Như vậy có thể khẳng định rằng Thái Lan hiện là một trong những nước có vai trò quan trọng trên thế giới trong thương mại thủy sản và là đối thủ cạnh tranh lớn nhất của Việt Nam trong [r]
Trang 1TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trong cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam thì thủy sản là một trong số những mặt hàng xuất khẩu chủ lực Trong đó, sản phẩm tôm tuy chỉ chiếm khoảng 20%
về khối lượng xuất khẩu nhưng luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng doanh thu xuất khẩu thủy sản đặc biệt những năm gần đây, doanh thu từ xuất khẩu tôm luôn đứng đầu trong danh sách các mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam (khoảng 40% kim ngạch) Nhìn chung, năng lực cạnh tranh mặt hàng tôm của Việt Nam còn chưa cao so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới như Trung Quốc, Thái Lan Đặc biệt là nước láng giềng Thái Lan, đây là nhà sản xuất tôm lớn thứ 2 thế giới, sau Trung Quốc nhưng là nhà xuất khẩu tôm hàng đầu thế giới
Như vậy có thể khẳng định rằng Thái Lan hiện là một trong những nước có vai trò quan trọng trên thế giới trong thương mại thủy sản và là đối thủ cạnh tranh lớn nhất của Việt Nam trong xuất khẩu mặt hàng tôm.Xuất phát từ tính thiết thực của vấn đề nêu trên,
tôi đã chọn đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh mặt hàng tôm xuất khẩu của Việt
Nam với Thái Lan” để nghiên cứu Mục đích của tác giả khi lựa chọn nghiên cứu đề tài
là:
Một là, nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh mặt hàng tôm xuất
khẩu
Hai là, phân tích đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh mặt hàng tôm xuất khẩu
của Việt Nam với Thái Lan trong thời gian qua
Ba là, đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh
mặt hàng tôm xuất khẩu của Việt Nam với đối thủ Thái Lan
Về nội dung của luận văn, tác giả kết cấu thành 3 chương trong đó:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh mặt hàng tôm xuất khẩu
1.1 Đặc điểm của thị trường tôm thế giới
Trang 2Thái Lan là nhà sản xuất tôm lớn thứ hai trên thế giới, sau Trung Quốc và sản xuất cả ba loại tôm là tôm thẻ, tôm sú và tôm càng xanh Việt Nam đứng ở vị trí thứ 3 trong top 5 các quốc gia châu dẫn đầu về sản xuất nuôi tôm Indonesia đứng thứ tư thế giới Ấn Độ đứng ở vị trí thứ năm
Thái Lan mặc dù là nước sản xuất tôm lớn thứ hai thế giới, sau Trung Quốc, nhưng luôn là nước xuất khẩu tôm hàng đầu thế thới Trong khi Việt Nam vẫn chỉ là nước xuất khẩu tôm thứ ba thế giới Tuy nhiên, năm 2013 do ảnh hưởng của dịch bệnh, xuất khẩu tôm của Thái Lan và Trung Quốc sụt giảm mạnh nhất từ trước đến giờ, Ấn Độ và Indonesia lại có sự tăng trưởng vượt trội, từ vị trí thứ tư và thứ năm đã vươn lên dẫn đầu thế giới về xuất khẩu tôm
Trên thế giới có khoảng trên 100 thị trường nhập khẩu tôm, nhưng tổng sản lượng tôm nhập khẩu của ba thị trường hàng đâu theo thứ tự là Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản luôn chiếm trên 70% tổng sản lượng tôm xuất khẩu của các quốc gia
1.2 Năng lực cạnh tranh và tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực cạnh tranh mặt hàng tôm xuất khẩu của Việt Nam với Thái Lan
Đối với mặt hàng tôm xuất khẩu, cạnh tranh ngày càng gay gắt khi trên thị trường ngày càng xuất hiện nhiều các doanh nghiệp cạnh tranh từ các đối thủ như Thái Lan với tiềm lực mạnh về tài chính, công nghệ, quản lý và có sực mạnh thị trường Nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm của quốc gia là một đòi hỏi cấp bách để các doanh nghiệp Việt Nam đủ sực cạnh tranh một cách lành mạnh và hợp pháp trên thương trường quốc tê
