Để đánh giá năng lực của Công ty Cổ phần Xây dựng và Chuyển giao kỹ thuật. hiện tại bằng cách so sánh một số chỉ tiêu tài chính của công ty với một số đối[r]
Trang 1i
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Cạnh tranh là tất yếu trong nền kinh tế thị trường, do đó nâng cao năng lực cạnh tranh là vấn đề sống còn trong hoạt đông kinh doanh và phát triển của doanh nghiệp Môi trường kinh doanh càng có nhiều cơ hội hoặc xuất hiện các nguy cơ thì cạnh tranh để tồn tại và phát triển ngày càng trở nên gay gắt giữa các doanh nghiệp Cạnh tranh không phải sự huỷ diệt mà là sự thay đổi, thay thế những doanh nghiệp không biết đón nhận cơ hội kinh doanh bằng những doanh nghiệp biết nắm bắt thời cơ và phát huy tối đa sức mạnh của mình Chính vì vậy, cạnh tranh là động lực phát triển không những của mỗi doanh nghiệp mà suy rộng ra còn cho cả mỗi quốc gia
Công ty Cổ phần Xây dựng và Chuyển giao kỹ thuật là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp, là doanh nghiệp có quy mô vừa Tham gia vào thị trường xây dựng từ năm 1988, qua gần hai thập kỷ, đơn vị không ngừng gia tăng tốc độ tăng trưởng cả về quy mô và chất lượng tăng trưởng Tuy nhiên, với đặc thù là một doanh nghiệp Nhà nước, trực thuộc Tổng Công ty Xây dựng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong những năm qua năng lực cạnh tranh của Công ty còn những hạn chế nhất định
Chính vì thế việc nghiên cứu có hệ thống các vấn đề cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp nhằm xây dựng và đưa ra các giải pháp đồng bộ giúp các doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường là một yêu cầu bức xúc trước mắt và lâu dài cả về mặt
lý luận và thực tiễn Với ý nghĩa đó, đề tài “ Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ Phần Xây dựng và Chuyển giao kỹ thuật” được lựa chọn
làm luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh
Kết cấu của Luận văn bao gồm các nội dung sau:
Chương 1: Mở đầu
Chương 2: Lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Chương 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Xây dựng và Chuyển giao kỹ thuật
Chương 4: Giải pháp và kiến nghị nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Xây dựng và Chuyển giao kỹ thuật
Trang 2CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA DOANH NGHIỆP
Trong cuộc chạy đua để các doanh nghiệp tồn tại, phát triển và tối đa hóa lợi nhuận, có rất nhiều phương diện cạnh tranh cần xem xét: Cạnh tranh giữa các nhà sản xuất với nhau, cạnh tranh giữa các nhà sản xuất với nhà cung ứng, cạnh tranh giữa các nhà sản xuất hàng truyền thống với các nhà sản xuất hàng thay thế, cạnh tranh giữa các nhà sản xuất với khách hàng
Các doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường thì phải chấp nhận cơ chế thị trường: Có nghĩa là phải đưa ra thị trường và được thị trường chấp nhận hàng hóa đó, kết quả cuối cùng phải trang trải chi phí sản xuất và thu lợi nhuận Để đạt được điều đó, họ phải làm sao thỏa mãn nhu cầu khách hàng một cách tốt nhất so với các đối thủ cạnh tranh khác và cuộc cạnh tranh không mong muốn
đã xảy ra Trong cuộc chiến này có kẻ thắng, người thua nhưng khách hàng lại được đề cao và hưởng lợi
Khái niệm năng lực cạnh tranh (competitiveness) là khả năng tạo cho doanh nghiệp một lợi thế cạnh tranh tuyệt đối và tương đối so với các đối thủ khác với mục tiêu chiếm được thị phần và tối đa hóa lợi nhuận, đưa doanh nghiệp phát triển về quy mô và ảnh hưởng của mình trong thị trường
Có rất nhiều khái niệm về năng lực cạnh tranh đã được nói đến trong các giáo trình Tuy nhiên, có thể nói khái niệm nổi tiếng nhất thế giới về năng lực cạnh tranh là của Michael Porter Ông đã đưa ra rất nhiều khái niệm nhưng “ suy cho cùng năng lực cạnh tranh chính là năng suất – productivity”
