Trong quá trình làm luận văn sẽ còn nhiều nội dung chưa đề cập tới, còn nhiều vấn đề chưa thật sâu sắc, vì vậy, em rất mong nhận được sự quan tâm góp ý của các thầy cô, các cán bộ công[r]
Trang 1TÓM TẮT LUẬN VĂN
Ngân hàng là một trung gian tài chính với vai trò quan trọng là kết nối các chủ thể trong nền kinh tế Một trong các hoạt động đặc trưng của ngân hàng là tín dụng, đây là hoạt động mang lại phần lớn thu nhập cho ngân hàng tuy nhiên lại tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro, có thể gây tổn thất cho ngân hàng, cho khách hàng và uy tín của ngân hàng Để hạn chế rủi ro tín dụng và có thể đứng vững trong cạnh tranh, các ngân hàng thực sự coi trọng chất lượng tín dụng và luôn cố gắng để đạt được chất lượng tín dụng đảm bảo được
an toàn và phát triển Chất lượng tín dụng lại phụ thuộc vào công tác phân tích tín dụng, công tác phân tích tín dụng càng tốt, càng hoàn thiện, chất lượng phân tích tín dụng đạt được càng cao thì hiệu quả hoạt động tín dụng mang lại cho ngân hàng càng lớn
Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam (VIB) là một trong các ngân hàng thương mại cổ phần đang trên đà phát triển mạnh và đạt được những thành tựu đáng
kể trong những năm gần đây Hoạt động tín dụng tại VIB mang lại 60-70% thu nhập của ngân hàng, hoạt động tín dụng ngày càng mở rộng và phát triển với nhiều loại hình cho vay đa dạng, tuy nhiên chất lượng tín dụng tại VIB chưa thực sự ổn định Việc tìm ra các giải pháp để có thể nâng cao chất lượng tín dụng, hạn chế được các khoản vay có vấn đề,
nợ quá hạn và những cố gắng giảm tỷ lệ nợ quá hạn tới mức tối thiểu là một trong các nhiệm vụ quan trọng của VIB gắn liền với sự phát triển hoạt động tín dụng
Từ những nhận thức trên, tác giả đã chọn đề tài “Nâng cao chất lượng phân tích tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam” để nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài gồm:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về phân tích tín dụng và chất lượng phân tích tín dụng của ngân hàng thương mại
- Phân tích thực trạng chất lượng phân tích tín dụng tại VIB, nghiên cứu đối với một món vay cụ thể, trên cơ sở đó đánh giá chất lượng phân tích tín dụng của VIB
- Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng phân tích tín dụng tại VIB
Trang 2Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: thực trạng chất lượng phân tích tín dụng tại VIB trong khoảng thời gian từ 2007 đến tháng 6/2009
Ngoài phần lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm ba chương:
Chương 1: Phân tích tín dụng và chất lượng phân tích tín dụng của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng chất lượng phân tích tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng phân tích tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam
Trang 3CHƯƠNG 1 PHÂN TÍCH TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƯỢNG PHÂN TÍCH TÍN DỤNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Trong chương này, luận văn đề cấp đến 2 nội dung như sau:
1.1 PHÂN TÍCH TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM)
Trong nội dung thứ nhất, luận văn trình bày về khái niệm của hoạt động tín dụng, phân loại tín dụng và quy trình tín dụng, từ đó chỉ ra phân tích tín dụng là một bước quan trọng vì nó ảnh hưởng lớn đến quyết định tín dụng sau đó, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của khách hàng và uy tín của ngân hàng nêu khái niệm phân tích tín dụng
Tiếp theo, luận văn nêu khái niệm và sự cần thiết của phân tích tín dụng, các phương pháp phân tích tín dụng, các nguồn thông tin sử dụng trong phân tích tín dụng và nội dung phân tích tín dụng
Luận văn nêu ra các nguồn thông tin được sử dụng trong quá trình phân tích tín dung, đó là:
- Thông tin trực tiếp từ khách hàng bao gồm: thông tin từ phỏng vấn khách hàng, thông tin từ điều tra nơi hoạt động kinh doanh của khách hàng và thông tin có được từ các báo cao tài chính do khách hàng cung cấp
- Thông tin từ ngân hàng: đây là cơ sở dữ liệu về khách hàng mà ngân hàng lưu trữ lại khi khách hàng sử dụng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng Từ những hồ sơ này ngân hàng có thể lấy được những thông tin hữu dụng về khách hàng như: tình hình hoạt động tài khoản thanh toán, số dư bình quân, những đối tượng chi trả hay cho khách hàng qua tài khoản thanh toán, khách hàng sử dụng tài khoản thanh toán để chi trả cho những quan
hệ nào hay số dư tiền gửi tiết kiệm
- Các nguồn thông tin khác như các thông tin của cơ quan thống kê của Chính phủ,
cơ quan thông tin báo chí hay các nguồn thông tin không chính thức được khai thác qua khách hàng, bạn hàng của khách hàng Các nguồn tin không chính thức này rất đa dạng,
Trang 4nhiều chiều đòi hỏi cán bộ tín dụng phải biết chọn lọc và sử dụng những thông tin đáng tin cậy
Về nội dung phân tích tín dụng, luận văn đã chỉ ra phân tích tín dụng là phân tích các yếu tố sau:
- Phân tích các yếu tố phi tài chính bao gồm: tư cách pháp lý của khách hàng, uy tín của khách hàng, khả năng quản lý của lý và các điều kiện về kinh tế của khách hàng
- Phân tích các yếu tố tài chính của doanh nghiệp dựa trên cơ sở các báo cáo tài chính như Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Các yếu tài chính phái đánh giá là: tài sản của khách hàng, đánh giá nguồn trả nợ, phân tích các chỉ số tài chính (cơ cấu vốn, hệ số nợ, khả năng thanh toán lãi vay, khả năng thanh toán, vốn lưu động ròng)
- Phân tích đảm bảo tín dụng, yếu tố này có ý nghĩa lớn trong việc hạn chế rủi ro tín dụng, là biện pháp phòng vệ khi gặp sự cố trong thực hiện hợp đồng tín dụng
1.2 CHẤT LƯỢNG PHÂN TÍCH TÍN DỤNG CỦA NHTM
Tín dụng là hoạt động kinh doanh cơ bản mang lại thu nhập cho ngân Tất cả các khoản vay trước khi được giải ngân đều được đều được thẩm định và phân tích để đưa ra được quyết định đúng đắn nhất nhưng tại tất cả các ngân hàng đều tồn tại nợ quá hạn Các nhà ngân hàng hướng tới phạm trù chất lượng phân tích tín dụng như một giải pháp
để đảm bảo chất lượng tín dụng và sự an toàn của mình
« Chất lượng phân tích tín dụng được hiểu là quá trình lựa chọn các phương pháp, công cụ và chỉ tiêu phân tích một cách phù hợp nhằm đánh giá khách hàng một cách toàn diện, khách quan và khoa học khi đưa ra các quyết định tín dụng, nhờ đó tối thiểu hóa rủi ro và chi phí, nâng cao hiệu quả tín dụng và thỏa mãn tốt nhất nhu cầu tín dụng của khách hàng»
Phân tích tín dụng nhằm thoả mãn mục tiêu của ngân hàng đặt ra :
+ Ngân hàng cho vay được
+ Ngân hàng thu hồi được gốc và lãi theo đúng hợp đồng tín dụng
Vấn đề thứ hai luận văn trình bày là các tiêu chí để đánh giá chất lượng của phân tích tín dụng, bao gồm: tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng
Trang 5Về tiêu chí định tính, phân tích tín dụng phải đảm bảo được tính chính xác, tính toàn diện, tính khách quan và phải đảm bảo về thời gian phân tích tín dụng
+ Tính chính xác thể hiện ở việc các thông tin cán bộ tín dụng tiếp cận được phải phán ánh đúng và đủ tình hình hiện tại của khách hàng, muốn vậy ngoài nguồn thông tin do khách hàng cung cấp, cán bộ tín dụng phải tự thâm nhập thực tế, giám sát, tìm hiểu các nguồn thông tin có liên quan và các các kết quả kiểm toán đáng tin cậy
+ Tính toàn diện trong phân tích tín dụng đạt được khi phân tích tín dụng được thực hiện một các tổng hợp trên cơ sở xem xét các yếu tố liên quan đến khách hàng như: phương án kinh doanh, tình hình tài chính, đảm bảo tín dụng, công nghệ, thị trường, con người, các chính sách, định hướng của Chính phủ đối với các ngành, các lĩnh vực mà khách hàng đang dự định đầu tư Các vấn đề được xem xét một cách toàn diện như vậy giúp cho cán bộ tín dụng có thể lười trước được những rủi ro có thể xảy ra đối với khách hàng, đói với khoản vay từ đó đưa ra sự tính toánvà cân nhắc về tính hiệu quả của việc cho vay