1.3 Những tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của mặt hàng tôm xuất khẩu của Việt Nam
Thị phần tôm xuất khẩu: là phần thị trường tiêu thụ sản phẩm mà các doanh nghiệp của quốc gia chiếm lĩnh trên tổng dung lượng của thị trường
Trang 3Chủng loại tôm xuất khẩu: Đây là một trong những chỉ tiêu cốt lõi, mang tính chất quyết định trong cạnh tranh mặt hàng tôm xuất khẩu Theo ngôn ngữ Marketing hiện đại người ta nói “Bán cái thị trường cần chứ không phải bán cái chúng ta có”
Chất lượng tôm xuất khẩu: Ngày nay chất lượng là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của một sản phẩm hàng hoá Vì thế nhiều doanh nghiệp
cố gắng nâng cao chất lượng sản phẩm bằng cách cải thiện các yếu tố khác
Chi phí sản xuất và giá cả tôm xuất khẩu: Chi phí sản xuất là yếu tố quyết định đến giá cả sản phẩm, trong khi giá lại chính là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến sự thành công trên thị trường, hay nói cách khác là nó ảnh hưởng tương đối lớn đến năng lực cạnh tranh của hàng hoá nói chung và mặt hàng tôm nói riêng
Hệ thống phân phối và thương hiệu tôm xuất khẩu: Cần phải lựa chọn và kết hợp một cách hiệu quả nhất những yếu tố nhằm tạo nên một thương hiệu mạnh Đồng thời khi lựa chọn các yếu tố của thương hiệu cần phải đảm bảo chúng có thể hỗ trợ, tăng cường lẫn nhau, cần phải được xây dựng một cách đồng bộ dựa trên giá trị và tính cách cốt lõi của nhãn hiệu được định hướng qua việc xây dựng một chiến lược nhãn hiệu
1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh mặt hàng tôm xuất khẩu của Việt Nam
Điều kiện tự nhiên và con người: Việt Nam và Thái Lan đều có điều kiện tự nhiên hoàn toàn thuận lợi cho việc đánh bắt, nuôi trồng và xuất khẩu tôm gồm cả vị trí địa lý, sông ngòi và khí hậu
Điều kiện về kinh tế: Việt Nam có được sự thuận lợi về mặt kình tế, tốc độ tăng trưởng ổn định, sự ổn định của giá cả, tiền tệ, lạm phát và ổn định trong tỷ giá hối đoái Hiện nay, Việt Nam vẫn đang thực hiện chiến lược hướng về xuất khẩu
Điều kiện về chính trị, xã hội, pháp luật: Chính phủ Việt Nam đã thực hiện các chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản như thuế, vốn vay ưu đãi, chuyển đổi ngoại tệ để gia tăng kim ngạch xuất khẩu Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản
Trang 4Việt Nam (VASEP) là kênh quảng cáo thương hiệu hiệu quả, giúp cho việc quảng bá tôm Việt Nam đến các nước trê thế giới trở nên dễ dàng hơn
Cơ sở hạ tầng, kỹ thuật nuôi trồng và công nghệ chế biến, bảo quản: hiện nay, trình độ công nghệ của nhiều cơ sở nuôi trồng, chế biến, đông lạnh thuỷ sản ở Việt Nam
đã ngang với các nước khác trong khu vực và tiếp cần được trình độ của thế giới Tuy nhiên, sự phát triển trên đây của Việt Nam cũng nằm trong dòng phát triển tương tự của các nước khác trong khu vực Chưa có những yếu tố vượt trội về mặt công nghệ
1.5 Kinh nghiệm thực tiễn về giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh mặt hàng tôm xuất khẩu của Trung Quốc và bài học rút ra cho Việt Nam
Một kinh nghiệm nữa của Trung Quốc trong việc nâng cao sản lượng xuất khẩu làm tăng kim ngạch xuất khẩu là Trung Quốc thực hiện kế hoạch đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm nuôi dựa vào ưu thế vùng Những sản phẩm xuất khẩu của Trung Quốc mang
rõ đặc tính sản phẩm sản xuất theo vùng như sản phẩm tôm he xuất khẩu chủ yếu có nguồn gốc từ Quảng Đông, tôm thẻ chân trắng với tên Trung Quốc Ngành chế biến thủy sản được đầu tư với quy mô lớn với những cơ sở chế biến lớn và hiện đại đã giúp cho các doanh nghiệp chế biến của Trung Quốc hoạt động có hiệu quả với chi phí sản xuất và lao động thấp
