Vì vậy, nghiên cứu được thực hiện nhằm: (i) đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của hai mô hình sản xuất lúa: cánh đồng lớn và truyền thống và (ii) phân tích điểm mạnh, điể[r]
Trang 1DOI:10.22144/ctu.jsi.2017.052
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MÔ HÌNH SẢN XUẤT LÚA TRUYỀN THỐNG VÀ
CÁNH ĐỒNG LỚN TẠI THỊ XÃ NGÃ NĂM, TỈNH SÓC TRĂNG
Nguyễn Thị Mỹ Linh1, 2, Lê Phan Đình Huấn1, Huỳnh Văn Phụng1, Phan Kỳ Trung1,
Nguyễn Văn Bé1 và Văn Phạm Đăng Trí1
1 Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên, Trường Đại học Cần Thơ
2 Khoa Kỹ thuật Công nghệ - Môi trường, Trường Cao đẳng Cần Thơ
Thông tin chung:
Ngày nhận bài: 28/07/2017
Ngày nhận bài sửa: 27/09/2017
Ngày duyệt đăng: 26/10/2017
Title:
Assessing effectiveness of the
models of large-scale rice field
and traditional rice cultivation
in Nga Nam district, Soc Trang
province
Từ khóa:
Canh tác lúa, mô hình cánh
đồng lớn, sản xuất nông
nghiệp, truyền thống, vùng ven
biển
Keywords:
Agricultural production,
coastal areas, large-scale rice
field model, rice cultivation,
traditional
ABSTRACT
Soc Trang province is one of the major agricultural areas in the Mekong Delta where rice production is the most popular activity Currently, to respond to the economic goal, choosing appropriate rice production technique is a crucial requirement However, the selection of rice production model needs to consider both social and environmental aspects, especially in the context of climate change Therefore, this research was carried out in order to: (i) assess the economic, social and environmental effectiveness of rice production model: large-scale rice field and traditional rice cultivation; and (ii) analyze the strengths, weaknesses, opportunities, and threats of rice production model in Nga Nam district, Soc Trang province Cost-benefit analysis, data standardization, directive interview, expected cost approach and Likert scale were applied, based on criteria of Food and Agriculture Organization of the United Nations (FAO,2007) The result showed that the large-scale rice field model gave higher effectiveness in comparison with the traditional rice cultivation model, with points of effectiveness being 0.99 and 0.73, respectively In general, the large-scale rice field model is an advanced rice production method which encourages the agricultural development in Nga Nam district, Soc Trang province
TÓM TẮT
Sóc Trăng là một trong những tỉnh sản xuất nông nghiệp trọng điểm ở Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó canh tác lúa là mô hình phổ biến nhất Thêm vào đó, sản xuất nông nghiệp với mục tiêu phát triển kinh tế là chính nên quyết định lựa chọn mô hình sản xuất nông nghiệp phù hợp với khu vực là một yêu cầu rất cần thiết và quan trọng Tuy nhiên, chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp ngoài mục tiêu phát triển kinh tế nên xem xét đến mục tiêu xã hội và môi trường nhằm hướng đến nền nông nghiệp