1. Trang chủ
  2. » Adult

Năng suất lao động tại chi nhánh bốc xúc tiêu thụ - Công ty TNHH một thành viên Apatit Việt Nam

6 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 198,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một doanh nghiệp nhà nước, công ty Apatit Việt Nam nói chung và chi nhánh Bốc xúc tiêu thụ nói riêng luôn quan tâm đến vấn đề nâng cao năng suất lao động để để nâng cao hiệu qu[r]

Trang 1

TÓM TẮT

Cơ quan Năng suất Châu Âu (EPA) định nghĩa Năng suất là một hình thái tư duy,

đó là thái độ luôn tìm kiếm để cải thiện những gì đang tồn tại Vì có một sự chắc chắn rằng, con người ngày hôm nay có thể làm việc tốt hơn hôm qua – ngày mai tốt hơn hôm nay và dù kết quả có như thế nào, ý chí cải tiến mới là quan trọng; đó là khả năng luôn thích ứng với các điều kiện thay đổi và nỗ lực không ngừng để áp dụng kỹ thuật mới, phương pháp mới; và là niềm tin chắc chắn vào sự tiến bộ của nhân loại Năng suất lao động là một chỉ tiêu đánh giá hiệu quả, nó phản ánh năng lực tạo ra của cải, hay hiệu suất của lao động trong quá trình sản xuất Có thể thấy năng suất lao động có một ý nghĩa rất lớn lao đối với sự phát triển của loài người, là động cơ thúc đấy phát triển kinh tế xã hội của mọi quốc gia và là cơ sở quan trọng trong các quyết định vi mô và vĩ mô Đối với các doanh nghiệp, năng suất càng có ý nghĩa quan trọng vì nó là một trong các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và là một yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp Năng suất lao động còn là yếu tố quyết định đến thu nhập và mức sống của người lao động

Trong khi đó, NSLĐ ở Việt Nam đang ở mức rất thấp ở trong khu vực cũng như trên thế giới Xét trong ASEAN thì NSLĐ của Việt Nam chỉ cao hơn Myanmar, Campuchia và đang xấp xỉ Lào Có thể thấy vấn đề nâng cao NSLĐ đang là một vấn đề cấp thiết đối với các DN Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang hòa nhập ngày cành nhanh và sâu hơn với nền kinh tế thế giới, mở ra nhiều cơ hội cũng như đem lại nhiều thách thức đối với các doanh nghiệp nội địa , nếu không tìm ra biện pháp tăng NSLĐ thì các doanh nghiệp nội địa rất khó có thể đứng vững và cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài

Công ty TNHH Một thành viên Apatit Việt Nam là một doanh nghiệp có 100% vốn sở hữu của nhà nước thuộc tập đoàn Công nghiệp Hóa chất Việt Nam với ngành nghề kinh doanh chính là khai thác và chế biến khoáng sản, sản xuất phốt pho, phân bón

và các loại hóa chất Sản phẩm chính của công ty là quặng Apatit tuyển, đá phosphate các loại, phân bón NPK, đá xây dựng, quặng Kaolin, các loại hóa chất Công ty Apatit Việt

Trang 2

Nam bao gồm 11 chi nhánh trong đó chi nhánh Bốc xúc tiêu thụ có nhiệm vụ chính là phân loại, sàng lọc quặng và xúc quặng đảm bảo đúng chủng loại đến phương tiện giao cho khách hàng Khách hàng có thể là 1 chi nhánh trực thuộc công ty để đưa quặng vào chế biến sâu hoặc các doanh nghiệp khác ở trong và ngoài nước Có thể nói năng suất lao động ở khâu này ảnh hưởng rất lớn đến năng suất toàn bộ công ty vì là khâu trung gian quan trọng quyết định sản lượng tiêu thụ được của công ty Apatit Việt Nam Là một doanh nghiệp nhà nước, công ty Apatit Việt Nam nói chung và chi nhánh Bốc xúc tiêu thụ nói riêng luôn quan tâm đến vấn đề nâng cao năng suất lao động để để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, góp phần vào tăng trưởng kinh tế và các hoạt động phúc lợi xã hội tuy nhiên do một số nguyên nhân khách quan và chủ quan, mức tăng năng suất vẫn chưa được như kỳ vọng

