Để có thể giành thế chủ động trong quá trình cạnh tranh nhằm dùy trì và cải thiện vị thế của mình, các Ngân hàng thương mại Việt Nam cần cải tổ cơ cấu một cách mạnh mẽ sâu rộng để[r]
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1/ Lý do chọn đề tài:
Ngày nay, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam đã trở lên gay gắt hơn bao giờ hết Bên cạnh đó là sự phát triển về nhận thức của khách hàng đã làm cho doanh nghiệp gặp khó khăn hơn trong việc thỏa mãn nhu cầu Do vậy nâng cao năng lực cạnh tranh đã trở thành vấn đề sống còn đối với các doanh nghiệp nói chung và các ngân hàng thương mại nói riêng Một ngân hàng thương mại muốn tồn tại và phát triển không chỉ đơn thuần là thu hút tiền gửi khách hàng và tiến hành cho vay mà cần phải tạo lập được cho mình một lợi thế riêng biệt về chiến lược cạnh tranh, chất lượng sản phẩm dịch vụ cung cấp, cách thức thỏa mãn nhu cầu khách hàng, khả năng sáng tạo đổi mới…
Để có thể giành thế chủ động trong quá trình cạnh tranh nhằm dùy trì và cải thiện vị thế của mình, các Ngân hàng thương mại Việt Nam cần cải tổ cơ cấu một cách mạnh mẽ sâu rộng để trở thành các Ngân hàng thương mại đa dạng về hình thức và sản phẩm cung cấp, hoạt động an tòan và hiệu quả, huy động tốt nhất các nguồn vốn của xã hội để phục vụ cho nhu cầu phát triển của đất nước
Xuất phát từ thực tế đó, vần đề “ Nâng cao năng lực cạnh tranh của
Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam - VIB” được lựa chọn
nghiên cứu
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Những vấn đề cơ bản về năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại
Chương 2 Thực trạng về năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại
cổ phần Quốc Tế Việt Nam
Chương 3 Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam
Trang 2CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Ngân hàng thương mại
Khái niệm
NHTM là một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh cung cấp danh mục dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt là nhận gửi tiết kiệm, thanh toán và
cho vay
Hoạt động kinh doanh của NHTM
Gồm 3 hoạt động cơ bản đó là huy động vốn, cho vay và đầu tư, cung cấp các dịch vụ thanh toán Ngày nay, các ngân hàng còn kinh doanh sang các lĩnh vực khác như chứng khoán, bảo hiểm, bất động sản,…
1.2 Năng lực cạnh tranh của NHTM
Cạnh tranh trong lĩnh vực NHTM
- Khái niệm: Là sự ganh đua, giành dựt khách hàng thông qua việc thỏa
mãn tối ưu các nhu cầu khách hàng bằng những sản phẩm dịch vụ có chất lượng với những nét đặc trưng riêng để có thể đạt được lợi nhuận cao hơn
- Đặc trưng cạnh tranh: Đó là tuân thủ theo pháp luật trên cơ sở hợp tác
lẫn nhau và chịu sự giám sát của NHNN
- Công cụ cạnh tranh: Đó là chất lượng dịch vụ, giá cả, sự đa dạng hóa
dịch vụ cung cấp, cạnh tranh bằng hệ thống phân phối
Năng lực cạnh tranh của NHTM
- Khái niệm: Là khả năng ngân hàng tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có
năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn
hơn, tạo ra lợi nhuận cao và phát triển bền vững
Trang 3iii
- Các nhân tố ảnh hưởng: Theo tác giả Michael Porter, những nhân tố
ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của NHTM được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của NHTM
Nguồn: Chiến lược cạnh tranh - Micheal Porter E, (1995)
Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM: Đó là tỷ
suất lợi nhuận ( ROA, ROE), thị phần ngân hàng ( quy mô và tốc độ tăng trưởng dư nợ, huy động vốn, doanh thu dịch vụ)
MT kinh tế
MT Chính trị - Luật
pháp
MT Toàn cầu
MT Văn hóa
MT Công nghệ
Ngân hàng
Ngân hàng mới
Khách hàng
Ngân hàng hiện tại
Dịch vụ thay thế mới
Trang 4CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM
2.1 Giới thiệu chung về VIB
Quá trình hình thành và phát triển:
VIB được thành lập theo Quyết định số 22/QĐ/NH5 ngày 25/01/1996 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam với số vốn điều lệ ban đầu là
50 tỷ đồng và 20 nhân viên
VIB cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tài chính trọn gói cho các khách hàng là các DNVVN hoạt động lành mạnh và những cá nhân, gia đình có thu nhập ổn định Kết quả sau 12 năm hoạt động, VIB đã trở thành 1 trong 10 NHTMCP đứng đầu Việt Nam được khách hàng tín nhiệm sử dụng dịch vụ
Kết quả kinh doanh: Được thể hiện qua bảng tông hợp kết quả kinh doanh sau
Bảng 2.2: Tổng hợp kết quả kinh doanh của VIB giai đoạn 2006-2008
Đơn vị tính: Tỷ đồng
1- Tổng tài sản 16.552 39.318 137,5 34.600 -12 2- Huy động vốn từ TT1 9.814 19.240 96,1 23.800 24 3- Tổng dư nợ 8.966 16.744 86,7 19.799 18 4- Tổng doanh thu thuần 407,5 803,7 97,2 709,2 -12 5- Thu thuần dịch vụ 42,6 68,8 61,7 91,8 43,8 6- Lợi nhuận trước thuế 200 425,7 112,8 224 -47
8- Số lượng thẻ 53.000 178.335 236,5 350.000 118
12- Tỷ lệ nợ xấu (NPLs)(%) 1,49 1,21 -0,19 1,84 52,1 13- Tỷ lệ doanh thu DV/TT(%) 10,44 8,6 -18,0 12,9 50
( Nguồn: Báo cáo tổng kết hàng năm của VIB)
Trang 52.2 Thực trạng về năng lực cạnh tranh của VIB
Thực trạng cạnh tranh của VIB
- Thị trường mục tiêu: Ngay từ khi thành lập, khách hàng mục tiêu là
các công ty tư nhân, các hộ gia đình và cá nhân Sang giai đoạn 2004 – 2007, VIB đã tiếp cận thêm các khách hàng là các DNNN, các định chế kinh tế, tài chính Tuy nhiên công tác phân đoạn và lựa chọn thị thường mục tiêu chưa được quan tâm mà chỉ phát triển theo phong trào và theo thực tế
- Đối thủ cạnh tranh: VIB phải đối mặt với trên 10 đối thủ cạnh tranh
trực tiếp, các đối thủ dẫn đầu thị trường đó là ACB, Sacombank, Eximbank, Techcombank, MB và các đối thủ tiếp theo đó là Đông Á, Hàng Hải, Sài Gòn Công thương, Đông Nam Á Các NHTMCP này có cùng mục tiêu là trở thành ngân hàng bán lẻ hàng đầu Việt Nam, đều tập trung vào các khách hàng là các DNVVN, các cá nhân hộ gia đình có thu nhập cao, và cùng sử dụng chiến lược khác biệt hóa bằng sản phẩm dịch vụ với hệ thống phân phối bao khắp các đô thị thành phố lớn
Thực trạng các nguồn lực ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của VIB