phát triển bền vững Vì vậy, nghiên cứu được thực hiện nhằm: (i) đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của hai mô hình sản xuất lúa: cánh đồng lớn và truyền thống và (ii) phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của các mô hình canh tác lúa tại thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng Nghiên cứu áp dụng phương pháp phân tích chi phí - lợi ích, chuẩn hóa số liệu, thang đo Likert, tiếp cận giá trị mong đợi để phân tích và tổng hợp các số liệu được phỏng vấn từ nông hộ Các chỉ tiêu dựa trên các tiêu chí đánh giá đất đai của tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (2007) và các nghiên cứu
đã được thực hiện ở Đồng bằng sông Cửu Long Kết quả cho thấy mô hình cánh đồng lớn cho tổng số điểm 3 mục tiêu (kinh tế, xã hội và môi trường) lớn hơn mô hình truyền thống với số điểm lần lượt là 0,99 và 0,73 Nhìn chung, cánh đồng lớn đã khẳng định là một phương thức sản xuất lúa tiên tiến góp phần tạo động lực cho sự phát triển nông nghiệp cho thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng
Trích dẫn: Nguyễn Thị Mỹ Linh, Lê Phan Đình Huấn, Huỳnh Văn Phụng, Phan Kỳ Trung, Nguyễn Văn Bé
và Văn Phạm Đăng Trí, 2017 Đánh giá hiệu quả mô hình sản xuất lúa truyền thống và cánh đồng lớn tại thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ Số chuyên đề: Môi trường và Biến đổi khí hậu (2): 45-54
Trang 21 GIỚI THIỆU
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng
trọng điểm sản xuất lúa của cả nước, sản lượng
hàng năm trên 50% tổng sản lượng lúa quốc gia,
góp phần đảm bảo an ninh lương thực trong nước
(Tổng cục Thống kê, 2015) Tuy nhiên, ĐBSCL đã
và đang đối mặt với nhiều vấn đề về môi trường,
trong đó là sự thay đổi nguồn tài nguyên nước mặt
(Nguyễn Trần Khánh và ctv., 2015; Trần Văn Tỷ
và ctv., 2016) Biến đổi khí hậu (BĐKH) đã và
đang gây ra những hiện tượng cực đoan (Trần Thục
và ctv., 2016) dẫn đến các tác động bất lợi cho hệ
thống canh tác nông nghiệp (Wassmann et al.,
2004; Nguyễn Thanh Bình và ctv., 2012) với lúa là
hệ thống canh tác chính (Nguyễn Thị Mỹ Linh và
ctv., 2014)
Sóc Trăng là tỉnh nằm ven biển ĐBSCL, đóng
góp lớn sản lượng lúa gạo vào tổng sản lượng của
vùng Trong những năm gần đây, xâm nhập mặn và
khô hạn đã tác động và gây thiệt hại lớn đến hệ
thống canh tác lúa của Sóc Trăng, nhất là tại các
vùng sản xuất ven biển (Bộ Tài nguyên và Môi
trường, 2012) Thiệt hại trong canh tác lúa ở các
tỉnh phía nam sông Hậu có chiều hướng gia tăng và
diễn biến ngày càng phức tạp (Võ Văn Tuấn và Lê
Cảnh Dũng, 2015), việc sản xuất lúa theo mô hình
sản xuất truyền thống có chi phí đầu tư cao nhưng
lợi nhuận ngày càng giảm vì giá lúa không ổn định
(Lê Cảnh Dũng và Võ Văn Tuấn, 2014)
Nhằm thích ứng với BĐKH và từng bước xây dựng thương hiệu với vùng nguyên liệu chất lượng cao, ĐBSCL đã phát triển mô hình cánh đồng lớn thực hiện theo Nghị quyết 21/2011/QH13 ngày 29 tháng 11 năm 2011 của Quốc hội Tuy nhiên, việc chuyển đổi này cần phải xem xét tính phù hợp và đánh giá hiệu quả về các khía cạnh kinh tế - xã hội
