổ chức điều tra lấy ý kiến của khách hàng về chất lượng tín dụng của ngân hàng
Phương pháp phân tích xử lý số liệu: Luận văn sử dụng phương pháp thống kê mô
Trang 4tả, tính điểm trung bình của các yếu tố cấu thành chất lượng tín dụng của ngân hàng để từ
đó biết được những mặt đạt được và chưa được trong chất lượng tín dụng của ngân hàng, làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp
5 Bố cục luận văn
Kết cấu luận văn bao gồm 4 chương:
Chương 1: Giới thiệu các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Chương 2: Chất lượng tín dụng và mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương mại
Chương 3: Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ tại ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội Chi nhánh Đồng Nai
Chương 4: Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, Chi nhánh Đồng Nai
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Luận án Tiến sỹ của Nguyễn Văn Hưng (2003) Trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân
“Giải pháp hoàn thiện quy chế bảo đảm an toàn trong cho vay của các NHTM Việt Nam”
Luận án Tiến sỹ của Võ Việt Hùng (2009) Trường Đại Học Kinh tế Thành Phố Hồ Chí Minh “Giải pháp nhằm mở rộng hoạt động tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”
Luận văn Thạc sỹ Trần Hồng Hải (2006) Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân “Nâng cao chất lượng tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng An”
Luận văn Thạc sỹ Đỗ Tiến Hòa (2007) Trường Đại học Kinh tế TP.HCM “Nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng doanh nghiệp đối với sản phẩm, dịch vụ ngân hàng HSBC, Chi nhánh TP.HCM”
Luận văn Thạc sỹ Nguyễn Viết Hải (2011) Trường Đại học Đà Nẵng “Nghiên cứu
sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ tín dụng tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Kon Tum”
Trang 5Luận văn Thạc sỹ Lê Thị Thanh Trúc (2013) Trường Đại học Kinh tế Tp.HCM
“Nghiên cứu chất lượng dịch vụ ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng tại Ngân hàng TMCP Kỹ Thương trên đại bàn Thành phố Hồ Chí Minh”
Luận văn Thạc sỹ Lưu Thị Mỹ Hạnh (2013) Trường Đại học Đà Nẵng “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận và sử dụng dịch vụ thẻ Techcombank tại Thành phố Đà Nẵng”
Luận văn Thạc sỹ Nguyễn Hồ Lệ Huỳnh (2013) Trường Đại học Kinh tế TP.HCM
“Nâng cao sự hài lòng của khách hàng của khách hàng tại ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam”
CHƯƠNG 2: CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
- Khái niệm tín dụng ngân hàng thương mại
Tín dụng ngân hàng thương mại là sự chuyển nhượng một lượng giá trị có thời hạn Đặc trưng này của tín dụng xuất phát từ tính chuyển nhượng tạm thời Để đảm bảo thu hồi nợ đúng hạn, ngân hàng xác định thời hạn cho vay dựa vào quá trình luân chuyển vốn của khách hàng và tính chất vốn của ngân hàng Nếu ngân hàng định kỳ hạn nợ một cách phù hợp với khách hàng thì khả năng trả nợ đúng hạn cao và ngược lại
Tín dụng ngân hàng thương mại dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi Sở dĩ như vậy là vì vốn hoạt động của ngân hàng chủ yếu là huy động từ bên ngoài, vốn chủ sở hữu ít khi được sử dụng để sản xuất kinh doanh mà được sử dụng chủ yếu để đầu tư vào tài sản cố định Chính vì vậy, sau một thời gian nhất định ngân hàng phải trả lại cho người gửi ngân hàng Mặt khác ngân hàng cần phải có nguồn để bù đắp chi phí như trả lương, khấu hao… Do đó, người vay ngoài việc trả gốc còn phải trả cho ngân hàng một khoản lãi Đó là nguồn thu nhập chính của ngân hàng, là cơ sở để cho ngân hàng tồn tại