Năng lực cạnh tranh được đánh giá dựa trên năng suất, giá trị của hàng hoá và dịch vụ làm ra tính trên một đơn vị nhân lực, vốn, tài nguyên của một quốc gia Năng suất cao tạo ra mức lương cao (cho người làm công), đồng tiền mạnh (cho một quốc gia), lợi nhuận hấp dẫn trên nguồn vốn và cuối cùng là mức sống cao cho người dân
Cạnh tranh có thể được xem xét dưới nhiều khía cạnh, hình thức khác nhau như: Cạnh tranh tự do; cạnh tranh thuần túy; cạnh tranh hoàn hảo; cạnh tranh không hoàn hảo; cạnh tranh lành mạnh; cạnh tranh không lành mạnh Các hình thức cạnh tranh phụ thuộc vào tính chất của thị trường và bản chất của nền kinh tế
Trang 3iii
Những chỉ tiêu để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng Khi đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng, cần lưu ý các khía cạnh sau:
- Phải lấy yêu cầu của khách hàng làm chuẩn mực
- Thực lực của doanh nghiệp……
- Việc đánh giá năng lực cạnh tranh nếu chỉ căn cứ vào yếu tố định tính thì không tránh được các yếu tố cảm tính, bởi vậy phải cố gắng lượng hóa Tuy nhiên khó có được một chỉ tiêu tổng hợp đo lường năng lực cạnh tranh, do đó phải có một hệ thống chỉ tiêu:
* Chỉ tiêu về kết cấu tài chính:
Tỷ suất nợ và tỷ suất vốn tự tài trợ: là chỉ tiêu đánh giá mức độ độc lập hay phụ thuộc của doanh nghiệp đối với các chủ nợ, mức độ tự tài trợ của doanh nghiệp đối với vốn kinh doanh của mình Tỷ suất vốn tự tài trợ càng lớn chứng
tỏ doanh nghiệp có nhiều vốn tự có, tính độc lập cao đối với các chủ nợ do đó không bị ràng buộc hoặc sức ép của các khoản nợ vay
Tỷ suất = Nợ phải trả x 100%
nợ Nguồn vốn
Tỷ suất = Vốn chủ sở hữu x 100%
vốn tự tài trợ Nguồn vốn
* Chỉ tiêu về khả năng thanh toán:
- Hệ số thanh toán hiện hành (H1): là mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn với các khoản nợ ngắn hạn, thể hiện mức độ đảm bảo tài sản ngắn hạn đối với
nợ ngắn hạn, là chỉ tiêu đánh giá tốt nhất khả năng thanh toán ngắn hạn
Hệ số thanh (H1) = Tài sản ngắn hạn
toán hiện hành Nợ ngắn hạn
* Chỉ tiêu về khả năng sinh lời:
Khi phân tích về vấn đề tài chính của các doanh nghiệp, ta phải đặc biệt quan tâm đến khả năng sử dụng một cách hiệu quả tài sản để mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho doanh nghiệp
Các tỷ suất doanh lợi luôn được các nhà kinh doanh, các nhà đầu tư quan tâm Nó phản ánh tính hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh và là cơ sở quan trọng có ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
+ Hệ số doanh lợi bao gồm:
Trang 4Tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu = Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu
Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn =
chủ sở hữu (ROE)
Lợi nhuận sau thuế Tổng vốn chủ sở hữu
ơ
Các hệ số này phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Hệ số này càng cao thì hiệu quả sản xuất kinh doanh càng lớn
Hai chỉ tiêu này biểu hiện cứ 100 đồng doanh thu thì sinh ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế và cứ 100 đồng vốn hoạt động bình quân trong kỳ sẽ mang về bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Tỷ suất này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp có vốn sử dụng tốt và ngược lại
* Các chỉ tiêu riêng:
+ Giá trị trúng thầu và số lượng công trình thắng thầu:
Chỉ tiêu này cho biết một cách khái quát tình hình kết quả dự thầu của doanh nghiệp Qua đó có thể đánh giá được chất lượng, hiệu quả của công tác dự thầu trong năm và quy mô của các công trình đã trúng thầu
+ Xác suất trúng thầu:
Tính theo số hợp đồng:
P1 = Htt x 100%
Hdt Tính theo giá trị hợp đồng:
P2 = Gtt x 100%
Gdt Trong đó: P1: Xác suất trúng thầu theo số hợp đồng
Htt: Số hợp đồng trúng thầu
Hdt: Số hợp đồng tham gia dự thầu
P2: Xác suất trúng thầu theo giá trị hợp đồng
Gtt: Giá trị hợp đồng trúng thầu
Gdt: Giá trị hợp đồng tham gia dự thầu