- môi trường so với mô hình sản xuất lúa trước đó nhằm phát triển bền vững trong tương lai Bên cạnh đó, các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra mô hình cánh đồng lớn mang lại hiệu quả mục tiêu kinh tế hơn mô hình sản xuất truyền thống (Phạm Văn Mến, 2015) Tuy nhiên, hiệu quả mục tiêu xã hội và môi trường của các mô hình sản xuất này chưa được đánh giá
Vì vậy, đề tài “Đánh giá hiệu quả mô hình sản xuất lúa truyền thống và cánh đồng lớn tại thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng” được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường Qua đó, nghiên cứu đề xuất phát triển mô hình sản xuất phù hợp cho vùng nghiên cứu
2 PHƯƠNG PHÁP 2.1 Thu thập số liệu
Số liệu thứ cấp được thu thập từ Phòng Kinh tế thị xã Ngã Năm về tình hình kinh tế - xã hội của thị
xã Ngã Năm giai đoạn 2010 - 2015 Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp 80 hộ dân ở xã Long Bình và phường 3 của thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng (Hình 1)
Hình 1: Vùng nghiên cứu ở thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng
Phỏng vấn chuyên gia bao gồm các cán bộ quản
lý nông nghiệp tại Phòng Kinh tế thị xã Ngã Năm
từ phỏng vấn nông hộ Số lượng mẫu phỏng vấn được lựa chọn dựa trên các tiêu chí được trình bày trong Bảng 1 Cỡ mẫu được xác định dựa trên
Trang 3công thức tính toán cỡ mẫu của Bill Godden
(2004):
Trong đó:
SS là cỡ mẫu;
Z là giá trị Z (ví dụ với mức độ tin cậy là 95%
tương ứng với hệ số Z là 1,96);
P là phần trăm dân số được lựa chọn, thể hiện ở
dạng thập phân (0,5 được sử dụng cho một cỡ mẫu
cần thiết); và C là khoảng tin cậy, được thể hiện ở
dạng thập phân (ví dụ 0,04 = +/- 4 phần trăm chênh
lệch)
Trong nghiên cứu, cỡ mẫu được tính toán như
sau:
Bảng 1: Tiêu chí chọn đối tượng và vùng nghiên
cứu
STT Nội dung Tiêu chí chọn lượng Số
1 Nông hộ sản xuất lúa Mô hình cánh đồng lớn Mô hình truyền thống 40 40
2 Cán bộ chuyên trách Phòng Kinh tế BQL cánh đồng lớn 05 03
Các chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả kinh tế - xã
hội - môi trường được xây dựng dựa trên các tiêu
chí đánh giá đất đai của FAO (2007) và các nghiên
cứu đã thực hiện ở ĐBSCL (Roãn Ngọc Chiến,
2001; Phạm Thanh Vũ và ctv., 2013; Phạm Văn
Mến, 2015) Sau đó, các chỉ tiêu được kiểm tra
thông qua phỏng vấn nông hộ và cán bộ quản lý
nhằm đưa ra các chỉ tiêu phù hợp với tình hình sản
xuất nông nghiệp của vùng nghiên cứu
Bảng 2: Các chỉ tiêu kinh tế, xã hội và môi
trường theo phỏng vấn nông hộ STT Mục tiêu Chỉ tiêu cụ thể
Tổng chi Tổng thu Lợi nhuận Hiệu quả đồng vốn
Dự báo và phòng ngừa rủi ro Công tác quản lý nước tưới Chính sách hỗ trợ
Thị trường
Kỹ thuật canh tác Lao động
3 Môi trường
Suy thoái đất
Ô nhiễm nguồn nước
Ô nhiễm không khí Gia tăng dịch bệnh Giảm đa dạng sinh học
2.2 Phân tích số liệu
2.2.1 Tính toán điểm hiệu quả của các mô hình sản xuất lúa
Phương pháp xác định điểm thô