+ Tính khách quan luôn phải được tuân theo trong suốt quá trình phân tích tín dụng
vì mặc dù quá trình phân tích mang yếu tố chủ quan của người phân tích nhưng hoạt động cho vay và hoạt động của khách hàng lại chịu ảnh hưởng bởi các quy luật khách quan của nền kinh tế, do đó các quyết định tín dụng phải gắn liền với những quy luật đó, nếu không đó sẽ là nguy cơ tiềm ẩn những rủi ro cho chính bản thân ngân hàng
+ Thời gian phân tích tín dụng là một tiêu chí quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng phân tích tín dụng Trong sự cạnh tranh gay gắt về chất lượng dịch vụ va gia tăng lợi nhuận giữa các ngân hàng, bản thân mỗi ngân hàng phải xác định một thời gian thích hợp
để tiến hành phân tích sao cho có sự tương thích giữa mong muốn các món vay nhanh chóng được giải ngân của khách hàng và chất lượng phân tích đạt hiệu quả cao của ngân hàng Làm được điều này, đáp ứng được yêu cầu của cả ngân hàng và khách hàng trong phân tích tín dụng là ngân hàng đã đạt được hiệu quả trong đảm bảo lợi ích của cả hai bên
Trang 6Bên cạnh những chỉ tiêu định tính, luận văn cũng đưa ra 2 chỉ tiêu định lượng để đánh giá chất lượng phân tích tín dụng, đó là “lợi nhuận từ hoạt động cho vay” và “tỷ lệ
nợ quá hạn/nợ xấu”
+ Các NHTM phát triển cho vay với mục tiêu lớn nhất là gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng Việc tăng doanh số cho vay phải có kết quả là tăng lợi nhuận trên tổng doanh
số thì việc cho vay mới được coi là đạt hiệu quả Vì vậy chỉ tiêu “lợi nhuận từ hoạt động cho vay” là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng nói chung và chất lượng phân tích tín dụng nói riêng
+ Các khoản cho vay có chất lượng tốt được hiểu là những khoản cho vay được hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi cho ngân hàng Có nhiều chỉ tiêu đánh giá chất lượng của một khoản cho vay và chỉ tiêu được sử dụng phổ biến là: “tỷ lệ quá hạn” hay “tỷ lệ nợ xấu” Tỷ
lệ này ở mức quá cao hay quá thấp đều không tốt, các ngân hàng luôn cố gắng duy trì ở mức vừa phải thể hiện hiến lược kinh doanh của ngân hàng là chấp nhận rủi ro trong chừng mực nhất định để có thể đạt được lợi nhuận cao
Vấn đề thứ ba luận văn đề cập là các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng phân tích tín dụng Hoạt động tín dụng của NHTM chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, được chia làm hai loại, đó là: nhân tố chủ quan, nhân tố khách quan
Nhân tố khách quan bao gồm nhóm nhân tố thuộc về môi trường hoạt động của ngân hàng như: môi trường kinh tế, môi trường pháp luật, sự phát triển của khoa học công nghệ; nhóm nhân tố thuộc về khách hàng là: nhu cầu vốn của khách hàng, khả năng đáp ứng các điều kiện vay của khách hàng
Nhân tố chủ quan bao gồm: vấn đề thông tin và xử lý thông tin, sự hòan thiện của quy trình tín dụng và chính sách tín dụng, năng lực của cán bộ tín dụng và các nhân tố khác như sự kỳ vọng và hoài bão của bản thân các nhà lãnh đạo ngân hàng
CHƯƠNG 2
Trang 7THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG PHÂN TÍCH TÍN DỤNG TẠI NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUỐC TẾ VIỆT NAM
Trong chương này, luận văn bao gồm ba nội dung sau:
2.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUỐC TẾ VIỆT NAM
Phần đầu nội dung này, luận văn giới thiệu tổng quan về Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam (VIB) trên các mặt: sự ra đời, cơ cấu tổ chức bộ máy và các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cung cấp
