1. Trang chủ
  2. » Hoá học lớp 11

Giáo trình kỹ năng lập luận và tranh luận

320 264 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 320
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với nhiệm vụ của một tài liệu huấn luyện kỹ năng – như tiêu đề của cuốn sách – chúng tôi tập trung quan tâm đến việc giúp người đọc thực hành để nâng cao đồng thời kỹ năng lập luận và tr[r]

Trang 1

i

PGS.TS LÊ THANH SƠN (Chủ biên)

PGS.TS ĐOÀN ĐỨC LƯƠNG

KỸ NĂNG LẬP LUẬN VÀ TRANH LUẬN

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC HUẾ

Huế, 2020

Trang 2

ii

Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia

Việt Nam

Lê Thanh Sơn

Kỹ năng lập luận và tranh luận / Lê Thanh Sơn (ch.b.), Đoàn Đức Lương - Huế : Đại học Huế, 2020 - 307tr ; 21cm

Trang 3

iii

LỜI NÓI ĐẦU

Các mối quan hệ trong xã hội dù ở bất kỳ lĩnh vực nào của đời sống: từ đạo đức, văn hóa, giáo dục… đến chính trị, khoa học, kinh tế, luật pháp… luôn luôn làm nảy sinh, xuất hiện những tình huống phức tạp, chứa đựng những mâu thuẫn đòi hỏi phải giải quyết Đối thoại, tranh luận phản biện là cách giải quyết các mâu thuẫn dựa trên sức mạnh của trí tuệ –ngôn từ, là phương thức ôn hòa để hóa giải mâu thuẫn, cân bằng các mối quan hệ, san bằng cách biệt, giúp tiếp cận và làm sáng tỏ chân lý, tạo động lực để xã hội phát triển và là phương tiện giao tiếp không thể thiếu trong thế giới tiến bộ

Là hình thức giao tiếp ngôn ngữ đặc thù, kỹ năng tranh luận luôn gắn bó tự nhiên, giao thoa và song hành cùng kỹ năng lập luận và kỹ năng tư duy phản biện để hình thành nhóm

kỹ năng tư duy – ngôn ngữ Đây là nhóm kỹ năng vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật, trong đó có thể coi

kỹ năng tư duy phản biện là khối óc và kỹ năng lập luận là dòng máu, là hơi thở để duy trì “sức sống” cho đối thoại, tranh luận

Sau cuốn “Kỹ năng tư duy phản biện” được xuất bản vào năm 2018, cuốn “Kỹ năng lập luận và tranh luận” được

xuất bản lần này với hy vọng sẽ góp phần cung cấp những tài liệu liên quan cần thiết phục vụ cho mục tiêu nói trên

Về nội dung, cuốn sách có 5 chương và có thể được chia thành hai phần: phần thứ nhất gồm các chương 1, 2 và 3 trình bày các kiến thức và kỹ năng lập luận nói chung và lập luận

Trang 4

- Kỹ năng phân tích (thành phần, cấu trúc) và đánh giá chất lượng một lập luận, xác định vai trò và mối quan hệ giữa các luận cứ và giữa luận cứ với kết luận trong một lập luận,

kỹ năng vận dụng các loại lý lẽ, kết hợp linh hoạt các phương thức lập luận, biết cách phát hiện và khắc phục các lỗi trong một lập luận, vận dụng thành thạo các thủ thuật tăng cường hiệu quả lập luận… làm cơ sở để tự mình hình thành và xây dựng lập luận sắc bén, có sức mạnh thuyết phục, đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn và hoạt động nghề nghiệp,

kể cả những lập luận trong các hoạt động pháp lý, một lĩnh vực điển hình đòi hỏi hội tụ những yêu cầu cao nhất, nghiêm ngặt và có tính đặc thù về kỹ năng lập luận

- Dựa trên nền móng của kỹ năng tư duy phản biện và

kỹ năng lập luận, biết vận dụng một cách tổng hợp và linh hoạt các kỹ năng cốt lõi, mang lại hiệu quả, khiến đối phương

phải “tâm phục, khẩu phục” trong tranh luận, đó là: kỹ năng

lựa chọn, sắp xếp các luận cứ, luận điểm để xây dựng lập luận

“thấu tình, đạt lý”, kỹ năng chứng minh và bác bỏ, kỹ năng

sử dụng các thủ thuật phản biện, kỹ năng kiểm soát cảm xúc,

kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong tranh luận Không chỉ là những kỹ năng có tính công cụ, lập luận và

tranh luận còn là những kỹ năng “nền”, là cơ sở để hình thành

Trang 5

v

và phát triển các kỹ năng sáng tạo, kỹ năng giao tiếp và kỹ

năng hợp tác, mà theo Diễn đàn kinh tế Thế giới (WEF – 2015)

đây là những kỹ năng hình thành nên nhóm kỹ năng hội nhập,

là hành trang của công dân trong thế kỷ 21 Vì vậy, việc rèn luyện và nâng cao kỹ năng lập luận và tranh luận là một trong những phương pháp hiệu quả để nâng cao năng lực và giá trị bản thân, đó không chỉ là thước đo để đánh giá phẩm chất và thái độ sống của mỗi người mà còn là “nguồn lực” để phát triển trong một thế giới đầy biến động và bất định

Trong cuốn sách, chúng tôi ưu tiên trích dẫn nhiều ví dụ minh họa cũng như các bài tập có nội dung liên quan đến lĩnh vực Luật nhằm giúp sinh viên chuyên ngành Luật thuận lợi khi sử dụng làm tài liệu tham khảo nghiên cứu, học tập Tuy nhiên, điều đó không gây trở ngại đáng kể với những người

có chuyên môn ngoài lĩnh vực Luật

Xin chân thành cám ơn Thạc sĩ, Luật sư Hoàng Ngọc Thanh (Công ty Luật TNHH Hoàng Ngọc Thanh và cộng sự)

đã đóng góp nhiều ý kiến có giá trị, góp phần hoàn thiện nội dung cuốn sách

Chúng tôi xin trân trọng tiếp thu và cám ơn những ý kiến đóng góp, phê bình của các chuyên gia, của bạn đọc giúp sửa chữa, bổ sung, chỉnh lý nhằm tiếp tục hoàn thiện nội dung cuốn sách cho những lần tái bản sau

Mọi ý kiến trao đổi, góp ý, phê bình xin vui lòng chuyển

về địa chỉ: lethanhson.dhh@gmail.com

CÁC TÁC GIẢ

Trang 6

vi

Trang 7

1.3 Lập luận theo logic hình thức và lập luận đời thường 10 1.4 Các thành phần trong một lập luận 16

1.5.1 Quan hệ giữa các luận cứ với nhau và giữa

luận cứ với kết luận

25

Trang 9

ix

2.3 Trình bày một lập luận pháp lý theo phương

pháp IRAC (hoặc CRAC)