Điểm thô của mục tiêu kinh tế được xác định bằng chỉ tiêu hiệu quả đồng vốn (HQĐV) Đây là chỉ tiêu bao hàm các chỉ tiêu khác về mặt kinh tế
Các chỉ tiêu của mục tiêu xã hội và môi trường theo phỏng vấn nông hộ được đánh giá định tính theo thang đo Likert 5 mức độ (Likert, 1932) và được chuyển đổi từ định tính sang định lượng từ 0 đến 1 (Roãn Ngọc Chiến, 2001) để xác định giá trị điểm của từng mục tiêu (Hình 2)
Hình 2: Điểm số quy đổi thang đo Likert
Tuy nhiên, riêng điểm thô của chỉ tiêu lao động
trong mục tiêu xã hội được tính bằng hiệu quả ngày
công lao động Trong đó, số giờ lao động cả năm
được tính toán qua phỏng vấn nông hộ về tổng số
giờ ra thăm đồng vào buổi sáng và buổi chiều trong thời gian canh tác lúa của một năm (vùng nghiên cứu sản xuất lúa 2 vụ: Hè Thu và Đông Xuân)
Trong đó:
Trang 4a Chuẩn hóa điểm thô
Các số liệu được xử lý cho các mục tiêu kinh
tế, xã hội và môi trường vẫn chưa thể tổng hợp và
so sánh được vì có sự khác biệt đơn vị đo lường Vì
vậy, để giải quyết vấn đề này đề tài ứng dụng
phương pháp chuẩn hóa chia cho giá trị lớn nhất
nhằm chuyển đổi các giá trị về cùng một đơn vị đo
nằm trong khoảng từ 0 → 1 1 Phương pháp này
đã được ứng dụng trong các nghiên cứu ở ĐBSCL
(Văn Phạm Đăng Trí, 2001; Nguyễn Thị Song
Bình và Ngô Thị Thanh Hằng, 2013)
Trong đó:
: Điểm số chuẩn hóa của chỉ tiêu thứ ;
: là giá trị của một chỉ tiêu thứ trong mô
hình sản xuất, được quy đổi từ định tính sang định
lượng;
: là giá trị cao nhất của yếu tố trong hai
mô hình sản xuất
b Phương pháp xác định trọng điểm của mục
tiêu
Các số liệu sơ cấp về thứ tự ưu tiên của các
mục tiêu được thu thập dựa trên phỏng vấn nông
hộ và cán bộ quản lý Sau đó, trọng điểm được xác
định bằng cách gán giá trị mong đợi cho các thứ tự
ưu tiên Các giá trị mong đợi (Expected Value
Approach) được tính theo công thức (2) (Sharifi,
1990):
Trong đó:
là giá trị mong đợi của các mục tiêu; và
là số lượng của mục tiêu cần xếp hạng
c Điểm hiệu quả tổng hợp
Điểm hiệu quả tổng hợp được tính theo công thức (3) dựa trên trọng điểm và điểm chuẩn hóa của các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường
Trong đó: là điểm đánh giá mục tiêu thứ
Sau đó, điểm hiệu quả tổng hợp của tất cả mục tiêu trong mô hình canh tác được biểu thị bằng biểu
đồ Radar
2.2.2 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội
và thách thức
Nguyên tắc của phương pháp phân tích điểm
mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (SWOT)
được ứng dụng nhằm đề xuất các giải pháp phát huy điểm mạnh và cải thiện điểm yếu cho các mô hình canh tác lúa Phương pháp thực hiện dựa trên quá trình phỏng vấn nông hộ và cán bộ quản lý Ngoài ra, nghiên cứu còn dựa vào kết quả phân tích
số liệu sơ cấp và thứ cấp
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của các mô hình canh tác lúa
3.1.1 Hiệu quả kinh tế của các mô hình canh tác lúa