- Năng lực tài chính: Được thể hiện qua quy mô, tốc độ tăng vốn điều lệ
và vốn tự có, hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR), tỉ lệ nợ xấu
Biểu 2.3: Biểu đồ tăng trưởng vốn của các NHTMCP năm 2007 -2008
Đơn vị: Tỉ đồng
6257
1509
6295
6549
7350
409
3573
1927
2816
1124
2183
110
0
2000
4000
6000
8000
10000
12000
14000
Năm 2007 Năm 2008 ( Nguồn: Báo cáo thường niên của các ngân hàng ) Qua bảng trên cho thấy quy mô và tốc độ tăng vốn tự có của VIB thấp hơn nhiều so với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp điều này cũng ảnh hưởng
Trang 6trực tiếp đến hệ số CAR và hoạt động kinh doanh của VIB
Bên cạnh đó khi so sánh tỉ lệ nợ xấu/tổng dư nợ của VIB với các đối thủ cạnh tranh cho thấy chất lượng tín dụng VIB còn bộc lộ nhiều vấn đề cần phải xem xét
Bảng 2.4: Tỉ lệ nợ xấu của các NHTMCP tính đến tháng 12/2008
(Tỉ đồng)
Tỉ lệ nợ xâu( %)
1 Ngân hàng xuất nhập khẩu Việt Nam
2 Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín
3 Ngân hàng Á Châu ( ACB ) 34.604 0,900
4 Ngân hàng Kỹ Thương ( Teckcombank ) 26.022 0,980
5 Ngân hàng Quân Đội ( MB ) 15.494 1,830
6 Ngân hàng Quốc tế ( VIB ) 19.799 1,900
( Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2008 của các ngân hàng )
- Trình độ công nghệ: Giai đoạn 2005 – 2007, VIB đã hiện đại hóa hệ
thống công nghệ thông tin, chuyển đổi thành công hệ thống máy chủ tăng tốc
độ giao dịch của hệ thống lên 60% công /năm nhằm đảm hoạt động cung ứng dịch vụ nhanh, chính xác
Bên cạnh đó, VIB đã triển khai và tích hợp thành công dự án Internet banking cho khách hàng doanh nghiệp và xây dựng các kênh phân phối hiện đại từ home banking, mobi banking, tele banking, internet banking
Tuy nhiên trình độ công nghệ thông tin còn có những hạn chế nhất định
là tốc độ đường truyền nội bộ còn thấp, thiếu sự gắn kết giữa các sản phẩm dịch vụ với công nghệ, số lượng các sản phẩm dịch vụ dựa trên nền tảng công nghệ còn ít, nguồn nhân lực có trình độ cao ít
- Quản trị điều hành: VIB quản trị bộ máy theo hình thức tập trung, hội
sở thực hiện ban hành các chính sách nhận gửi, cho vay đến trực tiếp ra các quyết định cho vay, tổ chức tuyển dụng đào tạo nhân sự, phát triển mạng lưới, phát triển thương hiệu Cách thức tổ chức điều hành như vậy đã bắt đầu bộc lộ những khó khăn do chồng chéo về chức năng, nhiện vụ giữa các bộ phận, thời gian ra quyết định kéo dài, tính tự chủ độc lập giữa các bộ phận hạn chế
Trang 7VIB đã thành lập 106 chi nhánh và phòng giao dịch trên cả nước, nếu so với các đối thủ cạnh tranh thì VIB đứng ở vị trí số 6 trong khối NHTMCP Đây là một lợi thế giúp VIB có khả năng mở rộng tiếp cận cung cấp dịch vụ tới khách hàng
Trong công tác xây dựng chiến lược kinh doanh, VIB đã hoàn thành kế hoạch giai đoạn 2003 – 2007 và trở thành 1 trong 5 NHTMCP hàng đầu ở Việt Nam về lợi nhuận, tổng tài sản, tổng dư nợ Sang năm 2008, chiến lược kinh doanh chưa được xác định, nhân sự thay đổi thường xuyên, cơ chế khen thưởng đãi ngộ nhân viên không được quan tâm, môi trường làm việc có chiều hướng đi xuống Kết quả là VIB đã không còn trong tốp 5 NHTMCP đứng đầu Việt Nam