109

Chương 3 Rèn luyện kỹ năng lập luận 139

3.1 Tính logic – sức sống của một lập luận 139 3.2 Rèn luyện kỹ năng nhạy bén xác định cấu trúc

3.3 Rèn luyện kỹ năng phát hiện lỗi của lập luận 152

3.3.3 Các lỗi do vi phạm quan hệ logic giữa luận

Trang 10

x

4.1 Những vấn đề chung về tranh luận 194

4.2 Vai trò của tranh luận trong đời sống và xã hội 204 4.3 Các khái niệm và mô hình cấu trúc của lập luận

trong tranh luận

4.5.3 Phải đảm bảo sự chặt chẽ, sắc sảo trong ngôn

ngữ và lập luận

220

Trang 11

xi

Chương 5 Rèn luyện kỹ năng tranh luận 237

5.1 Rèn luyện kỹ năng làm chủ nội dung tranh luận 237

5.1.2 Chủ động kiểm soát chiều hướng diễn biến

của cuộc tranh luận

5.3 Rèn luyện kỹ năng lắng nghe và kiểm soát cảm

xúc khi tranh luận

Trang 12

xii

5.6.2 Các thủ thuật tác động vào tâm lý, cảm xúc

của đối phương

272

Trang 13

1

Chương 1

MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ LẬP LUẬN

1.1 Những vấn đề chung về lập luận

1.1.1 Khái niệm lập luận

Trong logic học, lập luận là suy luận (suy diễn logic), là

một “hình thức cơ bản của tư duy mà từ một hay nhiều phán đoán đã có (tiền đề), người ta đưa ra được phán đoán mới (kết luận)”

Theo Đại từ điển tiếng Việt thì lập luận là “… trình bày

lý lẽ một cách có hệ thống, có logic nhằm chứng minh cho

Dân thì: “Lập luận là một hoạt động ngôn từ Bằng công cụ ngôn ngữ, người nói đưa ra những lý lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một hệ thống xác tín nào đó; rút ra một (một số) kết

Như vậy, lập luận là một hành động ngôn ngữ, dựa trên

những căn cứ (sự kiện, bằng chứng, chân lý…) đã được thừa nhận, thông qua việc sử dụng, sắp xếp các lý lẽ, cách diễn đạt,

cách phản hồi… để dẫn dắt đến những kết luận nhằm đạt được mục đích (chứng minh, thuyết phục, tạo dựng niềm tin…)

trong quá trình giao tiếp

Chứng minh, thuyết phục là mục đích mà lập luận hướng tới Tuy nhiên, không phải bất cứ nỗ lực chứng minh, thuyết

1 Nguyễn Như Ý (1999), Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin, tr.195

2 Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học, NXB Giáo dục, tr.165

Trang 14

2

phục nào cũng đều là những lập luận Điều này sẽ được xem xét và phân tích khi nghiên cứu cấu trúc của lập luận

Để hiểu rõ hơn khái niệm lập luận, ta xét 2 phát biểu sau đây:

a/ “Đây là một giao dịch hợp pháp”

b/ “Đây là một giao dịch hợp pháp vì nó thỏa mãn các điều kiện quy định tại Điều 122 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005”

Phát biểu a là một khẳng định, chỉ có nhiệm vụ cung cấp thông tin Nhưng phát biểu b là một lập luận vì trong phát

biểu này, điều khẳng định (“Đây là một giao dịch hợp pháp”)

đã được hỗ trợ bởi bằng chứng (“vì nó thỏa mãn các điều kiện quy định tại Điều 122 BLDS năm 2005”) Ở đây, tính “hợp pháp” của giao dịch được hỗ trợ bởi tiền đề, đó là căn cứ pháp

lý được quy định trong BLDS

Trong một lập luận, kết luận thường là:

* Một lời khẳng định/phủ định

Ví dụ: “Mọi người phạm tội đều có hành vi vi phạm pháp luật Nam là người phạm tội Vậy, Nam có hành vi vi phạm pháp luật”

* Một khuyến cáo/đề nghị/lời khuyên

Ví dụ: “Phát triển năng lượng hạt nhân đòi hỏi vốn đầu

tư lớn Đây cũng là nguồn năng lượng có sức mạnh hủy diệt, tiềm ẩn nhiều rủi ro Nhân loại đã chứng kiến nhiều bài học đau lòng về thảm họa hạt nhân Cần thận trọng cân nhắc khi lựa chọn phát triển năng lượng hạt nhân”

* Một câu hỏi có tính định hướng để người nghe/đọc tự rút ra câu trả lời theo hướng mong muốn của người hỏi

Trang 15

1.1.2 Phân biệt lập luận với các dạng phát ngôn khác

1.1.2.1 Phân biệt lập luận với giải thích và tóm tắt

Mục đích thuyết phục là một trong những chỉ dấu quan trọng đầu tiên để nhận diện một lập luận Vì thế, nếu một mệnh

đề không đưa ra được kết luận với mục đích thuyết phục người nghe/đọc đến một nhận thức hay hành động, thì đó là dấu hiệu cho thấy mệnh đề đó có nhiều khả năng không phải là một lập luận Ta xét 2 ví dụ sau1:

Ví dụ 1: “Theo thỏa thuận, bà Th sẽ trả số nợ 50 triệu đồng cho ông K trước 12 giờ ngày 23/3/2012 Tuy nhiên, do gặp trục trặc trong quá trình thu hồi vốn nên đến 8 giờ ngày 24/3/2012 bà Th mới có đủ số tiền Vì vậy, đến 9 giờ ngày 24/3/2012 bà Th mới hoàn trả đủ số tiến nợ cho ông K”

Trong ví dụ này có hai căn cứ được đưa ra (thời hạn bà

Th phải trả nợ và thời hạn bà Th thu hồi đủ tiền) để hướng đến kết luận (đưa ra lý do bà Th bị chậm trễ trong việc trả nợ) Tuy nhiên, kết luận này rõ ràng không nhằm đến mục đích thuyết phục một điều gì Các lý do đưa ra chỉ có nhiệm

vụ giải thích cho kết luận cuối cùng mà thôi

1 Dẫn từ “Tình huống pháp lý và thực tiễn tố tụng”, Hồ Ngọc Diệp - NXB

Phương Đông, 2016

Trang 16

M nhặt được tài sản, các tổ chức có thẩm quyền đã trực tiếp xem xét xử lý nhưng chưa đưa ra kết luận nào về sự việc” Với ví dụ này, nội dung được nói đến sau từ “Như vậy”

không phải là một kết luận mà thực chất chỉ là việc tóm tắt lại những nội dung đã nêu trước đó, không đưa ra thông tin hoặc phán đoán gì mới Vì vậy, đây không phải là một lập luận

Để thấy rõ hơn sự khác nhau, ta xét ví dụ 3 tương tự với

an phường X lập biên bản tạm giữ số vàng trên và chuyển hồ

sơ đến Công an Thành phố H để thụ lý giải quyết theo thẩm quyền Tuy vậy, cho đến thời điểm hiện tại cơ quan Công an

vẫn chưa có thông tin phản hồi với chị M Do đó, căn cứ vào

Trang 17

5

các quy định của pháp luật, chị M hoàn toàn có quyền khiếu nại về thái độ vô trách nhiệm của các cơ quan liên quan đối với sự việc này”