Chương 2 Thực trạng năng lực cạnh tranh mặt hàng tôm xuất khẩu của Việt Nam với Thái Lan
2.1 Thực trạng xuất khẩu tôm của Thái Lan và Việt Nam
Sản lượng tôm xuất khẩu của Thái Lan trong giai đoạn từ năm 2007 đến 2010 luôn tăng trưởng rất ổn định, tốc độ tăng trưởng trung bình về khối lượng tôm xuất khẩu của Thái Lan đạt khoảng 10%/năm, cùng với đó là sự tăng trưởng rất nhanh về giá trị tôm xuất khẩu Đến năm 2011, nguồn cung tôm từ Thái Lan sụt giảm do lũ lụt tồi tệ nhất xảy ra tại nước này Năm 2012 là năm đầy thất bại của ngành tôm thế giới, nuôi tôm nước lợ bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi dịch bệnh Hội chứng tôm chết sớm (EMS) trên diện rộng Theo đó, sản lượng tôm xuất khẩu của Thái Lan giảm gần 15% so với năm
Trang 52011, Việt Nam giảm 11,6% Tuy nhiên, năm 2013 Việt Nam đứng thứ ba thế giới về xuất khẩu tôm và lần đầu tiên xuất khẩu tôm của Việt Nam đã vượt Thái Lan cả về sản lượng lẫn giá trị xuất khẩu
2.2 Phân tích năng lực cạnh tranh mặt hàng tôm xuất khẩu của Việt Nam với Thái Lan
Thị phần tôm xuất khẩu: Trên thế giới, những năm qua Thái Lan luộn là nước dẫn đầu kể cả về sản lượng cũng như giá trị xuất khẩu tôm sang các thị trường trọng điểm Trước năm 2012, Thái Lan đứng đầu về thị phần xuất khẩu tôm sang các thị trường Hoa
Kỳ, EU, Nhật Bản Trong khi Việt Nam chỉ xếp thứ 2 tại Nhật Bản, thứ 5 tại Hoa Kỳ và thứ 6 tại Châu Âu Từ năm 2012, sau bị bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh trên tôm, vị trí của Thái Lan có bị suy giảm, thị phần tôm của Thái Lan tại các thị trường bị Ấn Độ
và Indonesia chiếm lấy, còn thị phần của Việt Nam vẫn không thay đổi nhiều
Chủng loại tôm xuất khẩu: Thế mạnh của ngành hàng tôm xuất khẩu Việt Nam là con tôm sú, còn của Thái Lan hiện nay lại là tôm thẻ Việt Nam chủ yếu xuất khẩu mặt hàng tôm nguyên con đông lạnh, hàm lượng chế biến ít, chỉ rửa sạch rồi đông lạnh, chiếm khoảng 65% còn lại 35% là mặt hàng tôm đã qua chế biến và đóng hộp
Còn về Thái Lan, trong khoảng những năm 2010 trở về trước, tỷ trọng tôm tươi, đông lạnh xuất khẩu của Thái Lan chiếm khoảng 55% còn lại là tôm chế biến, đóng hộp, nhưng những năm trở lại đây, cơ cấu mặt hàng đông lạnh đã giảm so với trước, năm
2013, sản phẩm tôm chế biến, đóng hộp chiếm 56,1% trong tổng giá trị tôm xuất khẩu của nước này, còn tỷ trọng mặt hàng tôm đông lạnh giảm xuống chỉ còn chiếm 43,9%
Chất lượng tôm xuất khẩu : Theo số liệu thống kê của NAFIQAD, tính đến nay Việt Nam đã có 636 doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thủy sản đạt quy mô công nghiệp, có 3.233 doanh nghiệp chế biến quy mô thủ công Còn còn số đó ở Thái Lan là
1226 doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thủy sản quy mô công nghiệp, gấp đôi số lượng doanh nghiệp công nghiệp ở Việt Nam Điều này đã cho thấy khả năng đảm bảo chất
Trang 6lượng sản phẩm thủy sản chế biến nói chung và tôm nói riêng của Thái Lan lớn hơn Việt Nam
Chi phí sản xuất và giá cả tôm xuất khẩu: Chúng ta có thể khẳng định Việt Nam không thể cạnh tranh về giá với các nước cung cấp khác đặc biệt là Thái Lan do giá thành sản xuất quá cao và tỷ lệ thành công trong nuôi tôm thấp, chỉ đạt 30% - 40% Trong khi tỷ lệ thành công của nước khác như Thái Lan đạt tới 70% Bên cạnh đó, chi phí đầu vào của sản xuất tôm tăng cộng với dịch bệnh liên tiếp khiến chi phí sản xuất tôm Việt Nam tăng 15 – 25% Giá tôm nguyên liệu cao ảnh hưởng lớn tới giá thành phẩm tôm khiến tôm Việt Nam khó cạnh tranh được về giá với nhiều nhà cung cấp khác Giá tôm xuất khẩu trung bình của Việt Nam luôn cao hơn 1-2 USD/kg so với Thái Lan