Yếu tố lợi nhuận - hiệu quả đồng vốn là mục tiêu hàng đầu trong lựa chọn phương thức canh tác của nông hộ Kết quả cho thấy nhóm nông hộ canh tác theo mô hình cánh đồng lớn có hiệu quả đồng vốn cao hơn so với nhóm nông hộ sản xuất theo tập quán truyền thống (Hình 3)
Trang 5Nông hộ tham gia sản xuất cánh đồng lớn bỏ ra
1 đồng chi phí sẽ thu lại 1,84 đồng lợi nhuận
Tương tự, nông hộ sản xuất theo tập quán truyền
thống bỏ ra 1 đồng chi phí chỉ thu lại 1,24 đồng lợi
nhuận, chênh lệch 0,6 đồng Sự chênh lệch hiệu quả đồng vốn giữa hai mô hình sản xuất chịu ảnh hưởng bởi hai yếu tố là chi phí sản xuất và thu nhập (Bảng 3)
Bảng 3: Các chỉ số kinh tế của các mô hình sản xuất
Đơn vị: đồng/1000 m 2 /vụ
Khoản mục Trung bình Cánh đồng lớn Độ lệch chuẩn Trung Bình Truyền thống Độ lệch chuẩn Giá trị t
Ghi chú: *** và ns lần lượt có ý nghĩa thống kê mức 1% và không có ý nghĩa thống kê
Về chi phí sản xuất, nông hộ tham gia cánh
đồng lớn đầu tư thấp hơn nông hộ sản xuất truyền
thống do nhận được hỗ trợ kỹ thuật canh tác trong
việc sử dụng liều lượng phân bón và thuốc bảo vệ
thực vật nhằm tối ưu chi phí sản xuất Đây là hai
loại chi phí chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng chi
phí sản xuất lúa Tuy nhiên, mô hình cánh đồng lớn
vẫn còn diễn ra thực trạng một số ít nông hộ sử
dụng liều lượng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật
theo tập quán canh tác truyền thống nên đã dẫn đến
độ lệch chuẩn khá cao trong khoản mục phân,
thuốc
Thông thường, thu nhập của mô hình bị chi
phối bởi yếu tố năng suất và giá lúa Tuy nhiên, kết
quả nghiên cứu phản ánh tiêu chí thu nhập của hai
mô hình có sự chênh lệch phụ thuộc nhiều vào giá
lúa Do cả hai mô hình có cùng điều kiện tự nhiên
cũng như chịu sự tác động mạnh mẽ của thời tiết,
khí hậu và tình hình dịch bệnh nên dẫn đến yếu tố
năng suất không có sự khác biệt Bên cạnh đó,
nông hộ tham gia cánh đồng lớn được bao tiêu sản phẩm đầu ra nên giá lúa luôn ổn định hơn với mô hình truyền thống khi vụ mùa sản xuất tập trung Nhìn chung, cánh đồng lớn đáp ứng mục tiêu kinh tế cho nông hộ cao hơn so với sản xuất lúa theo tập quán truyền thống Tuy nhiên, cần có sự cân nhắc và quan tâm đến mục tiêu xã hội và môi trường để đảm bảo hướng đến nền nông nghiệp phát triển bền vững
3.1.2 Hiệu quả xã hội của các mô hình canh tác lúa
Các chỉ tiêu về khía cạnh xã hội ở mô hình cánh đồng lớn đều mang lại hiệu quả cao hơn mô hình sản xuất theo tập quán truyền thống (Hình 4)
Đa phần các chỉ tiêu của 2 mô hình có điểm hiệu quả khá cao, ngoại trừ chỉ tiêu chính sách hỗ trợ có điểm hiệu quả tương đối thấp lần lượt của mô hình cánh đồng lớn và mô hình sản xuất truyền thống là 0,37 và 0,23
Hình 4: Mức độ hiệu quả về xã hội của các mô hình sản xuất lúa
Trang 6Cụ thể, 2 chỉ tiêu dự báo - phòng ngừa rủi ro và
công tác quản lý nước tưới ở mô hình cánh đồng
lớn (lần lượt là 0,70 và 0,71) được cải thiện hơn so
với mô hình sản xuất truyền thống (0,54 và 0,65)
Nông hộ cả 2 mô hình canh tác biết được thông tin
thời tiết và tình hình xâm nhập mặn thông qua loa