Trong ví dụ này, câu cuối cùng không phải là sự tổng kết những nội dung đã nêu ở phía trước (như trong ví dụ 2)

mà là một kết luận Đó là kết luận về thái độ thiếu trách nhiệm của các cơ quan có liên quan trong sự việc này, đồng thời hướng mục đích đến việc thuyết phục, tìm sự đồng thuận với người đọc/nghe trong trường hợp chị M có khiếu nại Vì vậy, nội dung của ví dụ 3 là một lập luận

1.1.2.2 Phân biệt lập luận với miêu tả và trần thuật

Ta xét hai ví dụ sau đây:

Ví dụ 41: “Theo Điều 3 Thông tư số 28/2013 ngày 05/12/2013 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì tiền giả là những loại tiền làm giống như tiền Việt Nam nhưng không phải do Ngân hàng Nhà nước tổ chức in, đúc, phát hành”

Ví dụ 5 “Từ trước đến nay, ai cũng phải thừa nhận An

là người rất trung thực”

Các phát ngôn trong hai ví dụ trên là những phát ngôn miêu tả, trần thuật có mục đích thông báo cho người đọc/nghe thông tin về sự vật, hiện tượng mà không đưa ra bất kỳ một kết luận nào Tính đúng/sai, chân thực/không chân thực của

sự vật, hiện tượng được đánh giá dựa vào thực tế mà nó phản

1 Dẫn từ “Tình huống pháp lý và thực tiễn tố tụng”, Hồ Ngọc Diệp - NXB

Phương Đông, 2016

Trang 18

6

ánh Như vậy, trong khi lập luận có mục đích chứng minh, thuyết phục người đọc/nghe thông qua kết luận mà nó đưa ra, thì miêu tả, trần thuật chỉ có mục đích thông báo hoặc đưa ra nhận định về các sự vật, sự việc, hiện tượng của đời sống

Tuy vậy, trong thực tế nhiều khi phát ngôn miêu tả, trần thuật không chỉ cung cấp thông tin được thể hiện trực tiếp ở nội dung mà nó diễn tả, mà còn hàm chứa “phía sau” thông

tin đó một kết luận mà nó muốn hướng đến

Chẳng hạn, trong ví dụ 4, bản thân nội dung chỉ mang đến một thông tin (cho biết thế nào là tiền giả theo quan điểm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam), không hàm ý định hướng đến một kết luận cụ thể nào Tuy nhiên, nếu đặt trong một văn cảnh giao tiếp cụ thể – ví dụ trong phiên tòa xét xử tội tàng trữ ngoại tệ giả – thì phát ngôn này có thể hướng đến một thái độ, một kết luận Giả định, nếu trong phiên tòa nói trên Hội đồng xét xử (HĐXX) căn cứ hướng dẫn tại điểm 3, Mục I Nghị quyết số 02/2003/NQ–HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân (TAND) tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999 (theo đó, tiền giả bao gồm tiền Việt Nam đồng giả

và ngoại tệ giả) để kết tội bị cáo “… phạm tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả” theo Điều 280 BLHS năm

2009 cũng như Điều 207 BLHS năm 2015 và “… bị phạt tù

từ ba năm đến bảy năm…”, thì phát ngôn này thể hiện rõ sự

không đồng tình với kết luận của HĐXX Theo quan điểm

của phát ngôn này thì Ngân hàng Nhà nước Việt Nam – với tư

Trang 19

7

cách là cơ quan thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tiền

tệ – chỉ xem tiền giả là tiền Việt Nam đồng, nghĩa là tiền ngoại tệ giả không có trong khái niệm tiền giả Do đó, hành vi tàng trữ ngoại tệ giả không thuộc phạm vi điều chỉnh của thông tư này

Tương tự, phát ngôn ở ví dụ 5 nếu đặt trong ngữ cảnh

dư luận có ý kiến cho rằng An là một người giả dối, không trung thực thì phát biểu này là sự phủ định ý kiến của dư luận Những phát ngôn miêu tả, trần thuật có mục đích thông báo, nhưng lại hàm ẩn một sự đánh giá, một kết luận được gọi

là những lập luận hàm ngôn

Lập luận hàm ngôn là lời nói có nghĩa ẩn bên trong, tự

nó chưa phải là một lập luận đích thực mà chỉ chứa đựng tiềm năng lập luận Chỉ khi nào từ các phát ngôn miêu tả, trần thuật

người phát ngôn đi đến một kết luận trực tiếp, “hiển ngôn” – là

khi nghĩa của lời nói biểu hiện trực tiếp ra ngoài – thì phát ngôn

đó mới trở thành lập luận đích thực

Trong các văn bản nghị luận khoa học, chính trị – xã hội hay lập luận pháp lý, để đạt được mục đích thuyết phục người đọc, người nghe chấp nhận các kết luận thì nhất thiết các kết luận đó phải được rút ra một cách rõ ràng, minh định, tránh nhận thức mơ hồ hay gây hiểu nhầm Vì vậy, yêu cầu lập luận được

sử dụng trong các trường hợp này phải là lập luận hiển ngôn

1.1.2.3 Phân biệt lập luận với một số câu có dạng thức tương

tự với lập luận

Dưới đây là một số dạng câu tuy không phải là một lập

Trang 20

8

luận, nhưng có dạng thức tương tự như lập luận, vì vậy dễ gây nhầm lẫn

* Câu minh họa

Ví dụ: “Trường chúng tôi có rất nhiều đơn vị trực thuộc Trong đó có các Phòng, Ban chức năng, các Khoa đào tạo, các Trung tâm, các bộ phận cơ hữu khác” Trong ví dụ

này, toàn bộ phần nội dung của câu sau chỉ có nhiệm vụ minh

họa cho câu đầu tiên (“Trường chúng tôi có rất nhiều đơn vị trực thuộc”)

* Câu điều kiện (Nếu…thì)

Ví dụ: “Nếu muốn đi du học, Bạn phải học tiếng Anh”

Trong ví dụ này, không có kết luận nào được đưa ra và vì thế đây không phải là một lập luận

Tuy nhiên, mệnh đề: “Nếu muốn đi du học, Bạn phải học tiếng Anh Bạn đã không học tiếng Anh Vì vậy, Bạn không thể đi du học” lại là một lập luận Ở đây, kết luận “Bạn không thể đi du học” được hỗ trợ bởi 2 tiền đề, đó là: “Nếu muốn đi du học, Bạn phải học tiếng Anh” và “Bạn đã không học tiếng Anh”

* Câu ở dạng “Báo cáo”

Ví dụ: “Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, nhưng nhìn chung Giáo dục Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi những khó khăn, thách thức Đặc biệt là những tồn tại, yếu kém về chất lượng giáo dục”

Những dạng câu báo cáo chỉ có giá trị cung cấp thông tin

Trang 21

9

* Câu ở dạng “Tuyên bố không có căn cứ”