Hệ thống phân phối và thương hiệu tôm xuất khẩu: Nhận thức của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Việt Nam về phát triển thương hiệu cho các loại sản phẩm tôm xuất khẩu còn hạn chế hơn so với Thái Lan Các doanh nghiệp Việt Nam đã xây dựng được thương hiệu riêng của mình còn rất ít so với đối thủ Thái Lan
Vẫn còn nhiều trường hợp tôm của Việt Nam bán ra trên thị trường quốc tế nhưng người tiêu dùng không hề biết đấy là sản phẩm xuất xứ từ Việt Nam, hay thậm chí có nhiều sản phẩm còn mang thương hiệu của Thái Lan
2.3 Đánh giá về năng lực cạnh tranh mặt hàng tôm xuất khẩu của Việt Nam so với Thái Lan
2.3.1 Những điểm mạnh của tôm xuất khẩu Việt Nam so với Thái Lan
Sản lượng và doanh thu tôm xuất khẩu của Việt Nam vượt qua Thái Lan Việt Nam ngày càng chiếm lĩnh được thị phần tôm xuất khẩu trên thế giới so với Thái Lan Việt Nam vươn lên trở thành nước đứng đầu thế giới về sản xuất tôm sú
2.3.2 Những điểm yếu của tôm xuất khẩu Việt Nam so với Thái Lan
Giá tôm xuất khẩu của Việt Nam luôn cao hơn giá với tôm xuất khẩu của Thái Lan Số lượng doanh nghiệp đạt quy mô công nghiệp của Việt Nam chỉ bằng một nửa của Thái Lan Chất lượng và tỷ lệ chế biến trong tôm xuất khẩu của Việt Nam còn thấp so với
Trang 7Thái Lan Tôm xuất khẩu của Việt Nam gặp phải rào cản Ethoxyquin từ Nhật Bản và Hàn Quốc Thương hiệu tôm của Việt Nam không bằng thương hiệu tôm của Thái Lan trên thị trường quốc tế
2.3.3 Những nguyên nhân của những điểm mạnh và điểm yếu này
Việt Nam có nguồn nhân lực lớn nhưng trình độ chuyên môn còn kém so với Thái Lan Điều kiện tự nhiên của Việt Nam có phần ưu thế hơn so với Thái Lan Nguồn cung tôm từ Thái Lan đang bị thiếu hụt do ảnh hưởng của dịch bệnh tạo ra cơ hội chiếm lĩnh thị phần cho Việt Nam Việt Nam thành công hơn Thái Lan trong việc không chế dịch bệnh Công nghệ nuôi trồng tôm của nước ta còn thô sơ làm cho năng suất nuôi còn hạn chế so với Thái Lan Năng lực sản xuất tôm của Việt Nam còn nhiều yếu kém so với Thái Lan Quá trình chuyển đổi cơ cấu nuôi trồng giữa tôm sú và tôm thẻ chân trắng của Việt Nam còn nhiều bất cập
Chương 3 Định hướng và giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh mặt hàng tôm xuất khẩu của Việt Nam so với Thái Lan
3.1 Định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh mặt hàng tôm xuất khẩu của Việt Nam
Để phát nâng cao sức cạnh tranh mặt hàng tôm xuất khẩu thì mục tiêu quan trọng nhất là phát triển được nguồn tôm giống đảm bảo Vì vậy, mục tiêu đến năm đến năm
2020 đảm bảo chủ động cung cấp 100% nhu cầu giống cho nuôi trồng Định hướng về khai thác và bảo vệ nguồn lợi tôm: Tổ chức lại thành công sản xuất khai thác tôm trên biển, trên cơ sở cơ cấu lại tàu thuyền, nghề nghiệp phù hợp với các vùng biển, tuyến biển, với môi trường tự nhiên, nguồn lợi tôm Xây dựng, hoàn thiện được cơ chế quản lý phù hợp để định hướng khai thác, bảo tồn và phát triển nguồn lợi tôm trên biển, tăng cường sự tham gia của cộng đồng Định hướng về chế biến và tiêu thụ sản phẩm tôm xuất khẩu: Đến năm 2020, tôm đông lạnh vẫn là sản phẩm quan trọng, đạt sản lượng 330 nghìn tấn, chiếm 32,3% giá trị kim ngạch xuất khẩu Thị trường chủ yếu là Nhật Bản, Hoa Kỳ và EU, mở rộng thị trường các nước châu Á như Hàn Quốc, Trung Quốc
Trang 83.2 Những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh mặt hàng tôm xuất khẩu của Việt Nam so với Thái Lan
Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và phát triển thị trường xuất khẩu Phát triển hình thức xuất khẩu trực tiếp cho các hệ thống phân phối, trung tâm thương mại lớn, siêu thị, thay thế việc xuất khẩu qua trung gian nhằm nâng cao hiệu quả xuất khẩu
Đẩy mạnh hoạt động khuyến ngư và áp dụng công nghệ mới từ nuôi trồng đến chế biến nhằm nâng cao chất lượng tôm xuất khẩu Đẩy mạnh hợp tác quốc tế nghiên cứu sản xuất giống, nuôi thương phẩm các đối tượng nuôi mới, hải đặc sản quí hiếm, có giá trị kinh tế cao, có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển nuôi biển
Tập trung vào đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm kết hợp bảo vệ môi trường và phát triển nguồn lợi thủy sản Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát và tổ chức quản
lý, giám sát cộng đồng để quản lý môi trường và áp dụng các hình thức xử phạt nghiêm đối với các cơ sở sản xuất không tuân thủ quy định của Luật Bảo vệ môi trường để giảm thiểu tình trạng xả thải tùy tiện của các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường
Tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của tôm xuất khẩu Việt Nam Tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị từ sản xuất nguyên liệu đến chế biến tiêu thụ ở tất cả các lĩnh vực và đối tượng sản phẩm; trọng tâm là khai thác biển, nuôi tôm nước lợ, tạo sự gắn kết, chia sẻ lợi nhuận, rủi ro giữa người sản xuất nguyên liệu và doanh nghiệp chế biến
Tăng cường công tác quản lý nhà nước Nhân rộng các mô hình quản lý nhà nước
có sự tham gia của cộng đồng, khuyến khích các mô hình hợp tác, liên kết trong sản xuất chế biến và tiêu thụ; giữa doanh nghiệp chế biến tiêu thụ và người sản xuất nguyên liệu;
sự phối hợp hiệu quả giữa nhà nước và các tổ chức xã hội nghề nghiệp
Tăng cường hoàn thiện cơ chế chính sách liên quan đến nuôi trồng và chế biến tôm xuất khẩu Tiếp tục nghiên cứu cơ chế chính sách tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất một số lĩnh vực Tiếp tục thực hiện các chính sách khuyến khích dồn điền đổi thửa,
ao đầm để phát triển nuôi tôm công nghiệp tập trung, theo hướng sản xuất hàng hóa lớn
Trang 9Đẩy mạnh hoạt động đào tạo, phát triển cán bộ khoa học chuyên ngành công nghệ sinh học và các ngành ứng dụng công nghệ cao Có chính sách ưu đãi cho con, em ngư dân, học sinh, sinh viên, cán bộ trẻ trong ngành đi đào tạo trình độ đại học và sau đại học tại các trường đại học trong nước và ở các nước có trình độ tiên tiến về khoa học kỹ thuật thủy sản mà đặc biệt là tôm; có chính sách đào tạo, bồi dưỡng thuyền trưởng, máy trưởng, nghiệp vụ thuyền viên tàu đánh bắt cho ngư dân
Tăng cường hợp tác quốc tế, nâng cao vị thế của Việt Nam so với Thái Lan Tăng cường và mở rộng hợp tác quốc tế trong nghề tôm, trước hết đối với các nước trong khu vực ASEAN và các nước trong khu vực biển Đông Đẩy mạnh việc đàm phán, ký kết các thỏa thuận hợp tác nghề tôm song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc
tế trong khu vực và trên thế giới
3.3 Một số kiến nghị với Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản
Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam nên tăng cường và gánh trách nhiệm tham gia xây dựng định hướng chiến lược phát triển thị trường; đẩy mạnh xúc tiến thương mại, ổn định và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm tôm; thường xuyên thông tin về thị trường khu vực và trên thế giới cho doanh nghiệp và người sản xuất để chủ động trong sản xuất và kinh doanh xuất khẩu nhằm nắm vững cũng như đẩy mạnh thị phần, nâng cao sức cạnh tranh so với Thái Lan