phát thanh hàng ngày Tuy nhiên, ngoài việc theo
dõi các thông tin này trên loa phát thanh hàng
ngày, nông hộ tham gia cánh đồng lớn còn biết
được cụ thể tình hình thời tiết và xâm nhập mặn
thông qua các buổi họp với BQL cánh đồng lớn
Mô hình cánh đồng lớn được đầu tư xây dựng hệ
thống bờ bao kết hợp đường giao thông, cống điều
tiết nước và trạm bơm tập trung ngăn xâm nhập
mặn vào nội đồng và trữ nước ngọt phục vụ sản
xuất lúa khi khô hạn kéo dài Tuy nhiên, việc bơm
nước tập trung vẫn còn bất cập do bề mặt các thửa
ruộng có độ cao không bằng nhau Cụ thể, khi bơm
nước vào cánh đồng lớn thường xuyên xảy ra tình
trạng vùng đất cao thiếu nước và vùng đất thấp
ngập nước ảnh hưởng đến sự phát triển của cây lúa
Để phát triển mô hình cánh đồng lớn hiệu quả bền
vững cần có biện pháp kỹ thuật để san lấp bằng
phẳng các thửa ruộng với nhau
Hình 5: Hiệu quả lao động của các mô hình sản
xuất lúa
So với phương thức canh tác truyền thống, các
chính sách hỗ trợ cho người dân canh tác lúa được
quan tâm hơn trong mô hình cánh đồng lớn nhưng
hiệu quả vẫn còn khá thấp Theo đó, nông hộ tham
gia mô hình cánh đồng lớn được doanh nghiệp hợp đồng bao tiêu sản phẩm đầu ra nhưng rất ít được hỗ trợ về vật tư nông nghiệp (điểm hiệu quả là 0,27)
và việc hỗ trợ kỹ thuật canh tác hiệu quả ở mức trung bình (điểm hiệu quả 0,64) Việc hỗ trợ vật tư nông nghiệp thấp sẽ gây khó khăn cho nông hộ trong việc lựa chọn phân thuốc dẫn đến chất lượng sản phẩm đầu ra không đồng đều ảnh hưởng đến thương hiệu sản phẩm của mô hình cánh đồng lớn Hiệu quả ngày công lao động của mô hình cánh đồng lớn (122.466 đồng/ngày) cao hơn 1,64 lần so với mô hình sản xuất lúa truyền thống (74.712 đồng/ngày) (Hình 5) Điều này đồng nghĩa với việc khi nông hộ canh tác theo phương thức cánh đồng lớn, tiền công một ngày tăng thêm 47.754 đồng Hiệu quả ngày công lao động bị ảnh hưởng bởi 2 yếu tố lợi nhuận và số ngày công lao động trong một vụ Theo đó, tổng lợi nhuận cả năm của mô hình cánh đồng (4.702.427 đồng/năm) lớn mang lại hiệu quả cao hơn gấp 1,3 lần so với mô hình sản xuất truyền thống (3.627.765 đồng/năm)
Ngoài ra, số ngày công lao động trong một năm của mô hình cánh đồng lớn (38,40 ngày/năm) giảm 0,8 lần so với mô hình sản xuất truyền thống (48,01 ngày/năm) Nguyên nhân mô hình cánh đồng lớn có số ngày công lao động thấp hơn là do
có quy trình sản xuất đồng loạt cơ giới hóa từ khâu làm đất đến khâu thu hoạch và phát triển các loại hình tổ hợp tác Bên cạnh đó, mô hình cánh đồng lớn được chuyên gia thăm đồng thường xuyên nên nông hộ giảm được thời gian thăm đồng hơn so với
mô hình sản xuất truyền thống
3.1.3 Hiệu quả về mặt môi trường của các mô hình canh tác lúa
Nhìn chung, 2 mô hình sản xuất đều gây tác động đến mục tiêu môi trường ở mức trung bình (điểm hiệu quả trung bình của mô hình cánh đồng lớn và mô hình sản xuất truyền thống lần lượt là -0,46 và -0,43) Trong đó, chỉ tiêu chất lượng môi trường không khí ít bị tác động nhất và các chỉ tiêu
