– Thế nước rất nguy, giặc đến chân núi Trâu, người người hoảng hốt, sứ giả đem ngựa, roi, áo giáp sắt đến cho Gióng. – Cậu bé vươn vai biến thành tráng sĩ, mặc giáp sắt, cầm roi sắt, [r]
Trang 1TRƯỜNG THCS CẦN THẠNH
TỔ: NGỮ VĂN
BÀI VIẾT TẬP LÀM VĂN SỐ 1 (ở nhà) - HKI
NĂM HỌC 2018 - 2019 MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 6
Thời gian làm bài: 90 phút
Đề bài : Kể về lại một truyện đã biết (truyền thuyết, cổ tích) bằng lời văn của em
-HẾT -
Trang 2HƯỚNG DẪN CHẤM
A Yêu cầu về kĩ năng:
- Biết vận dụng kiểu bài văn kể chuyện
- Biết sử dụng các yếu tố phù hợp giúp làm rõ cảm xúc trong bài kể chuyện
- Bài viết có kết cấu chặt chẽ, ý văn rõ, diễn đạt trôi chảy, văn viết trong sáng , cảm xúc chân thật
B Yêu cầu về kiến thức:
-Trên cơ sở những kiến thức đã được học về kiểu văn kể chuyện kết hợp với các yếu tố thực tế từ văn
miêu tả và kể chuyện , học sinh có thể nêu suy nghĩ , tình cảm của mình về cô giáo mà mình yêu thích
-Học sinh có thể tổ chức bài làm theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đáp ứng được những ý cơ bản sau:
Dàn ý: Truyền thuyết Thánh Gióng
I Mở bài
“Thánh Gióng” là một truyện dân gian đáng yêu nhất (trong kho tàng văn học Việt Nam)
– Anh hùng Gióng tiêu biểu cho lòng yêu nước, quyết tâm thắng giặc ngoại xâm của nhân dân ta, đặc biệt của thỉếu niên Việt Nam
II Thân bài
1) Cậu bé làng Gióng ra đời
– Đời Hùng Vương thứ 6
– Cha mẹ cậu Gióng: chăm làm ăn, phúc đức, ao ước có con
– Mẹ cậu Gióng ra đồng, đặt chân mình lên vết chân khổng lồ trên đường ướm thử, về nhà thụ thai mười hai tháng
– Cậu bé làng Gióng ra đời: Mặt mũi khôi ngô, ba tuổi vẫn không biết đi, biết nói, biết cười
2) Sự lớn lên kì diệu của cậu bé Gióng
– Giặc Ân, thế rất mạnh, đến xâm chiếm nước ta Vua truyền sứ giả tìm người tài giỏi cứu nước
– Cậu Gióng nói lời đầu tiên với mẹ: Mời sứ giả, lời thứ hai: tâu vua sắm ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt,
mũ sắt
– Cậu Gióng lớn nhanh như thổi (ăn mấy cũng không no, áo vừa mặc xong đã căng đứt chỉ), cha mẹ Gióng nhờ bà con, làng xóm gom góp thóc gạo nuôi Gióng, ai cũng sẵn lòng
3) Chàng trai làng Gióng xung trận
– Thế nước rất nguy, giặc đến chân núi Trâu, người người hoảng hốt, sứ giả đem ngựa, roi, áo giáp sắt đến cho Gióng
– Cậu bé vươn vai biến thành tráng sĩ, mặc giáp sắt, cầm roi sắt, cưỡi ngựa sắt: vỗ vào mông ngựa, ngựa hí vang
– Tráng sĩ phi ngựa tiến thẳng tới nơi có giặc; đánh đón đầu giặc; giết hết lớp này đến lớp khác; giặc chết như rạ Roi sắt gẫy, tráng sĩ nhổ tre cạnh đường quật vào giặc; ngựa phun lửa Giặc tan tác
4) Tráng sĩ Gióng bay lên trời
– Đuổi giặc đến núi Ninh Sóc, tráng sĩ cởi bỏ giáp sắt, cả người lẫn ngựa từ từ bay lên trời
– Nhớ ơn cứu nước, Vua phong là Phù Đổng Thiên Vương và lập đền thờ tại quê nhà
5) Vết tích còn lại
– Làng Gióng và đền thờ Phù Đổng Thiên Vương Hội Gióng vào tháng tư hàng năm
– Những bụi tre đằng ngà, bị ngựa phun lửa cháy, ngả màu vàng óng, ở huyện Gia Bình
– Những vết chân ngựa nay thành những hồ ao liên tiếp; lửa do ngựa phun ra thiêu cháy một làng nay gọi là làng Cháy
III Kết bài
Niềm ao ước được một lần về dự hội Gióng, về thăm quê hương Phù Đổng Thiên Vương, niềm tự hào củà nhân dân nước Việt, của thiếu niên Viêt Nam
Tham khảo chi tiết các bài văn mẫu: Văn mẫu lớp 6: Kể lại truyện Thánh Gióng bằng lời văn của em
Trang 3C-Biểu điểm:
- Điểm 8-9: Bố cục rõ ràng, cân đối , diễn đạt trôi chảy, ý văn mạch lạc , giàu cảm xúc , không mắc lỗi
về chính tả, đặt câu, dùng từ, chữ viết đẹp, đúng chuẩn
- Điểm 6-7: Nắm thể loại, hoàn thành các yêu cầu về nội dung, bố cục rõ , cảm xúc tự nhiên ,diễn đạt
suôn sẻ , mắc 3-4 lỗi chính tả, chữ viết rõ
- Điểm 5 : Bố cục đủ , hoàn thành tương đối các yêu cầu về nội dung , đôi chỗ ý văn , cảm xúc sơ sài ,
mắc 5-6 lỗi chính tả, chữ viết tương đối rõ
- Điểm 3-4: Đủ các yêu cầu về nội dung, nhưng lời văn còn vụng về , thiếu cảm xúc cụ thể , chỉ diễn
xuôi bài thơ , mắc không quá nhiều lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp Vẫn hình thành được bố cục ba phần nhưng sơ sài ( khoảng 15 dòng )
-Điểm 1-2: Chỉ viết một đoạn rồi bỏ hoặc lạc đề
-Điểm 0 : bỏ trắng , không làm
-HẾT -