Tiếp theo, luận văn trình bày tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của VIB trong 2 năm 2007 và 2008 thông qua các hoạt động sau:
- Hoạt động huy động vốn và kinh doanh nguồn vốn
- Hoạt động tín dụng
- Hoạt động đầu tư
- Hoạt động kinh doanh thẻ
- Tài chính và kiểm soát rủi ro
2.2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG PHÂN TÍCH TÍN DỤNG TẠI VIB
Mở đầu nội dung này, luận văn trình bày thực trạng phân tích tín dụng tại VIB thể hiện qua các điểm sau:
Thứ nhất là phân cấp trong quy trình cho vay tại VIB: Phân cấp trong quy trình cho vay của VIB được quản lý theo chiều dọc Tất cả các cán bộ tín dụng đều được đặt đưới
sự chỉ đạo và lãnh đạo của trưởng đơn vị kinh doanh Hỗ trợ cho công tác tín dụng của họ
có các chuyên viên giao dịch tín dụng
Mức phán quyết tín dụng được quy định cho từng vị trí căn cứ vào hạn mức duyệt giả ngân cho Giám đốc/Trưởng phòng Tái thẩm định, Giám đốc Khối Quản lý tín dụng, Hội đồng Tín dụng, Tổng Giám đốc và Uỷ ban Tín dụng
Thứ hai: Quy trình phân tích tín dụng tại VIB được thực hiện đầy đủ và theo trình tự các bước đã được quy định
Thứ ba: Nguồn thông tin phân tích tín dụng tại VIB: Nguồn thông tin được cán bộ tín dụng là các nguồn thông tin từ:
Trang 8- Người vay: đó là hồ sơ pháp lý, hồ sơ kinh tế và hồ sơ vay vốn
- Các cơ quan quản lý: Bao gồm thông tin lưu trữ, thông tin từ trung tâm thông tin tín dụng CIC, thông tin từ các bộ, ngành chủ quản
Thứ tư: Nội dung phân tích tín dụng tại VIB, bao gồm phân tích các yếu tố tài chính và yếu tố phi tài chính
- Phân tích các yếu tố phi tài chính như tính cách của khách hàng vay, năng lực của
khách hàng, điều kiện môi trường (xem xét và đánh giá sản phẩm dịch vụ của khách hàng, thị trường của doanh nghiệp, xu hướng phát triển của thị trường và đánh giá thị phần của khách hàng trên thị trường đó), ngoài ra còn các yếu tố khác như nguồn nhân lực, trình độ học vấn của nguồn nhân lực, khả năng quản lý của đội ngũ lãnh đạo v.v Các yếu tố này đều yêu cầu được thể hiện rõ và đầy đủ trong tờ trình tín dụng của VIB
- Phân tích các yếu tố tài chính, đó là:
+ Thẩm định khả năng tài chính: Thông qua các báo cáo tài chính, khả năng tài chính của khách hàng vay được xem xét gồm: nguồn vốn chủ sở hữu, nợ phải trả các tổ chức và cá nhân, tài sản cố định (nhà cửa, máy móc thiết bị), tài sản lưu động (tiền mặt, giá trị vật tư, hàng hoá, các khoản phải thu), các khoản đầu tư Các hệ số tài chính bao gồm: doanh thu thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính, hoạt động bất thường, lợi nhuận trước thuế, nộp ngân sách nhà nước, lợi nhuận ròng
+ Thẩm định phương án, dự án vay vốn
Đối với các hộ gia đình, cá nhân, tổ hợp tác và cho vay ngắn hạn các doanh nghiệp, ngân hàng tiến hành thẩm định phương án vay vốn về các mặt sau: mục đích vay vốn, tổng nhu cầu vốn, vòng quay vốn lưu động dự kiến, lượng vốn tự có, vốn vay ngân hàng, hiệu quả kinh tế của phương án , khả năng trả nợ, khả năng thực hiện phương án Đối với cho vay trung và dài hạn của các doanh nghiệp, thẩm định dự án vay vốn trên các mặt: Cơ sở pháp lý của dự án, Tình hình tài chính của dự án, Hiệu quả của dự án đầu tư, Tính khả thi của dự án
Đối với các dự án lớn, VIB thường kêu gọi đồng tài trợ để giảm rủi ro và thực hiện tiếp cận dần với mảng kinh doanh rất lớn và hiệu quả này
Trang 9- Phân tích biện pháp bảo đảm tiền vay, bao gồm: Bảo đảm tiền vay bằng tài sản và Bảo đảm tiền vay không bằng tài sản VIB thực hiện cho vay được đảm bảo bằng tài sản trước hết để phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở pháp lý để thu hồi các khoản nợ đã cho vay trong trường hợp khách hàng không còn khả năng thanh toán
Tiếp theo, luận văn đưa ra một ví dụ thực tế phân tích tín dụng tại VIB của Công ty