bị tác động khá cao là đa dạng sinh học và kiểm soát dịch bệnh (Hình 6)
Trang 7Mô hình cánh đồng lớn có 5/6 chỉ tiêu gây tác
động đến môi trường cao hơn mô hình sản xuất
truyền thống Nông hộ tham gia cánh đồng lớn có
quy trình sản xuất đồng loạt nên việc sử dụng phân
thuốc cùng một thời điểm trên phạm vi lớn mang
lại hiệu quả cao khi tiêu diệt được sâu bệnh và
giảm được tỉ lệ gia tăng dịch bệnh Tuy nhiên, việc
sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đồng loạt lại gây tác
động tiêu cực đến môi trường đất, môi trường
nước, môi trường không khí và đặc biệt là ảnh
hưởng lớn đến các loài sinh vật khác không gây
hại
Mô hình canh tác truyền thống có diện tích nhỏ
và việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không cùng
thời điểm (do nông hộ tự chủ trong việc sử dụng
phân thuốc) nên mức độ tác động đến đa dạng sinh
học thấp hơn mô hình cánh đồng lớn Tuy nhiên,
việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật riêng lẻ từng
thửa ruộng mà không có sự liên kết các thửa ruộng
của các nông hộ khác với nhau dẫn đến không tiêu
diệt triệt để sâu bệnh Việc không tiêu diệt được
sâu bệnh dẫn đến nông hộ phải sử dụng thuốc bảo
vệ thực vật nhiều lần gây tác động đến môi trường
Các tác động này hiện tại chưa cao, nhưng về
lâu dài, đây sẽ là những tác động tiềm tàng có khả
năng tích trữ trong đất và nước dẫn đến các bất lợi
cho canh tác lúa Do đó, trong thời gian tới cần có biện pháp để nâng cao chất lượng môi trường nhằm xây dựng mô hình sản xuất lúa phát triển bền vững
3.1.4 Hiệu quả tổng hợp kinh tế - xã hội - môi trường của mô hình canh tác lúa
Mô hình cánh đồng lớn có điểm hiệu quả tổng hợp kinh tế - xã hội - môi trường tối ưu nhất (0,99)
và cao gấp 1,4 lần so với mô hình sản xuất truyền thống (0,73) Trong đó, mô hình cánh đồng lớn mang lại hiệu quả cao hơn về mục tiêu kinh tế và
xã hội nhưng lại kém hiệu quả về mục tiêu môi trường so với mô hình sản xuất truyền thống (Bảng 4) Cả hai mô hình đều có điểm hiệu quả mục tiêu kinh tế cao nhất, hiệu quả mục tiêu xã hội đứng thứ
2 và hiệu quả mục tiêu môi trường thấp nhất
Mô hình sản xuất truyền thống có điểm hiệu quả tổng hợp kinh tế - xã hội - môi trường cân bằng hơn mô hình cánh đồng lớn (Hình 7) Theo
đó, mô hình cánh đồng lớn có hiệu quả kinh tế (0,61) cao gấp 2,2 lần so với hiệu quả xã hội (0,28)
và cao gấp 6,1 lần so với hiệu quả môi trường (0,1) Và trong mô hình sản xuất truyền thống, hiệu quả kinh tế (0,41) cao gấp 1.9 lần so với hiệu quả
xã hội (0,21) và cao gấp 3,7 lần so với hiệu quả môi trường (0,11)
Bảng 4: Hiệu quả về kinh tế - xã hội - môi trường của các mô hình canh tác lúa
(0,61)
(0,28)
(0,11)
Hình 7: Hiệu quả về kinh tế - xã hội - môi
trường khi xét về tỷ trọng ưu tiên
Điểm hiệu quả tổng hợp có sự chệnh lệch giữa
2 mô hình sản xuất là do bị ảnh hưởng bởi yếu tố
điểm chuẩn hóa Mô hình cánh đồng lớn có điểm
chuẩn hóa về kinh tế và xã hội cao hơn vượt trội so
với mô hình sản xuất truyền thống (khoảng chênh lệch điểm chuẩn hóa của kinh tế và xã hội lần lượt