Trước bối cảnh đó tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu Năng suất lao động tại chi nhánh Bốc xúc tiêu thu – Công ty TNHH Một thành viên Apatit Việt Nam Đề tài nghiên cứu xây dựng thành luận văn với kết cấu 4 chương như sau:

Chương I: Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan

Luận văn đã đưa ra được tổng quan những nghiên cứu trước đây của các tác giả khác về năng suất lao động, hầu hết các nghiên cứu tập trung vào phân tích và các biện pháp nâng cao năng suất lao động trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân nên không thể áp dụng vào phạm vi doanh nghiệp Một số nghiên cứu tập trung vào đề tài nâng cao năng suất lao động tại doanh nghiệp nhưng chưa đi vào một doanh nghiệp cụ thể nào

Chương II: Cơ sở lý luận về năng suất lao động trong doanh nghiệp

Luận văn trên cơ sở lý thuyết đã khái quát được cái nhìn tổng quan về khái niệm

và phân loại NSLĐ, các nhân tố ảnh hưởng đến NSLĐ, chỉ tiêu và phương pháp tính NSLĐ, một số phương pháp nâng cao NSLĐ và kinh nghiệm tăng NSLĐ tại một số doanh nghiệp Việt Nam

Một số phương pháp nâng cao NSLĐ:

Trang 3

-Rà soát và phân tích SWOT cho từng khâu, từng bộ phân, từng vấn đề quan trọng của doanh nghiệp và toàn bộ doanh nghiệp

-Đổi mới hình thức tổ chức quản trị doanh nghiệp

-Tăng cường quản lý và sử dụng nhân lực có hiệu quả

-Áp dụng các công cụ quản lý năng suất trong doanh nghiệp

- Chú trọng đầu tư thiết bị, công nghệ phù hợp

- Chính quyền phải tạo lập môi trường, điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động

Chương III: Thực trạng năng suất lao động tại chi nhánh Bốc xúc tiêu thụ - Công ty

TNHH Một thành viên Apatit Việt Nam

Luận văn giới thiệu khái quát về công ty TNHH Một thành viên Apatit Việt Nam, giới thiệu về chi nhánh Bốc xúc tiêu thụ: quá trình hình thành phát triển; đặc điểm kinh tế

kỹ thuật của chi nhánh, kết quả sản xuất của chi nhánh từ 2011 – 2015

Để làm rõ được thực trạng NSLĐ tại chi nhánh tác giả phân tích một số chỉ tiêu

về NSLĐ tại chi nhánh; các nhân tố ảnh hưởng đến NSLĐ tại chi nhánh; phân tích mối quan hệ giữa tăng NSLĐ bình quân và tăng tiền lương bình quân và liệt kê các phương pháp nhằm nâng cao NSLĐ mà chi nhánh đã áp dụng

Từ những thực trạng đã phân tích ở trên, tác giả đánh giá những điểm tích cực, hạn chế, và nguyên nhân của những hạn chế về NSLĐ tại chi nhánh BXTT Những hạn chế đó là:

- NSLĐ bình quân vẫn còn thấp và tốc độ tăng không ổn định

NSLĐ từ năm 2011 đến năm 2015 đã tăng từ 18,36 đến 19,38 triệu tấn/người Tuy nhiên chưa có sự ổn định trong việc gia tăng năng suất Như năm 2012 năng suất tăng so với năm 2011 nhưng đến năm 2013 năng suất lại giảm thấp hơn cả năm 2011, đến năm

2014 và 2015 mức tăng mới có dấu hiệu ổn định

- Mức tăng NSLĐ bình quân thấp hơn mức tăng tiền lương bình quân

Đây là vẫn đề còn tồn tại, nhưng do chi nhánh là một doanh nghiệp phụ thuộc, định