và phát triển
Khi cho vay, cái mà ngân hàng thu được là lợi nhuận sau khi đã trừ đi tất cả các khoản phí Đồng thời đi kèm với luận dự kiến có rủi ro Rủi ro tín dụng có thể xảy ra khi khách hàng không thực hiện đầy đủ những cam kết trong hợp đồng tín dụng (không trả đúng hạn hoặc không trả) Ngân hàng luôn phải xem xét mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro để định
Trang 6ra một mức lãi suất phù hợp Rõ ràng, với một dự án có rủi ro cao hơn thì chi phí nợ của doanh nghiệp đó phải cao hơn và ngược lại
Phân loại
Theo mục đích sử dụng tiền vay
Theo thời hạn sử dụng tiền vay
Theo điều kiện đảm bảo
Theo đồng tiền được sử dụng cho vay
Theo đối tượng tín dụng
Một số phân loại khác
- Khái niệm chất lượng tín dụng của NHTM
Trong nền kinh tế thị trường, bất kỳ một loại hàng hóa nào sản xuất ra cũng phải là những hàng hóa mang tính cạnh tranh, điều đó có nghĩa là mọi loại hàng hóa sản xuất ra đều phải có chất lượng Chất lượng của bất kỳ một loại hàng hóa nào cũng đều được thể hiện bằng giá trị sử dụng của nó Muốn tạo ra được những loại hàng hóa mang giá trị sử dụng cao thì đòi hỏi người sản xuất ra chúng phải trả lời đươc 3 câu hỏi quan trọng, đó là: sản xuất cái gì? Cho ai cần chúng? Và sản xuất như thế nào? Và các nhà kinh tế đã nhận xét rằng: “Chất lượng là sự phù hợp mục đích của người sản xuất và người sử dụng về một loại hàng hóa nào đó” hay “ Chất lượng là năng lực của một sản phẩm hoặc dịch vụ thoả mãn nhu cầu khách hàng”
Từ những nhận xét như vậy, có thể quan niệm chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại là việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng, đáp ứng nhu cầu tồn tại, phát triển của ngân hàng và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
Để có thể hiểu rõ hơn về chất lượng tín dụng, ta xem xét sự thể hiện chất lượng tín dụng trên các khía cạnh sau:
Đối với khách hàng: Chất lượng tín dụng được thể hiện ở chổ số tiền mà Ngân hàng cho vay phải có lãi suất và kỳ hạn hợp lý, thủ tục đơn giản, thuận lợi, thu hút được nhiều khách hàng nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tín dụng
Đối với ngân hàng thương mại: Chất lượng tín dụng được thể hiện ở phạm vi, mức
độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với thực lực của bản thân ngân hàng và đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi Đối với một
Trang 7ngân hàng nhỏ thì nên cấp tín dụng với mức độ và trong phạm vi nhất định để thỏa mãn một cách tốt nhất khách hàng của mình
Đối với Chính phủ, với sự phát triển kinh tế xã hội: Chất lượng tín dụng được thể hiện ở việc tín dụng phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hóa, góp phần giải quyết công ăn việc làm, khai thác khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng với tăng trưởng kinh
tế
- Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương mại
Các nhân tố bên ngoài
Các nhân tố bên trong
- Giới thiệu các mô hình nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của NHTM
CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN-HÀ NỘI, CHI NHÁNH ĐỒNG NAI
- Giới thiệu khái quát về Ngân hàng TMCP Sài Gòn-Hà Nội, Chi nhánh Đồng Nai:
Ngày 20/10/2008 Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội đã chính thức khai trương Chi Nhánh Đồng Nai(SHB Đồng Nai) tại số 10-11 Nguyễn Ái Quốc, khu phố 8 – Phường
Tân Phong, Thành phố Biên Hoà, Tỉnh Đồng Nai
- Kết quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh giai đoạn 2010-2014: tính đến năm