cổ phần tập đoàn TP, một trong những khách hàng lớn và uy tín của VIB
Phần cuối nội dung này, luận văn trình bày thực trạng chất lượng phân tích tín dụng tại VIB qua các chỉ tiêu “lợi nhuận từ hoạt động cho vay” và “tỷ lệ quá hạn, nợ xấu”
2.3 ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG PHÂN TÍCH TÍN DỤNG TẠI VIB
Trong nội dung này, luận văn đã đánh giá kết quả đạt được của chất lượng phân tích tín dụng tại VIB Kết quả đạt được thể hiện trên các khía cạnh sau:
- Quy trình cho vay được xây dựng và ngày càng hoàn thiện hơn, chính sách tín dụng được cụ thể hoá thành các quy trình cụ thể áp dụng cho từng đối tượng, từng loại hình cho vay
- Dư nợ tín dụng tăng lên cho thấy VIB có những bước đi đúng, tạo lập được uy tín ngày càng lớn đối với khách hàng
- Chất lượng tín dụng của VIB dần được cải thiện, được nâng cao biểu hiện ở tỷ lệ
nợ quá hạn, nợ xấu của VIB có những chuyển biến tích cực trong thời gian qua Tỷ lệ nợ quá hạn thấp, nợ xấu dưới 2% góp phần đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh của toàn ngân hàng
- Lợi nhuận từ hoạt động cho vay đã có những đóng góp nhất định và tổng lợi nhuận của VIB cho thấy chất lượng tín dụng nói chung và chất lượng phân tích tín dụng được đảm bảo
- Công tác phân tích tín dụng ngày càng được chú trọng cùng với việc hoàn thiện mẫu tờ trình tín dụng, giúp cho việc đánh giá khách hàng đầy đủ hơn và là yếu tố không nhỏ góp phần vào việc nâng cao chất lượng phân tích tín dụng của VIB
- Khách hàng có quan hệ tín dụng với VIB ngày càng được mở rộng về cả đối tượng và qui mô hoạt động kinh doanh Từ chỗ chỉ tập trung vào các khách hàng nhỏ lẻ,
Trang 10đến nay đối tượng mà VIB quan tâm là những khách hàng có quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh tương đối lớn
Sau khi đánh giá kết quả đạt được, luận văn đã nêu ra những hạn chế trong chất lượng phân tích tín dụng của VIB
- Phân tích tín dụng chưa phản ánh đúng và đầy đủ thực trạng khách hàng vay và khả
năng trả nợ của khách hàng
- Thời gian giải quyết một khoản vay chưa hợp lý do thời gian dành cho việc phân tích của cán bộ tín dụng chiếm tỷ lệ nhiều nhất Công đoạn này vượt quá thời hạn quy định, từ đó ảnh hưởng đến các bước khác như xét duyệt của hội đồng tín dụng, hoàn tất thủ tục về tài sản đảm bảo của nhân viên thẩm định tài sản…
- Phân tích tín dụng chưa có sự tập trung đánh giá và quản lý tài sản đảm bảo mà mới chỉ coi đây là một trong những yếu tố cần thiết cho bất kỳ một khoản vay nào
Giải thích cho những hạn chế trên, luận văn nêu ra các nguyên nhân:
- Thông tin phục vụ cho phân tích tín dụng còn thiếu và việc khai thác thông tin tại VIB chưa hiệu quả
+ Thiếu thông tin từ bản thân hồ sơ vay vốn do khách hàng cung cấp: đối với các doanh nghiệp, hầu như các báo cáo tài chính đều chưa được kiểm toán hoặc có qua kiểm toán nhưng chậm so với thời gian mà VIB yêu cầu, còn đối với các cá nhân, thông tin về nguồn thu nhập do khách hàng cung cấp thường không chính xác, đặc biệt là các đối tượng làm việc tại các cơ quan nhà nước
+ Thông tin từ trung tâm Thông tin tín dụng: thông tin từ CIC mới chỉ cập nhật trong khoảng thời gian từ 2 năm trở lại tính đến thời điểm xét duyệt khoản vay, thêm vào
đó việc truy cập thông tin đôi khi rất mất thời gian do tốc độ đường truyền chậm hoặc có những trục trặc kỹ thuật của Trung tâm
+ Thông tin thiếu do việc tìm hiểu thông tin từ các Ngân hàng khác gặp nhiều khó khăn: do tính chất cạnh tranh mạnh mẽ giữa các ngân hàng
+ Thiếu thông tin từ các cơ quan Nhà nước, các doanh nghiệp trong ngành đang nghiên cứu…do mối quan hệ với các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực tài chính, luật pháp còn hạn chế do không có cơ chế phối hợp Bên cạnh đó, việc tìm hiểu thông tin từ các