Trang 4

mức năng suất đầu năm phụ thuộc một phần vào cán bộ kế hoạch của tổng công ty, khung tiền lương theo năng suất cũng phụ thuộc vào tổng công ty dẫn đến mức độ tự chủ của chi nhánh chưa cao, việc điều chỉnh tiền lương phù hợp với năng suất còn nhiều khó khăn

- NSLĐ theo giờ của công nhân không ổn định

NSLĐ theo giờ qua các năm có biến động không ổn định, tuy một phần là do tổng sản lượng đầu vào không ổn định, nhưng một phần cũng là do công tác quản lý thời gian làm việc của công nhân chưa được tốt Trường hợp công nhân lãng phí thời gian vẫn còn xảy ra nhiều đòi hỏi chi nhánh phải có biện pháp hiệu quả để có thể quản lý được do các công trường ở những vị trí xa nhau, có những tổ sản xuất cũng có vị trí làm việc không cố đính, việc theo dõi rất khó khăn

- Các biện pháp nâng cao năng suất hiện tại đang áp dụng tại chi nhánh còn khá cũ, chưa tiếp cận với những phương pháp mới

Hiện nay trên thế giới cũng như trong nước, các doanh nghiệp đã áp dụng các phương pháp, mô hình quản lý mới có thể cải thiện một cách hiệu quả và nhanh chóng các vấn đề còn tồn tại về NSLĐ tại doanh nghiệp Tuy nhiên việc áp dụng các phương pháp mới rất khó khăn với doanh nghiệp, vì hầu hết ban lãnh đạo của công ty đã hơn 50 tuổi, tư tưởng

về quản trị còn theo quan niệm cũ Trong khi đó việc áp dụng mô hình mới cần sự đồng bộ

từ phía tổng công ty và các chi nhánh thành viên khác Việc vị trí địa lý của công ty tại miền núi cũng là một hạn chế vì khó khăn trong việc tiếp cận các thông tin mới

Nguyên nhân:

- Tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất chưa hợp lý

Mặc dù trong những năm vừa qua, kết cấu công nhân viên biến đổi có xu hướng tốt,

số công nhân trực tiếp sản xuất đã tăng lên từ 80% năm 2011 đến năm 2015 là 82% nhưng tỷ lệ này vẫn còn cao so với tiêu chuẩn của nhà nước (khoảng từ 12 – 15% lao động quản lý) Số lao động quản lý quá động dẫn đến thừa lao động quản lý, tỷ lệ thời gian làm việc của lao động quản lý thấp chỉ 6-7 giờ/ngày, một số người còn làm công việc sự vụ

Cùng với việc hiện đại hóa và tăng thêm máy móc giúp nâng cao NSLĐ thì xí

Trang 5

nghiệp đã gặp phải khó khăn trong việc bố trí lại lao động Năm 2014 máy sàng công suất cao được đưa vào hoạt động nhưng chưa kịp thời bố trí đến năm 2015 mới cho thấy hiệu quả khi số công nhân đã đi vào làm việc ổn định Một số lao động trẻ có khả năng được đưa đi đào tạo, nhưng đại đa số những lao động trong các tổ cần tay nghề cao như thợ sửa chữa, thợ vận hành, thì độ tuổi đã cao nên chưa thể đi học nâng cao trình độ

Ngoài ra do đặc thù một số tổ lao động công việc gắn liền với máy móc thiết bị nên công tác quản lý ứng phó với những trường hợp máy móc hỏng đột xuất rất quan trọng Nếu không kịp thời thông tin báo cáo cho cán bộ kỹ thuật và thợ sửa chữa sẽ gây đình trệ

cả quy trình sản xuất

- Điều kiện và môi trường làm việc năng nhọc, độc hại

Môi trường làm việc của công nhân chưa đảm bảo được yêu cầu điều kiện về bụi, tiếng ồn Nhà xưởng tại các công trường đã xây dựng khá lâu, thiếu quy hoạch tổng thể, nơi công nhân làm việc không có mái che nắng mưa Ca đêm vẫn làm việc bình thường và phải dùng ánh sáng từ đèn điện nhưng lại dưới tiêu chuẩn cho phép