2014 tổng nguồn vốn huy động toàn chi nhánh đạt trên 4.000 tỷ đồng, doanh số dư nợ toàn chi nhánh đạt 2.485,45 tỷ đồng, tỷ lệ nợ quá hạn của SHB Đồng Nai là 0,81% (năm
2010 là 2,87%), tỷ lệ nợ xấu năm 2014 là 1,18% (năm 2010 là 1,39%) Năm 2014 mức thu dịch vụ ròng của ngân hàng đạt 22,26 tỷ đồng tăng trưởng 15% so với năm 2013, và tăng 227% so với năm 2010 Việc doanh thu từ tín dụng tăng đều qua các năm cũng góp phần tao ra sự cải thiện rõ nét trong mức lợi nhuận trước thuế Đây là việc rất khả quan cho SHB Đồng Nai, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế tài chính nước nhà đang chịu nhiều biến động, bên cạnh đó còn có sự cạnh tranh quyết liệt của các đối thủ trong cùng địa bàn
- Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của Ngân hàng Sài Gòn
Trang 8– Hà Nội, Chi nhánh Đồng Nai: Mức độ hài lòng cao nhất của khách hàng là nhân tố Thông tin tín dụng với mức điểm trung bình là 4.25 Nhân tố Chính sách tín dụng có mức
độ hài lòng của khách hàng đứng thứ hai trong bảng nghiên cứu với điểm trung bình là 3.80, trong đó lãi suất tín dụng có sự hài lòng của khách hàng cao nhất với điểm số trung bình là 4.02 Nhân tố Chất lượng nhân sự có mức độ hài lòng của khách hàng đứng thứ
ba với điểm số trung bình là 3.20 Nhân tố Phương tiện hữu hình có mức độ hài lòng của khách hàng đứng thứ tư với điểm số trung bình là 3.10 Nhân tố có mức độ hài lòng của khách hàng thấp nhất là quy trình tín dụng với điểm trung bình là 3.07 Với mức độ hài lòng nhỏ nhất có nghĩa là SHB Đồng Nai cần chú trọng đến thành phần này, cố gắng phải hoàn thiện hơn Mặc dù có cải tiến nhưng thủ tục của SHB Đồng Nai so với một số NHTM khác còn chưa thật sự đơn giản, dễ thực hiện, đặc biệt trong các thủ tục vay vốn tiêu dùng, hay tiếp cần các nguồn vốn ưu đãi, sự thay đổi các quy trình chưa phù hợp với yêu cầu thực tế, khả năng xử lý các sự cố trong giao dịch tự động còn hạn chế, mất nhiều thời gian và dễ gây phiền hà cho khách hàng
- Các biện pháp nâng cao chất lượng tín dụng mà ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, Chi nhánh Đồng Nai đã triển khai
Đổi mới quy trình tín dụng
Đổi mới công nghệ thông tin và sửa chửa cơ sở vật chất tại các phòng giao dịch
Đào tạo đội ngũ nhân viên
Hoàn thiện chính sách tín dụng
Xây dựng hệ thống thông tin tín dụng
- Những kết quả đạt được: Quy mô tín dụng tăng trưởng qua các năm, đáp ứng nhu cầu về vốn ngày càng cao của Doanh nghiệp, trên cơ sở đó góp phần mở rộng thị phần của ngân hàng Tín dụng ngân hàng đã giúp các doanh nghiệp đủ vốn để thực hiện các hợp đồng kinh doanh trong điều kiện vốn tự có còn quá nhỏ so với tổng nhu cầu vốn của
dự án/phương án kinh doanh Cơ cấu tín dụng ngày càng được điều chỉnh theo hướng phù hợp hơn, tỷ trọng dư nợ cho vay các doanh nghiệp nhà nước ngày cảng giảm dần, tỷ trọng dư nợ cho vay có tài sản đảm bảo tăng dần, phù hợp với định hướng của nền kinh tế
và định hướng hoạt động cho vay của ngân hàng Nợ xấu và nợ quá hạn từng bước được kiểm soát Công tác phục vụ có nhiều đổi mới thích hợp với nền kinh tế thị trường Phong
Trang 9cách phục vụ, giao dịch văn minh lịch sự tạo được ấn tượng, uy tín đối với khách hàng, tăng được số lượng khách hàng, mở rộng thị phần Ngân hàng đã triển khai công tác tiếp cận doanh nghiệp, hướng dẫn doanh nghiệp lập hồ sơ vay vốn hợp lý, đúng quy định nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoàn thành các thủ tục xin vay nhanh chóng và thuận lợi Ngân hàng từng bước gắn mình với doanh nghiệp qua vai trò tư vấn Trong quá trình cho vay, ngân hàng đã thực hiện việc kiểm tra khách hàng trước, trong và sau khi cho vay Ngoài ra, ngân hàng còn xem xét các vấn đề thị trường, sản phẩm tiêu thụ, thu nhập…của khách hàng trong phạm vi cho phép Ngân hàng đã lựa chọn những cán bộ có