Ví dụ: “Dịch bệnh không phải là điều đáng để con người phải hoảng loạn Quanh ta diễn ra biết bao điều khủng khiếp Cái cảm giác mình không còn là chính mình, không biết mình là ai, sống mà không làm chủ và định hướng được chính cuộc đời mình thì đó quả là một cảm giác kinh hoàng, rất đáng sợ”

Dễ dàng thấy trong ví dụ này, không có một tiền đề nào

đóng vai trò hỗ trợ cho kết luận “Dịch bệnh không phải là điều đáng để con người phải hoảng loạn”

1.2 Vai trò của lập luận

Lập luận là một hoạt động có mục đích: người đưa ra lập luận luôn nhắm đến việc mong muốn thuyết phục người nghe tin tưởng vào một điều gì đó hoặc hành động theo cách nào đó

Lập luận có vai trò quan trọng trong giao tiếp ngôn ngữ, diễn ra ở mọi nơi và ở mọi lĩnh vực, là công cụ để đạt được mục tiêu truyền tải thông điệp với hiệu quả cao nhất: giúp các đối tượng giao tiếp thấu hiểu lẫn nhau, tránh những thông tin sai lệch hoặc cách hiểu sai lệch, giúp khẳng định những ý kiến, quan điểm đúng đắn và bác bỏ những ý kiến, quan điểm sai lầm, giúp thuyết phục, lôi kéo sự đồng tình của người khác… Trình độ lập luận là sự kết hợp hài hòa năng lực nhận thức, đánh giá, tổng hợp, phân tích, suy luận, phán đoán… về các hiện tượng, sự vật, sự việc diễn ra không ngừng và đa dạng trong bất cứ lĩnh vực nào của cuộc sống Do đó, trình độ

Trang 22

10

lập luận là thước đo năng lực trí tuệ, năng lực tư duy logic, kỹ năng ngôn ngữ của mỗi người, là phẩm chất, là thước đo mức

độ trưởng thành của con người

Với những người hoạt động trong lĩnh vực liên quan đến Pháp luật, năng lực lập luận là yêu cầu, là đòi hỏi có tính bắt buộc Lập luận được sử dụng phổ biến và đòi hỏi chất lượng cao trong hoạt động tư pháp (với ý nghĩa là hoạt động của các cơ quan tư pháp: điều tra, truy tố, xét xử nhằm thực hiện các hoạt động tố tụng do pháp luật quy định và thuộc trách nhiệm của họ), điển hình là trong các cuộc tranh luận nhằm chứng minh cho một hoặc nhiều luận điểm cũng như để phản bác ý kiến sai trái của người khác Vì vậy, với những người hoạt động trong lĩnh vực này, sử dụng tinh thông và nhuần nhuyễn kỹ năng lập luận là điều kiện tối cần thiết, có ảnh hưởng quyết định đến thành công hay thất bại của công việc hàng ngày và cả sự nghiệp Có thể nói, bất cứ hoạt động nào trong lĩnh vực liên quan đến luật pháp cũng luôn đòi hỏi

kỹ năng lập luận để chứng minh/bác bỏ, khẳng định/phủ định Đặc biệt, một luật sư không chỉ cần có kiến thức pháp luật uyên thâm, tư duy pháp lý vững vàng mà còn cần được trang bị năng lực lập luận sắc sảo, chặt chẽ, thuyết phục để đủ sức bảo vệ quyền lợi vật chất, tinh thần và tính mạng của thân chủ

1.3 Lập luận theo logic hình thức và lập luận đời thường

Về mục đích lập luận, theo Lê Thị Hồng Vân1, có thể

1 Lê Thị Hồng Vân… (2017), Giáo trình Kỹ năng nghiên cứu và lập luận,

NXB Hồng Đức, tr.102-104

Trang 23

là mọi nơi, mọi người dùng những ngôn ngữ tự nhiên khác nhau cũng đều lập luận theo một mô thức chung mang tính phổ quát như vậy Dạng lập luận này được sử dụng phổ biến trong các lĩnh vực khoa học với các lý lẽ được sử dụng là

những định lý, định luật, quy tắc… Với mục đích nhằm khẳng định giá trị chân lý, khẳng định tính đúng - sai của sự kiện,

nên giá trị của lập luận được đánh giá dựa trên mức độ chặt chẽ

và chính xác, mức độ đúng đắn, chân xác của các tiền đề cũng như sự phù hợp với các quy tắc logic khi suy diễn

- Loại thứ hai: thuộc dạng lập luận theo logic phi hình thức (thường gọi là lập luận đời thường, hay lập luận theo lẽ

thường) Mục đích của dạng lập luận này không chỉ nhằm

khẳng định tính đúng – sai của chân lý (thậm chí nhiều khi

không thể xác định theo tiêu chí đúng – sai) mà quan trọng

hơn còn là nhằm đạt được hiệu quả thuyết phục, tạo dựng niềm tin, cốt để người nghe thấy “lọt lỗ tai”, từ đó làm thay

đổi nhận thức, từ bỏ những xác tín cũ, tin và nghe theo những điều được người nói đưa ra Đây là dạng lập luận thường

Trang 24

12

được sử dụng trong tranh luận, phản biện Dạng lập luận này dựa trên những căn cứ, lý lẽ chủ yếu, có tầm quan trọng hàng đầu, đó là:

- Những logic đời thường, không có tính tất yếu (ví dụ:

những lý lẽ về quan hệ nhân quả như “Ở hiền, gặp lành”,

“Đời cha ăn mặn, đời con khát nước”, “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”…; lý lẽ về số mạng như “Trời kêu ai nấy dạ”,

“Duyên phận do trời định…”; lý lẽ về dòng dõi như “Con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh”, “Cha nào, con nấy”… Đó là những lẽ thường hay lý lẽ “hiển nhiên là thế”)

- Những tri thức văn hóa, tâm lý, đạo đức, lý lẽ, kinh nghiệm sống, phong tục tập quán, các thói quen ứng xử truyền thống, nhân sinh quan… của một cộng đồng, một dân tộc, được hầu hết các thành viên sống trong cộng đồng đó tôn trọng, thừa nhận và tuân thủ như một lẽ hiển nhiên (ví dụ:

“Chị ngã em nâng”, “Đóng cửa bảo nhau”, “Có phúc có phần”, “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”, “Tay đứt ruột xót”, “Lực bất tòng tâm”, “Phép vua thua lệ làng”, “Bán anh em xa mua láng giềng gần”…)

Cũng vì lý do đó mà lập luận theo lý lẽ đời thường không tất yếu đúng ở mọi nơi, mọi lúc mà còn tùy thuộc vào tri thức, kinh nghiệm, nhân sinh quan, văn hóa ứng xử của từng cộng đồng, dân tộc, từng ngữ cảnh giao tiếp Dưới đây là một số ví dụ về lập luận đời thường:

Trong phiên tòa vụ đại án Phạm Công Danh, bị cáo

Trang 25

13

Hoàng Đình Quyết – nguyên Phó Giám đốc Ngân hàng Xây dựng Việt Nam (VNCB), chi nhánh Sài Gòn – với mong muốn được giảm nhẹ hình phạt – đã lập luận trong lời nói sau cùng trước Tòa: “Từ đời ông đến bố của bị cáo là người theo cách mạng, có truyền thống yêu nước Bị cáo luôn được răn dạy sống sao cho có ích với xã hội… Nhưng tiếc thay, mọi sự không như ý muốn, bị cáo không thành công và đã để lại hậu quả nặng nề ở VNCB… bị cáo mong muốn HĐXX giảm nhẹ

Hoặc như lời trần tình trước HĐXX của bị cáo Lý Xuân

Hải – nguyên Tổng Giám đốc Ngân hàng Á Châu (ACB) –

trong vụ án trên, khi cho rằng mình hoàn toàn không có động

cơ phạm tội, chẳng qua chỉ là quá tin tưởng và tuân thủ vào

lãnh đạo Ngân hàng: “Với những người lãnh đạo như vậy, tôi

Như vậy, có thể định nghĩa lập luận theo logic phi hình

thức hay lập luận đời thường như sau: “Lập luận đời thường

là lập luận dựa trên các lý lẽ thực tiễn, phổ quát trong đời thường nhằm mục đích thuyết phục người khác chấp nhận kết luận mà mình đưa ra”

Bảng 1.1 trình bày những điểm khác nhau cơ bản giữa hai loại lập luận3:

1, 2 Báo điện tử Một Thế giới, ngày 30/8/2016.

3 Lê Thị Hồng Vân, Sđd, tr.103

Trang 26

14

Bảng 1.1 Phân biệt lập luận theo logic hình thức

và lập luận đời thường

quy luật, tư tưởng…) có

tính phổ quát toàn nhân

luận có quan hệ logic

nên kết luận được suy

- Quan hệ lập luận diễn ra giữa các hành động ở lời, tức tự thân nội dung miêu

tả đã có giá trị lập luận (định hướng cho kết luận)

- Giá trị lập luận có thể không được suy ra một cách tất yếu từ các luận cứ,

Trang 27

15

ra một cách tất yếu từ

luận cứ

mà phụ thuộc vào ngữ cảnh của lời và định hướng của người nói

- Hướng đến tính hiệu quả

Trong thực tế, bên cạnh việc sử dụng phương thức lập luận theo logic hình thức, chúng ta rất thường xuyên sử dụng lập luận theo lý lẽ đời thường Cần lưu ý rằng, sự phân biệt như trên không phải để đối lập giữa hai dạng lập luận này Mối quan hệ giữa hai dạng thức lập luận này là mối quan hệ giữa cái phổ quát và cái cụ thể Bởi lẽ, lập luận theo lý lẽ đời thường muốn có giá trị thuyết phục thì trước hết cũng phải tuân thủ các quy luật cơ bản của tư duy, tức là vẫn phải tuân thủ những khuôn mẫu chung của phép suy luận logic hình thức Không những thế, dựa trên nền tảng của các quy luật và

Trang 28

16

nguyên tắc chung của tư duy, lập luận đời thường còn vận dụng các lý lẽ của thực tiễn đời sống gắn với môi trường văn hóa và ngôn ngữ của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng để đạt được các mục đích trong những tình huống giao tiếp cụ thể

1.4 Các thành phần trong một lập luận

Trong logic hình thức, phép suy luận bao gồm hai thành phần cơ bản là tiền đề và kết luận

- Tiền đề: là những tri thức, những phán đoán đã biết

hoặc được thừa nhận, là cơ sở và chỗ dựa để rút ra tri thức mới

- Kết luận: là phán đoán, là tri thức mới được rút ra như

một tất yếu từ tiền đề đã cho

Lập luận là hoạt động suy luận được hiện thực hóa bằng ngôn ngữ (nói/viết), do vậy về hình thức thành phần của lập luận cũng tương tự như suy luận, bao gồm: luận cứ và kết luận Ngoài ra, trong lập luận có thể có các yếu tố chỉ dẫn lập luận

1.4.1 Luận cứ

Luận cứ có vai trò như tiền đề của một phép suy luận Trong lập luận, luận cứ là lý lẽ, chứng cứ (bằng chứng), là phương tiện quan trọng được sử dụng làm căn cứ để rút ra kết luận và để chứng minh cho kết luận Luận cứ được rút ra từ đối tượng chứng minh nhằm mục tiêu làm sáng tỏ những sự kiện, sự việc mà chủ thể chứng minh hướng đến Sức mạnh thuyết phục của lập luận phụ thuộc vào độ tin cậy của luận cứ cũng như cách tổ chức, sắp xếp trình tự của các luận cứ trong

Trang 29

Chứng cứ còn được gọi là các luận cứ thực tế Đó là các

số liệu, sự kiện, bằng chứng thu thập được từ thực tế hoặc từ kết quả của quá trình thực nghiệm khoa học Ví dụ: trong một

vụ án giết người, chứng cứ có thể là các vết thương trên thân thể nạn nhân, các tang vật gây án thu được từ hiện trường… hay trong nghiên cứu về nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu, chứng cứ là các số liệu thu được qua nhiều năm về mối quan

hệ giữa hàm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính và sự tăng nhiệt độ trái đất…

Trong hoạt động tư pháp, chứng cứ trong lập luận có vai trò đặc biệt quan trọng, là đòi hỏi không thể thiếu đối với hoạt động chứng minh, là phương tiện để làm sáng tỏ bản chất của các vụ việc

1.4.1.2 Lý lẽ

Lý lẽ có 2 loại là: lý lẽ khoa học và lý lẽ đời thường

a/ Lý lẽ khoa học (hay luận cứ logic) là những chân lý

phổ quát, đã được khoa học chứng minh, khẳng định Đó là: các tư tưởng, các luận điểm khoa học, các định lý, nguyên lý, tiên đề, định luật, quy luật… các phán đoán đúng/sai, logic đã được kiểm chứng và thừa nhận, tất yếu đúng ở mọi nơi, mọi lúc

b/ Lý lẽ đời thường (hay lẽ thường) là những kinh nghiệm

sống, kinh nghiệm văn hóa, là phong tục, các thói quen, chuẩn

Trang 30

18

mực ứng xử được đúc kết từ hoàn cảnh thực tiễn cụ thể, được một cộng đồng thừa nhận nên không tất yếu đúng ở mọi nơi, mọi lúc, trong mọi mối quan hệ

1.4.2 Kết luận

Kết luận là những khẳng định/phủ định được rút ra từ các luận cứ Nội dung kết luận là thông tin quan trọng và cơ bản nhất của lập luận, là điều cần chứng minh, thuyết phục Trong một lập luận ở cấp độ đoạn văn, kết luận là chủ đề cần

chứng minh, giải thích, thuyết phục và được gọi là luận đề

Luận đề có thể bao gồm một số kết luận, luận điểm (là các ý chính có nhiệm vụ giải thích, làm sáng tỏ luận đề) Mỗi kết luận, luận điểm thể hiện một phần nội dung của luận đề hay một phần nội dung của văn bản