Do đặc thù của nghề nghiệp, người công nhân phải làm việc trong điều kiện tiếng

ồn lớn, bụi đã ảnh hưởng trực tiếp thới sức khỏe của người lao động Hiện tại, một số công nhân đã bị mắc các bệnh nghề nghiệp đặc trưng là bụi phổi, bệnh về tai và mắt Tính đến năm 2015 đã có 12 mắc các bệnh nghề nghiệp liên quan, số người mắc bệnh tập trung vào các công nhân tổ sàng, lái máy, vận hành Ngoài ra, do phải thường xuyên tiếp xúc với dầu mỡ, nhiều lao động bị mắc các bệnh về da nhwg sạm da, nốt dầu và viêm nang chân lông,

Điều kiện làm việc khó khăn bị ô nhiễm nặng nề như tại nơi đổ quặng, sàng quặng, nồng

độ bụi gấp 8- 10 lần tiêu chuẩn cho phép đã ảnh hưởng trực tiếp tới NSLĐ

- Chưa khai thác tốt khả năng sử dụng thời gian lao động của công nhân

Nếu loại bỏ ảnh hưởng của các nhân tố như hiện đại hóa thiết bị, điều kiện làm việc, kết cấu công nhân viên thì thời gian làm việc của công nhân có vai trò quyết định trong việc nâng cao NSLĐ Ổn định thời gian làm việc của công nhân không những làm tăng NSLĐ mà còn duy trì được nhịp độ sản xuất bình thường và nâng cao kỷ luật trong lao động Qua phân tích phần trên ta đã thấy từ năm 2011 đến năm 2014 chi nhánh chưa có

Trang 6

sự quản lý hiện quả về thời gian lao động gây ra lãng phí sức lao động

- Hiệu quả sử dụng máy móc còn thấp

Số giờ hỏng hóc vặt và sửa chữa máy móc tại chi nhánh đang ở mức khá cao gây ra hiệu quả sử dụng máy móc khá thấp Nguyên nhân là do công tác bảo trì, bảo dưỡng, trung thu máy móc chưa thực hiện nghiêm túc, trong khi máy móc đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động sản xuất của chi nhánh

Chương IV: Những giải pháp nâng cao NSLĐ tại chi nhánh Bốc xúc tiêu thụ

Do vị trí công ty ở miền núi, điều kiện để tiếp cận những thông tin mới, phương pháp mới còn hạn chế, ngoài ra vì là chi nhánh phụ thuộc về kinh tế và tổ chức quản lý nên việc áp dụng các mô hình quản trị còn khó khăn cần sự đồng bộ của tất cả chi nhánh

và tổng công ty Do đó để nâng cao NSLĐ tại chi nhánh Bốc xúc tiêu thụ tác giả có để xuất một số biện pháp sau:

-Hoàn thiện về tổ chức lao động: Sử dụng nhân lực có hiệu quả, chú trọng từ khâu

tuyển chọn, bố trí sử dụng lao động, đảm bảo lao động có trình độ, năng lực phù hợp

-Chú trọng đầu tư máy móc thiết bị, quan tâm đến vấn đến bảo dưỡng máy móc thiết bị đang sử dụng

-Đổi mới tổ chức sản xuất để quản lý hiệu quả thời gian làm việc của công nhân

- Tạo động lực; cải thiện điều kiện làm việc và tổ chức phục vụ cho người lao động

- Chú trọng đào tạo cho người lao động

Ngoài ra tác giả có một vài kiến nghị đối với tổng công ty TNHH một thành viên

Apatit Việt Nam

Ngày đăng: 15/01/2021, 20:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w