+ Thị phần và uy tín của doanh nghiệp:
Đây là chỉ tiêu đánh giá một cách khái quát năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Uy tín của doanh nghiệp liên quan đến tất cả các chỉ tiêu trên và các yếu tố khác như: chất lượng công trình, tổ chức doanh nghiệp, tổ chức các
Trang 5v
dự án thi công, marketing,…
Các phương thức cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng hiện nay Thông
thường theo 4 phương thức như cạnh tranh bằng trình độ, kinh nghiệm và năng lực, các cam kết về chất lượng và giải pháp thực hiện, thương hiệu của doanh nghiệp, cạnh tranh bằng giá dự thầu
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ CHUYỂN GIAO KỸ THUẬT
Tiền thân của Công ty là Trung tâm Xây dựng và Chuyển giao kỹ thuật- trực thuộc Viện Thiết kế kiến trúc Nông nghiệp- Bộ Nông nghiệp -được thành lập năm 1988 Năm 1993 được tổ chức lại thành Công ty Xây dựng và Chuyển giao kỹ thuật Theo chủ trương sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp của Chính phủ
về việc chuyển đổi doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty cổ phần, năm 2005
Công ty đã chính thức mang tên Công ty Cổ Phần Xây dựng và Chuyển giao
kỹ thuật
Trong suốt 19 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, Công ty đã trải qua nhiều thăng trầm trong thời kỳ chuyển đổi cơ chế, tuy nhiên với sự nỗ lực của Ban lãnh đạo và cán bộ công nhân viên Công ty đã phát triển từng bước vững chắc đóng vai trò là một đơn vị xây lắp mạnh của Bộ Nông nghiệp trong những năm 1990-1996
Ngành nghề kinh doanh chính
- Xây dựng công nghiệp, dân dụng, trang trí nội thất
- Kinh doanh bất động sản và phát triển xây dựng nhà ở
- Xây dựng công trình thuỷ lợi, xây dựng giao thông
- Sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng…
- Xây dựng các công trình cấp thoát nước đô thị và nông thôn, các công trình đường dây và trạm biến thế điện
- Kinh doanh nhà hàng, khách sạn
- …
Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý
Các phòng chức năng:
- Phòng Kế hoạch- Thị trường
- Phòng Kỹ thuật và Quản lý dự án
- Phòng Tài chính- Kế toán
Trang 6- Phòng Tổ chức- Hành chính
Các đơn vị trực thuộc Công ty:
- Chi nhánh Tây Nguyên
- Chi nhánh Móng Cái-Quảng Ninh
- Chi nhánh Đăklăk
- Chi nhánh Quảng Bình
- Các đội xây lắp
Công ty Cổ Phần Xây dựng và Chuyển giao kỹ thuật với bộ máy lãnh đạo, tổ chức điều hành gọn nhẹ, năng động thích ứng tốt với cơ chế thị trường; đội ngũ cán bộ, kỹ sư giàu kinh nghiệm, công nhân kỹ thuật lành nghề, chuyên nghiệp tương đối đáp ứng được các yêu cầu trong thi công xây dựng
Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty
1.Khả năng về tài chính
Nhìn chung tình hình sản xuất kinh doanh 03 năm qua của Công ty đạt hiệu quả chưa cao Các chỉ số về khả năng sinh lời và đòn bẩy tài chính thấp Chỉ số vòng quay tài sản, vòng quay hàng tồn kho và vòng quay các khoản phải
thu đều thấp dẫn đến số ngày tồn kho và số ngày phải thu kéo dài
Nguyên nhân chủ yếu là do:
- Sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng cơ bản ngày càng xuất hiện nhiều yếu tố cạnh tranh gay gắt Thị trường giá cả vật liệu xây dựng luôn biến động theo chiều hướng tăng làm cho tiến độ một số công trình chững lại
- Việc nợ đọng của một số chủ đầu tư chưa thanh toán hết khi công trình thi công xong gây thiếu vốn và hạn chế khả năng quay vòng của đồng vốn, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh
Thông qua việc phân tích một số chỉ tiêu về tài chính của công ty, có thể thấy khả năng về tài chính của công ty là ở mức trung bình, hiệu quả sản xuất kinh doanh không phải là cao, khả năng tự chủ về mặt tài chính còn thấp Về cơ cấu và nguồn vốn chủ sở hữu của công ty còn bộc lộ nhiều tồn tại yếu kém Tuy nhiên, trong những năm tới công ty sẽ khắc phục được nếu như có những giải pháp kịp thời và hữu hiệu