Về văn hóa doanh nghiệp, giai đoạn đầu VIB đã tạo dựng được văn hóa doanh nghiệp, nơi mỗi cá nhân đều có cơ hội học hỏi thăng tiến phấn đấu cho mục tiêu là làm hài lòng khách hàng Tuy nhiên, 1 năm trở lại đây, văn hóa doanh nghiệp có chiều hướng đi xuống, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh
- Nguồn nhân lực: Đến ngày 31/12/2007, tổng số cán bộ công nhân viên
của VIB là 2.173 người với 88,6% có trình độ đại học Chính sách đào tạo được trú trọng Sang năm 2008, số lượng không thay đổi nhưng các chính sách đào tạo hầu như bị cắt giảm, chính sách đãi ngộ, khen thưởng đã được tối thiểu hóa, xuất hiện bất hợp lý trong việc bố trí, phân định chức năng, trách nhiệm và quan hệ theo chiều ngang và chiều dọc nên hiện tượng chảy máu nguồn nhân lực chất lượng cao đã xẩy ra, kết quả kinh doanh bị ảnh hưởng nghiêm trọng
- Hoạt động cung ứng sản phẩm dịch vụ: Do hoạt động nghiên cứu và
phát triển sản phẩm chưa được VIB quan tâm nên sản phẩm dịch vụ còn đơn điệu, nghèo nàn, tính tiện lợi chưa cao, chưa thiết kế cho từng nhóm khách hàng khác nhau Rất nhiều sản phẩm và dịch vụ hiện đã được cung cấp trên thị trường nhưng VIB chưa thực hiện Có thể kết luận sản phẩm dịch vụ của VIB
so với các NHTMCP khác vẫn chưa có sự khác biệt
- Hoạt động marketing và phát triển thương hiệu: VIB đã hoạch định
và thực hiện kế hoạch phát triển thương hiệu với các mục tiêu cụ thể trên
Trang 8phạm vi tòan quốc, bao quát mọi hoạt động Tuy nhiên do chưa phân đoạn thị trường mục tiêu nên các chương trình marketing vẫn còn mang tính đại chúng, nên hiệu quả tác động tới khách hàng khá thấp
Các chỉ tiêu đo lường năng lực cạnh tranh của VIB
- Tỉ suất sinh lợi: Tỉ suất sinh lợi VIB được thể hiện qua 2 chỉ tiêu cơ
bản là ROA và ROE Thông qua số liệu ở bảng dưới đây sẽ thấy được hiệu quả kinh doanh hay năng lực cạnh tranh của VIB so với các đối thủ cạnh tranh
Bảng 2.5: Kết quả kinh doanh giữa các NHTMCP năm 2008
2 ROE (%) 36,5 7,5 14,1 29 24,5 11,2
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hàng năm của các ngân hàng )
- Cơ cấu thu nhập: Chỉ tiêu này phản ánh chất lượng tài sản có Với tỷ
trọng tín dụng quá cao, chiếm tới 87,2% tổng thu thuần trong khi doanh thu dịch vụ phi tin dụng trung bình của các đối thủ cạnh tranh đã đạt khoảng 30% cho thấy hoạt động kinh doanh của VIB rủi ro cao và khả năng thay đổi theo
mô hình ngân hàng hiện đại là hết sức chậm chạp
Biểu 2.6: So sánh DT dịch vụ thuần của VIB với các NHTMCP giai đoạn 2007–2008
Đơn vị : Tỉ đồng
343
680
102
154
291
672
315
567
204
262
0
100
200
300
400
500
600
700
( Nguồn : Báo cáo thường niên của các ngân hàng )
- Vị thế cạnh tranh: Thể hiện qua quy mô, tốc độ huy động vốn, dư nợ
Về thị phần huy động vốn, đến 31/12/2008, nguồn vốn huy động của VIB đạt 32.426 tỉ đồng trong đó huy động vốn từ thị trường thị trường 1 là
Trang 923.800 tỉ đồng tăng 24% so với năm 2007 Tuy nhiên mức độ tăng trưởng đã giảm nhiều so với năm 2007