1.4.3 Các yếu tố chỉ dẫn lập luận

Đó là từ (cụm từ) đóng vai trò định hướng, chỉ dẫn lập luận, bao gồm:

1.4.3.1 Tác tử lập luận

Theo Nguyễn Đức Dân1 thì tác tử lập luận là những yếu

tố khi tác động vào phát ngôn sẽ tạo ra một định hướng nghĩa, làm thay đổi tiềm năng lập luận của phát ngôn Khi trong phát ngôn có tác tử lập luận thì kết luận về các sự kiện, sự việc mà phát ngôn đề cập đến chỉ được rút ra theo một hướng mà không thể theo hướng ngược lại

1 Nguyễn Đức Dân, Sđd, tr.176

Trang 31

19

Ví dụ:

(6a) “Phạm tội này phải ngồi tù những 3 năm, đừng dại!” (6b) “Phạm tội này chỉ ngồi tù 3 năm, ngán gì!”

(7a) “Bây giờ đã 10 giờ rồi, nên đi thôi”

(7b) “Bây giờ mới 10 giờ, chưa nên đi”

Các từ chỉ hình thái những/chỉ, đã/mới là các tác tử lập

luận đóng vai trò định hướng lập luận dẫn đến những kết luận theo hai chiều trái ngược nhau

Tác tử không chỉ có vai trò định hướng mà còn có thể

làm đảo hướng lập luận:

(8a) “Ngôi nhà này hơi xa nhưng có vườn nên tôi vẫn mua” Nếu không có tác tử nhưng thì lập luận sẽ là “không mua” Sự có mặt của tác tử nhưng đã dẫn đến kết luận theo hướng ngược lại (đảo hướng) là “vẫn mua”

Trong lập luận có tác tử nhưng, hướng của lập luận là

do hướng của luận cứ đứng sau (nên tôi vẫn mua) quyết định

Do đó, nếu đảo vị trí của hai luận cứ trong câu 8a, ta sẽ có kết luận ngược lại:

(8b) “Ngôi nhà này (tuy) có vườn nhưng hơi xa nên tôi không mua”

Trong tiếng Việt, các liên từ: nhưng, song, tuy nhiên, tuy vậy… có vai trò thông báo và thực hiện đảo hướng lập luận,

khiến cho lập luận phải dẫn đến kết luận khác với điều đáng

ra phải thế

Trang 32

20

1.4.3.2 Kết tử lập luận

Kết tử lập luận là những từ hay tổ hợp từ có vai trò liên kết các luận cứ với nhau và với kết luận để tạo thành một lập luận; kết tử là dấu hiệu cho phép nhận diện, xác định luận cứ

và kết luận trong lập luận

Ví dụ 9: “Do ý thức chấp hành luật giao thông của người dân không nghiêm nên tai nạn xảy ra khá thường xuyên

và ngày càng nghiêm trọng”

Ví dụ 10: “Nếu là hành động phòng vệ chính đáng thì không phạm tội”

Ví dụ 11: “Bị cáo đã cố tình phạm tội, khi bị phát hiện lại tìm cách che giấu, chối tội nên phải nghiêm khắc trừng trị”

Tùy thuộc mối quan hệ giữa kết tử với luận cứ hay với kết luận, ta chia kết tử thành 2 loại: kết tử dẫn nhập luận cứ

và kết tử dẫn nhập kết luận

- Kết tử dẫn nhập luận cứ: là kết tử luôn đứng trước luận cứ, thường đó là các liên từ: bởi, bởi vì, vì, do, nếu, tuy…

- Kết tử dẫn nhập kết luận: là kết tử luôn đứng trước kết

luận có vai trò nối luận cứ với kết luận, phản ánh mối quan hệ

nhân – quả giữa luận cứ và kết luận, đó là các liên từ: nên, cho nên, thì, do đó, bởi vậy, vậy nên, vì thế…

Trong 2 ví dụ sau, các từ có một gạch chân là kết tử dẫn nhập luận cứ và có hai gạch chân là kết tử dẫn nhập kết luận

Ví dụ 12: “Nếu không có sự lôi kéo, không chế, gây áp lực của cấp trên thì anh ấy không thể phạm tội”

Trang 33

- Chúng ta có kết luận

- Cho nên, Nên

- … cho thấy rằng

- Chứng minh rằng…

- Do đó

Như vậy, trong khi luận cứ và kết luận là 2 thành tố cơ bản, không thể thiếu, có nhiệm vụ hình thành, là cơ sở để đánh giá lập luận thì các yếu tố chỉ dẫn lập luận chỉ đóng vai trò định hướng, chỉ dẫn lập luận mà thôi Tuy vậy, trong thực

tế do thói quen tĩnh lược ngôn ngữ nên không phải lúc nào kết

tử lập luận cũng xuất hiện trong một lập luận Đó là những trường hợp vắng kết tử dẫn nhập luận cứ hoặc vắng kết tử dẫn nhập kết luận hoặc vắng cả hai Dưới đây là các ví dụ:

- Vắng kết tử dẫn nhập luận cứ: “Không tôn trọng pháp luật nên nó phải chịu hậu quả”

- Vắng kết tử dẫn nhập kết luận: “Vì là cấp dưới, tôi không thể làm khác ý ông ta được”

Trang 34

Để làm ví dụ, ta xét đoạn lập luận sau đây:

“Theo chúng tôi, việc kháng cáo của bị đơn dân sự là không có sơ sở pháp lý và thực tiễn Trước khi đưa ra xét xử chính thức vào sáng ngày 24/5/2005, Tòa cấp sơ thẩm đã tiến hành quá trình thủ tục mời hòa giải theo đúng quy định tại Điều 200 Bộ luật Tố tụng Dân sự, trong đó: hai lần triệu tập hòa giải tại bút lục 42, 49 và bút lục 55; bốn lần phối hợp niêm yết giấy triệu tập bị đơn tại UBND phường H tại các bút lục 50, 54, 60 và 64, lập biên bản hòa giải bất thành do bị đơn dân sự vắng mặt không lý do 2 lần tại bút lục 53 và 56; quyết định hoãn phiên tòa 1 lần tại bút lục 63 ngày 05/5/2005 theo giấy triệu tập lần thứ tư mà bị đơn vắng mặt tại bút lục

số 3 Bị đơn đã coi thường pháp luật, cố tình né tránh tiếp

Trang 35

đã cố tình né tránh để khỏi phải nhận Giấy triệu tập của Tòa Tại bút lục số 1 (khi có giấy triệu tập lần hai vào ngày 08/3/2005) UBND phường H có cử cán bộ tên P trực tiếp đến nhà giao giấy triệu tập những bị đơn dù có mặt tại nhà vẫn không ký nhận, vì vậy UBND phường đã xác nhận: “đương sự có mặt tại địa phương nhưng không ký nhận giấy triệu tập” Cần nói thêm là bị đơn dân sự không thể nói rằng không biết bà E kiện nội dung gì, bởi trong thực tế đã có nhiều lần bà E đòi

nợ, đòi nhà ông S và đã làm đơn kiện ông S tại UBND phường 20, quận T về căn nhà và các khoản nợ này vào ngày 13/11/2003 Bà E cũng điện thoại nhiều lần thông báo với ông S là sẽ đưa ông ra Tòa Hơn nữa, vào giờ cuối cùng bị