Trang 7vii
Biểu 3.1: Kết quả sản xuất kinh doanh 2005-2007 của Công ty Cổ phần Xây
Doanh thu bán hàng và
cung cấp dịch vụ
138,214,898,073
128,077,244,258 141,543,315,597
Doanh thu thuần
138,215,855,641
128,077,244,258 141,545,736,978 Giá vốn hàng bán
132,450,026,258
122,442,162,428 135,757,524,380 Lợi nhuận gộp
5,765,829,383
5,635,081,830 5,788,212,598 Chi phí bán hàng
222,051,406
311,302,941 262,663,221 Chi phí quản lý doanh
nghiệp
4,317,236,896
4,516,312,486 4,480,152,058 Lợi nhuận thuần từ
hoạt động sản xuất kinh
doanh
1,226,541,081
807,466,403 1,045,397,319 Doanh thu hoạt động
tài chính
108,682,437
1,977,454,565 741,158,902 Chi phí hoạt động tài
chính
1,414,612,926
2,275,286,568 513,144,304 Lợi nhuận từ hoạt động
tài chính -1,305,930,489 -297,832,003 228,014,598 Thu nhập khác
113,832,826 33,958,143 Chi phí khác
36,064,000 22,512,232
Lợi nhuận trước thuế -1,620,582 509,634,400 1,284,857,828 Thuế thu nhập doanh
Lợi nhuận sau thuế -1,620,582 366,936,768 925,097,636
(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty qua các năm)
2 Công tác đấu thầu
Tỷ lệ trúng thầu của công ty năm 2007 là 75%, là con số tương đối cao nhưng không phản ánh đúng thực trạng công tác đấu thầu ở công ty Nguyên nhân là các công trình công ty tham gia có một số công trình được chỉ định thầu, nhiều công trình có giá trị xây lắp nhỏ theo quy định cũng được phép chỉ định
Trang 8thầu và một số công trình có giá trị tương đối lớn thì lại ở vùng sâu, vùng xa hoặc khó thi công nên các doanh nghiệp mạnh không tham gia đấu thầu Trong tương lai công ty phải nâng cao năng lực cạnh tranh để có thể thắng thầu ở những thị trường tiềm năng, có các điều kiện thuận lợi trong việc tổ chức thi công và có khả năng thu được lợi nhuận cao hơn, chi phí giá thành thấp hơn
Công tác đấu thầu năm 2007 tại công ty:
Dự thầu Trúng thầu Tỷ lệ trúng thầu
Số lượng Giá trị Số lượng Giá trị Số lượng Giá trị
28 gói 480 tỷ 21 gói 240 tỷ 75% 50%
3 Nguồn nhân lực và công tác đào tạo bồi dưỡng
Về bằng cấp: Theo thống kê, số tốt nghiệp đại học trở lên chiếm 37% Trung cấp, sơ cấp chiếm 45%, còn lại số chưa qua đào tạo chiếm 18% Trong đó
số cán bộ quản lý và cán bộ kỹ thuật làm công tác chuyên môn của công ty có trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học đạt 100%
Về kinh nghiệm: Tỷ lệ kỹ sư cao cấp trung bình là 35 tuổi, các kiến trúc
sư, kỹ sư chủ yếu ở độ tuổi 25-40, độ tuổi có óc sáng tạo tốt chiếm 80% số cán
bộ, cán bộ ở độ tuổi 40-60 chiếm 20%, là những người có năng lực và nhiều kinh nghiệm
4 Tình hình máy móc, thiết bị công nghệ và ứng dụng công nghệ thông tin
Công ty đã trang bị được nhiều loại thiết bị với năng lực hoạt động tiên tiến, là điều kiện thuận lợi để có thể triển khai các dự án lớn Tuy nhiên, do giá thiết bị xây dựng cao, địa bàn của công ty trải rộng nên số máy móc thiết bị không thể đáp ứng được yêu cầu sử dụng, bởi nếu đầu tư đủ thì hiệu suất sử dụng sẽ rất thấp do đặc điểm của các loại máy phục vụ công tác xây dựng là rất cồng kềnh, thời gian di chuyển lâu, chi phí di chuyển lớn, chính vì vậy công ty cần có chiến lược cho công tác thiết bị công nghệ thi công phù hợp với từng địa bàn trên cơ sở gắn thi công hiện đại với hiệu quả kinh tế
Về ứng dụng công nghệ thông tin, công ty đã có tiến bộ trong công tác làm thầu, tư vấn thiết kế, quản lý tài chính nhờ có trang bị hệ thống máy tính hiện đại giúp việc tự động hoá được cao hơn, tính toán chuẩn xác hơn…
Tuy nhiên, hầu hết các phần mềm hiện đang sử dụng đều không có bản
Trang 9ix quyền Mới chỉ có một số phần mềm thường xuyên với chi phí thấp được trang
bị là có bản quyền như phần mềm kế toán, phần mềm dự toán Đây là một vấn
đề cần phải được giải quyết khi Việt Nam hội nhập quốc tế nhưng phải có sự giúp đỡ của Nhà nước bởi chi phí yêu cầu cao nên không có điều kiện tiến hành