đủ tài năng, có trách nhiệm và có nhiệt tình trong công tác vào phòng tín dụng, tạo điều kiện giúp đỡ các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả
- Những hạn chế: Chính sách tín dụng của SHB chưa chú trọng đến công tác Marketing sản phẩm tín dụng và chưa đa dạng hoá các sản phẩm tín dụng, Chưa có quy trình thống nhất
về cho vay tín dụng, Công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ tại Chi nhánh còn hạn chế Do việc
tổ chức các đoàn kiểm tra không thường xuyên, thời gian kiểm tra ngắn trong khi khối lượng công việc kiểm tra nhiều, kiểm tra mang tính chất chọn mẫu Nguồn thông tin mà ngân hàng cần để đánh giá, phân tích còn thiếu, không kịp thời và chất lượng không cao Vì vậy, cán bộ tín dụng thường phải mất rất nhiều thời gian và công sức để tự đi điều tra trong khi chi phí cho hoạt động này lại rất ít hoặc không có Công tác Marketing ngân hàng tuy bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định nhưng so với yêu cầu còn có những hạn chế, điều này ít nhiều cũng hạn chế tăng trưởng dư nợ Trình độ của cán bộ chuyên môn còn có nhiều bất cập Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, Chi nhánh Đồng Nai vẫn chưa có một cơ chế
động viên khuyến khích cán bộ tín dụng, chưa có một cơ chế trách nhiệm rỏ ràng
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN – HÀ NỘI, CHI NHÁNH ĐỒNG NAI
- Hoàn thiện chính sách tín dụng: Chính sách sản phẩm giá cả, chính sách phân phối, chính sách đa dạng hoá khách hàng
- Xây dựng cơ chế lãi suất cho vay đối với khách hàng
- Nâng cao trình độ của nhân viên tín dụng
- Áp dụng chính sách khách hàng hợp lý
- Tăng cường giám sát, quản lý sau cho vay
Trang 10- Hoàn thiện hệ thống thông tin tín dụng
- Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị của mạng lưới giao dịch
- Đầu tư phát triển công nghệ
KẾT LUẬN
Trong những năm qua, nhận thức rõ tầm quan trọng của kinh tế đối ngoại, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện chính sách kinh tế mở cửa, hội nhập quốc tế Nắm bắt được xu hướng của nền kinh tế, các Ngân hàng thương mại Việt Nam đã tiến hành mở rộng hoạt động, quy mô nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng của nền kinh tế nói chung và hoạt động thương mại nói riêng
Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, Chi nhánh Đồng Nai đã chuyển hướng sang kinh doanh đa năng, tổng hợp, hiệu quả hoạt động của ngân hàng ngày càng phát triển
Có được kết quả này là do Ngân hàng đã luôn thực hiện tốt phương châm “lấy chất lượng tín dụng làm đầu”, xem đó là động lực để mở rộng hoạt động tín dụng của mình
Tuy nhiên, do phải hoạt động trong môi trường mà các điều kiện về tiền tệ, lạm phát chưa ổn định, cạnh tranh ngày càng gay gắt và do những nguyên nhân khác từ phía Ngân hàng cũng như khách hàng mà việc nâng cao chất lượng tín dụng của Ngân hàng còn có những hạn chế nhất định
Nhận thức được những hạn chế đó, với nỗ lực không ngừng và khả năng phát triển của Ngân hàng như hiện nay chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng trong tương lai hoạt động tín dụng của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, Chi nhánh Đồng Nai sẽ phát triển mạnh mẽ và đóng góp nhiều hơn nữa vào sự phát triển của Ngân hàng cũng như sự phát triển chung của đất nước