Với đoạn lập luận này, câu đầu tiên: “Theo chúng tôi, việc kháng cáo của bị đơn dân sự là không có sơ sở pháp lý

Trang 36

Đoạn cuối cùng, từ “Cần nói thêm là…” đến hết, có

mục đích khẳng định việc bị đơn đã biết rõ lý do vì sao bị bà

E kiện ra Tòa Luận cứ này có tác dụng làm tăng sức mạnh của luận cứ L2, do vậy góp phần hỗ trợ cho kết luận

Với các phân tích trên, có thể viết gọn lại nội dung đoạn lập luận trên đây như sau:

“Theo chúng tôi, việc kháng cáo của bị đơn dân sự là không có sơ sở pháp lý và thực tiễn bởi các lý do sau: trước khi xét xử chính thức, Tòa sơ thẩm đã thực hiện các thủ tục hòa giải chặt chẽ, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự

Bị đơn hoàn toàn nhận thức rõ lý do bị bà E kiện ra Tòa nhưng đã cố tình né tránh, từ chối tiếp nhận giấy triệu tập của Tòa Mặt khác, Điều 200 Bộ luật Tố tụng Dân sự đã quy định “bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử khi vắng mặt họ”

Những nội dung nằm ngoài đoạn lập luận đã rút gọn là những nội dung không đóng vai trò hình thành nên lập luận, nghĩa là không làm thay đổi bản chất và tinh thần của lập luận,

mà chỉ có tác dụng minh họa, làm rõ hơn những nội dung có trong lập luận

Trang 37

25

1.5 Cấu trúc của một lập luận

1.5.1 Quan hệ giữa các luận cứ với nhau và giữa luận cứ với kết luận

Mỗi kết luận trong lập luận có thể được hình thành từ một hoặc nhiều luận cứ Chất lượng của luận cứ cũng như mối quan hệ giữa các luận cứ trong lập luận có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu lực của lập luận Để thuận tiện, trong các ví dụ sau đây ta ký hiệu K là kết luận và L (kèm theo chỉ số) là các luận cứ tương ứng

Trong những lập luận có nhiều luận cứ, giữa các luận cứ

trong lập luận phải có quan hệ đồng hướng lập luận, nghĩa là phải cùng hướng đến một giá trị của kết luận (đúng/sai, tốt/xấu, khen/chê, nên/không nên…) Trong logic hình thức

thì đây là sự tuân thủ yêu cầu của luật cấm mâu thuẫn Có 2 trường hợp đồng hướng lập luận:

1.5.1.1 Luận cứ đồng hướng tương hợp (cùng phạm trù)

Ví dụ: “Cơ sở đào tạo chỉ lo mở rộng quy mô, không quan tâm đầu tư bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn

lỏng trách nhiệm, không thực thi đầy đủ và kịp thời chức năng

giảm chất lượng đào tạo bắt nguồn từ yếu tố con người của toàn hệ thống (K)”

Trong ví dụ này, các luận cứ (L1, L2, L3) đều phản ánh cùng một phạm trù, đó là yếu tố con người

Trang 38

26

1.5.1.2 Luận cứ đồng hướng không tương hợp (không cùng phạm trù)

Ví dụ: “Ngôi nhà có thiết kế đẹp, thoáng mát, tiện nghi

(L1), vừa nằm ở khu dân cư có tiếng an ninh, vừa gần chợ và

Ở đây, mỗi luận cứ phản ánh một dấu hiệu khác nhau về ngôi nhà Luận cứ L1 liên quan đến kiến trúc ngôi nhà; luận

cứ L2 liên quan đến vị trí, tình trạng an ninh khu vực có ngôi nhà; luận cứ L3 liên quan đến giá cả của ngôi nhà

Trong một lập luận có nhiều luận cứ, mặc dù các luận

cứ đều có nhiệm vụ là hỗ trợ, làm chỗ dựa cho việc hình thành kết luận, tuy nhiên mức độ ảnh hưởng của các luận cứ đối với kết luận có thể sẽ không như nhau Nói khác đi, tùy thuộc vào chất lượng mà hiệu lực của mỗi luận cứ trong lập luận cũng khác nhau

Ví dụ: “Án oan sai xuất hiện ngày càng nhiều trước hết

là do những hạn chế về năng lực của cán bộ ngành Tòa án

(L1), họ bị rối trong mớ bòng bong và không tìm ra cách xử lý vấn đề khi xem xét sự việc Nguyên nhân thứ hai là thái độ vô trách nhiệm đối với nhiệm vụ (L2): không khó bắt gặp tình trạng làm qua loa, đại khái, nhiều khi rất cẩu thả Nhưng điều nguy hại hơn cả chính là động cơ mờ ám không trong sáng, thậm chí xấu xa khi thực thi nhiệm vụ (L3) Vì lợi ích của mình, họ sẵn sàng bóp méo sự thật, ngụy tạo chứng cứ, ép cung… và xử án theo ý chí của họ Vì thế, tình trạng án oan sai

là nguyên nhân làm xói mòn, mà hậu quả lâu dài có thể dẫn đến triệt tiêu lòng tin của người dân vào pháp luật (K)”

Trang 39

27

Trong ví dụ trên, để đi đến kết luận: “tình trạng án oan sai nguyên nhân làm xói mòn, mà hậu quả lâu dài có thể dẫn đến triệt tiêu lòng tin của nhân dân vào pháp luật”, ta có 3

luận cứ (cũng là 3 nguyên nhân) Trong đó, luận cứ L3: “động

cơ mờ ám, không trong sáng, thậm chí xấu xa khi thực thi nhiệm vụ” là nguyên nhân trực tiếp và có tác động mạnh nhất đến việc làm “triệt tiêu lòng tin của nhân dân vào pháp luật” Nếu trình độ và trách nhiệm công vụ yếu kém chỉ có thể làm suy giảm lòng tin thì chính động cơ “mờ ám, không trong sáng, thậm chí xấu xa” mới thực sự là nguyên nhân làm xói

mòn, dẫn đến làm hủy diệt lòng tin của người dân vào pháp luật Ta nói rằng, đối với kết luận K, luận cứ L3 là luận cứ có hiệu lực hỗ trợ mạnh nhất

Về mối quan hệ giữa các luận cứ, có 2 trường hợp:

- Luận cứ hoạt động độc lập: nghĩa là kết luận có thể

được rút ra chỉ cần dựa trên luận cứ đó mà không đòi hỏi có

sự hỗ trợ của các luận cứ khác

Ví dụ: “Đa số người dân thiếu ý thức tự giác chấp hành

thông thiếu nghiêm khắc trong việc kiểm tra, xử lý các hành

vi vi phạm Luật giao thông (L2), hạ tầng giao thông không

trạng tai nạn giao thông chắc chắn sẽ còn gia tăng trong thời gian tới (K)”

Với ví dụ này, một luận cứ bất kỳ đều đảm bảo, cho phép rút ra kết luận để hình thành lập luận, mặc dù hiệu lực

Trang 40

28

chung của lập luận có thể suy giảm do vắng mặt các luận cứ

khác Ví dụ: ta có thể nói: “Đa số người dân thiếu ý thức tự giác chấp hành Luật giao thông Vì vậy, tình trạng tai nạn giao thông chắc chắn sẽ còn gia tăng trong thời gian tới”

Tương tự, có thể rút ra kết luận K từ luận cứ L2 hoặc L3

- Các luận cứ không hoạt động độc lập mà bị ràng buộc với nhau Nghĩa là kết luận không thể được rút ra nếu chỉ dựa

trên một luận cứ, mà cần có sự kết hợp với một hay một số luận cứ khác

Ví dụ: “Theo Điều 51 Bộ luật Tố tụng hình sự thì người

Ngân hàng Sacombank chỉ làm dịch vụ nhận tiền gởi kỳ hạn

có trả lãi cho Ban bồi thường giải phóng mặt bằng Quận 10

tài khoản trên là tài sản của Ban bồi thường giải phóng mặt bằng Quận 10 (L3) Vì vậy, theo quy định của pháp luật, không phải Sacombank mà chính Ban bồi thường giải phóng mặt bằng Quận 10 mới là người bị hại trong vụ án này (K)”

Với ví dụ này, việc loại bỏ bất kỳ một luận cứ nào cũng đều không đảm bảo cho sự hiện diện của kết luận Chỉ khi có

sự kết hợp đồng thời các luận cứ L1, L2 và L3 với nhau, ta mới

có thể rút ra kết luận K như trên

Chính sự ràng buộc giữa các luận cứ mà các lập luận trong đó các luận cứ hoạt động ràng buộc nhau dễ bị tấn công,

bẻ gãy hơn so với các lập luận mà trong đó các luận cứ hoạt động độc lập

Lưu ý rằng, trong một lập luận có thể có bao gồm cả hai

Ngày đăng: 15/01/2021, 15:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Lê Thanh Sơn (Chủ biên), Đoàn Đức Lương (2018), Kỹ năng tư duy phản biện, NXB Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng tư duy phản biện
Tác giả: Lê Thanh Sơn (Chủ biên), Đoàn Đức Lương
Nhà XB: NXB Đại học Huế
Năm: 2018
[2] Lê Thị Hồng Vân (Chủ biên)... (2017), Giáo trình Kỹ năng nghiên cứu và lập luận, NXB Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kỹ năng nghiên cứu và lập luận
Tác giả: Lê Thị Hồng Vân (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 2017
[3] Lê Duy Ninh (2016), Logic - Phi logic trong đời thường và trong pháp luật, Tài liệu lưu hành nội bộ, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Logic - Phi logic trong đời thường và trong pháp luật
Tác giả: Lê Duy Ninh
Năm: 2016
[4] Hồ Ngọc Diệp (2016), Tình huống pháp lý và thực tiễn tố tụng, NXB Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình huống pháp lý và thực tiễn tố tụng
Tác giả: Hồ Ngọc Diệp
Nhà XB: NXB Phương Đông
Năm: 2016
[5] Đỗ Thị Diệu Ngọc, Nguyễn Huy Cường (2019), Tư duy biện luận – nghĩ hay hơn hay nghĩ, NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư duy biện luận – nghĩ hay hơn hay nghĩ
Tác giả: Đỗ Thị Diệu Ngọc, Nguyễn Huy Cường
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2019
[6] Trần Việt Dũng (2014), Đào tạo luật thông qua mô hình phiên tòa giả định – cẩm nang cho giảng viên và sinh viên Luật, NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo luật thông qua mô hình phiên tòa giả định – cẩm nang cho giảng viên và sinh viên Luật
Tác giả: Trần Việt Dũng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2014
[7] Walter Dill Scott (2018), Khoa học điều trí khiển tâm, NXB Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học điều trí khiển tâm
Tác giả: Walter Dill Scott
Nhà XB: NXB Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2018
[8] Nguyễn Trường Giang (2006), Logic trong tranh luận, NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Logic trong tranh luận
Tác giả: Nguyễn Trường Giang
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2006
[9] Hồ Ngọc Diệp (2010), Bình luận án các vụ án dân sự, kinh doanh thương mại, NXB Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận án các vụ án dân sự, kinh doanh thương mại
Tác giả: Hồ Ngọc Diệp
Nhà XB: NXB Phương Đông
Năm: 2010
[10] Lê Duy Ninh (2013), Một số tình huống và bài tập môn Logic học, NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số tình huống và bài tập môn Logic học
Tác giả: Lê Duy Ninh
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2013

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

- “Theo Điều 51 Bộ luật Tố tụng Hình sự thì người bị hại là người bị thiệt hại về tài sản do tội phạm gây ra  (L 1 ). - Giáo trình kỹ năng lập luận và tranh luận
heo Điều 51 Bộ luật Tố tụng Hình sự thì người bị hại là người bị thiệt hại về tài sản do tội phạm gây ra (L 1 ) (Trang 44)
Hình 1.1. Sơ đồ biểu diễn lập luận diễn dịch - Giáo trình kỹ năng lập luận và tranh luận
Hình 1.1. Sơ đồ biểu diễn lập luận diễn dịch (Trang 52)
CĂN CỨ ĐỐI CHIẾU, SO SÁNH - Giáo trình kỹ năng lập luận và tranh luận
CĂN CỨ ĐỐI CHIẾU, SO SÁNH (Trang 57)
Hình 1.2. Sơ đồ biểu diễn lập luận quy nạp - Giáo trình kỹ năng lập luận và tranh luận
Hình 1.2. Sơ đồ biểu diễn lập luận quy nạp (Trang 57)
Hình 1.3. Quan hệ giữa lập luận diễn dịch và lập luận quy nạp - Giáo trình kỹ năng lập luận và tranh luận
Hình 1.3. Quan hệ giữa lập luận diễn dịch và lập luận quy nạp (Trang 58)
- Lập luận1: cần có hình thức khen thưởng xứng đáng để khuyến khích, động viên, tôn vinh những tấm gương thật  thà, không tham lam tài sản của người khác (xét trong thang  độ  khi  nhặt  được  của  rơi,  người  ta  thường  không  trả  lại  và  những việc  - Giáo trình kỹ năng lập luận và tranh luận
p luận1: cần có hình thức khen thưởng xứng đáng để khuyến khích, động viên, tôn vinh những tấm gương thật thà, không tham lam tài sản của người khác (xét trong thang độ khi nhặt được của rơi, người ta thường không trả lại và những việc (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w