5 Kỹ thuật, chất lượng
Hầu hết các công trình của công ty đã đáp ứng được về mặt kỹ thuật chất lượng được chủ đầu tư đánh giá cao Vì vậy, uy tín của công ty là khá cao, được chủ đầu tư tin tưởng nên năng lực cạnh tranh của công ty ở mặt này là không thể phủ nhận Tuy nhiên, điểm yếu về năng lực kỹ thuật của công ty có thể gây ảnh hưởng không tốt đến chất lượng và tiến độ công trình đó là số lượng, chất lượng, chủng loại máy móc chưa đầy đủ nên không đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật phức tạp
6 Tiến độ thi công
Từ khi thành lập đến nay, công ty đã tham gia thi công và hoàn thành rất nhiều các công trình trong lĩnh vực xây lắp dân dụng, công nghiệp, hạ tầng kỹ thuật Vì vậy, về cơ bản các công trình công ty đã thi công đáp ứng được các yêu cầu của chủ đầu tư
7 Giá cả
Thông qua các dự án mà công ty đã tham gia dự thầu, kể cả những dự án trúng thầu và không trúng thầu ta thấy rằng chiến lược xây dựng giá thầu của công ty chưa phải là một điểm mạnh khi tham gia dự thầu trọng về điểm giá nên giá dự thầu thường cao hơn so với các công ty khác dẫn đến việc không thắng thầu Vì vậy, trong thời gian tới, đòi hỏi công ty phải quan tâm hơn nữa về vấn
đề này nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty trong thời kỳ công nghệ mới, hội nhập mới
Đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Xây dựng và Chuyển giao kỹ thuật
+ Những điểm mạnh
- Công nghệ thi công tương đối hiện đại
- Khả năng liên doanh, liên kết với các đối tác tốt
- Trình độ lập hồ sơ dự thầu khá cao
+ Những điểm yếu
- Nguồn nhân lực có chất lượng chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu phát
Trang 10triển của doanh nghiệp trong những năm tới
- Trình độ công nghệ và ứng dụng khoa học kỹ thuật còn hạn chế
- Còn ít kinh nghiệm trong việc đấu thầu và thi công các công trình về thuỷ điện, chung cư cao cấp và các dự án mang tính chuyên ngành
- So với các doanh nghiệp lớn, tình hình tài chính của Công ty Cổ phần Xây dựng và Chuyển giao kỹ thuật còn rất hạn chế Khả năng tự tài trợ về vốn và khả năng thanh toán nhanh còn ở mức thấp vì vậy doanh nghiệp chưa chủ động được nguồn vốn kinh doanh Khó khăn trong việc điều hoà vốn, không phát huy được sức mạnh tập trung tài chính của toàn công ty nhằm đầu tư chiến lược định hướng lâu dài Chưa phát huy được tính chủ động trong sản xuất kinh doanh của các đơn vị thành viên, chưa đẩy mạnh được hợp tác trên tinh thần tự giác vì lợi ích chung của các đơn vị thành viên với nhau
- Trang thiết bị còn chưa hiện đại và đồng bộ dẫn đến tính kỹ thuật, mỹ thuật của sản phẩm chưa cao, chưa đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu của những chủ đầu tư khó tính
- Các đơn vị trong công ty chưa chủ động lập chiến lược phát triển lâu dài, chưa quan tâm đúng mức đến việc phát triển thương hiệu và nâng cao uy tín của công ty trên thị trường
+ Cơ hội
- Công ty đã tích luỹ được nhiều bài học kinh nghiệm trong tổ chức sản xuất, chỉ đạo điều hành thi công công trình…
- Công ty đã chuyển thành Công ty Cổ phần Điều đó chắc chắn sẽ mang lại một luồng gió mới, một cơ hội mới thuận lợi để công ty có thể cạnh tranh được trong điều kiện hội nhập mới
+ Nguy cơ
- Chưa đáp ứng được nhiệm vụ sản xuất với quy mô công nghiệp
- Năng lực về tài chính của công ty chưa đảm bảo
- Đối với các công trình lớn, các dự án về cầu, đường, thuỷ điện, các dự án chuyên ngành công ty chưa có đủ năng lực để có thể cạnh tranh so với các đối thủ mạnh vì thế dễ để mất thị phần trong lĩnh vực này
- Lực lượng cán bộ, công nhân viên có năng lực để có thể hội nhập được trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt hiện nay là không đảm bảo
- Khả năng chiếm lĩnh thị phần còn yếu, thị trường hiện nay của công ty có