Bên cạnh đó, nếu đem so sánh với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường tiền gửi, ta thấy quy mô huy động vốn VIB thấp hơn Kết quả này cho thấy năng lực cạnh tranh của VIB trong huy động vốn đang bị suy giảm
Biểu 2.7: Vốn huy động từ dân cư của các NHTMCP giai đoạn 2007 -2008
Đơn vị : Tỉ đồng
55283
8934
22906
7972
44232
1897
27030
2703
17785
9377
19240
4560
0
10000
20000
30000
40000
50000
60000
70000
Năm 2007 Năm2008 (Nguồn: Báo cáo tổng kết hàng năm của các ngân hàng )
Về thị phần dư nợ cho vay, năm 2008 đánh dấu sự sụt giảm của thị trường tín dụng, hầu hết các NHTMCP đều không đạt được kế hoạch trong khi đó tỉ lệ nợ xấu lại tăng cao Nguyên nhân là do môi trường kinh tế khó khăn, các NHTMCP đã chủ động thu hẹp quy mô tăng trưởng tín dụng chỉ tập trung vào xử lý nợ xấu nhằm giảm thiểu rủi ro
Biểu 2.8: So sánh dư nợ VIB với các NHTMCP giai đoạn 2007 -2008
Đơn vị : Tỉ đồng
31677
2927
18378
2854
35200
-443
20017
6005
11469
4025
16744
3055
-5000
0
5000
10000
15000
20000
25000
30000
35000
40000
( Nguồn: Báo cáo tổng kết hàng năm của các ngân hàng )
Trang 10- Sự phù hợp với thông lệ quốc tế: VIB đã chủ động xây dựng, điều
chỉnh hoạt động kinh doanh trong các năm qua cho phù hợp với quy định quốc tế về tỉ lệ an toàn vốn( CAR), thực hiện phân loại nợ và trích lập DPRR,
kế toán quốc tế, Tuy nhiên, mức độ áp còn ở mức hạn chế và có sự khác biệt trong những lĩnh vực khác nhau
2.3 Đánh giá năng lực cạnh tranh của VIB
Qua phân tích thực trạng trên có thể rút ra các kết luận về những điểm mạnh, điểm yếu của VIB so với các đối thủ cạnh tranh như sau:
Điểm mạnh
- Quy mô về mạng lưới hoạt động: VIB có mạng lưới chi nhánh và
phòng giao dịch rộng khắp và đội ngũ nhân lực trẻ được đào tạo chuyên nghiệp bài bải đáp ứng tốt nhu cầu dịch vụ tài chính giúp VIB cạnh tranh tốt hơn
- Có được uy tín nhất định của khách hàng về VIB: Sau 12 năm hoạt
động, VIB đã được khách hàng biết đến và sử dụng dịch vụ Nhiều năm liền VIB được các tổ chức tài chính tín dụng quốc tế, khách hàng ghi nhận và trao giải ngân hàng bán lẻ tốt nhất
- Quyết tâm của Ban lãnh đạo VIB trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh: Việc hoàn thành chiến lược kinh doanh 2003 – 2007 và triển khai
chiến lược kinh doanh giai đoạn 2009 – 2013 đã tạo đà cho VIB nâng cao hiệu quả hoạt động, nâng dần vị thế, hình ảnh trên thị trường tài chính
- Am hiểu sâu sắc văn hóa, tâm lý, phong tục tập quán, thị hiếu của khách hàng và thị trường trong nước: Với nguồn nhân lực 100% là người
Việt nên rất am hiểu về văn hóa, phong tục tập quán của khách hàng
- Sự linh hoạt chủ động trong hoạt động kinh doanh: Là một ngân
hàng nhỏ nên dễ dàng hơn trong thay đổi chiến lược kinh doanh và khai thác kinh nghiệm của các ngân hàng đi trước nhằm chọn cho mình một hướng đi thuận lợi nhất
Điểm yếu và nguyên nhân
- Chiến lược không rõ ràng, không có được vị thế khác biệt trong ngành ngân hàng
- Là người đi sau chứ không phải là người dẫn đầu, năng lực phát