là 0,33 và 0,24) Trong khi đó, điểm chuẩn hóa về môi trường của mô hình cánh đồng lớn tuy có thấp hơn mô hình sản xuất truyền thống nhưng khoảng chênh lệnh không đáng kể (chênh lệch 0,8) Ngoài ra, trong cùng một mô hình có sự khác biệt lớn về hiệu quả 3 mục tiêu là do bị ảnh hưởng bởi yếu tố trọng điểm Đa phần nông hộ cả hai mô hình sản xuất lựa chọn mục tiêu kinh tế là ưu tiên hàng đầu (trọng điểm là 0,61), mục tiêu xã hội được ưu tiên thứ 2 (trọng điểm là 0,28) và ưu tiên thấp nhất là mục tiêu môi trường (trọng điểm là 0,11) Theo đó, kết quả xếp hạng ưu tiên các mục tiêu bị ảnh hưởng bởi nhu cầu tài chính của nông
hộ Nhu cầu tài chính của nông hộ chịu tác động rất lớn bởi trình độ học vấn (có đến 91% nông hộ có trình độ tiểu học) Phần lớn nông hộ nghĩ đến lợi ích trước mắt về kinh tế chưa nghĩ đến khía cạnh
Trang 8xã hội và tác động đến môi trường của mô hình
canh tác trong tương lai
3.2 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội
và thách thức của các mô hình canh tác lúa tại
thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng
Trong thời gian qua, việc triển khai mô hình
cánh đồng lớn ở Thị xã Ngã Năm được nông hộ rất
quan tâm Mô hình cánh đồng lớn được đánh giá
cao hơn so với mô hình sản xuất truyền thống
nhưng vẫn còn một số hạn chế cần cải thiện trong
thời gian tới (Bảng 5)
Theo đó, các chỉ tiêu xã hội được chính quyền
địa phương quan tâm và được cải thiện hơn mô
hình sản xuất truyền thống Mô hình cánh đồng lớn
được đầu tư xây dựng hệ thống bờ bao xung quanh,
cống điều tiết nước và trạm bơm nước tập trung
mang lại hiệu quả cao hơn khi hạn chế được các rủi
ro do xâm nhập mặn Ngoài ra, nông hộ tham gia
cánh đồng lớn được họp định kỳ với BQL cánh
đồng mẫu về tình hình thời tiết và xâm nhập mặn
giúp nông hộ chủ động hơn trong việc phòng ngừa các rủi ro Bên cạnh đó, mô hình cánh đồng lớn được các chuyên gia hướng dẫn kỹ thuật canh tác
và thăm đồng thường xuyên nên nông hộ hạn chế được thời gian lao động Điều này đã giải quyết được vấn đề thiếu nguồn nhân lực lao động trong bối cảnh nguồn lao động di chuyển đến khu vực sản xuất công nghiệp
Tuy nhiên, để phát triển bền vững mô hình cánh đồng lớn ở thị xã Ngã Năm cần nâng cao hiệu quả
về mục tiêu xã hội và môi trường Theo đó, tình trạng vi phạm trong hợp đồng giữa doanh nghiệp
và nông hộ vẫn thường xuyên xảy ra Nguyên nhân
là do giá lúa thị trường cao hơn hợp đồng và doanh nghiệp không đủ năng lực tài chính để thu mua lúa
Do vậy, chính quyền địa phương đóng vai trò rất quan trọng trong mối liên kết giữa nông hộ và doanh nghiệp Cần có biện pháp chế tài cụ thể dành cho doanh nghiệp và nông hộ, bên vi phạm phải chịu trách nhiệm bồi thường hợp đồng dưới sự quản lý của cơ quan nhà nước
Bảng 5: Điểm mạnh và điểm yếu của các mô hình sản xuất lúa theo phỏng vấn nông hộ
ĐIỂM MẠNH
Xã hội
- Công tác dự báo và phòng ngừa rủi ro kịp thời
- Hệ thống công trình thủy lợi hiệu quả
- Giảm được thời gian lao động
- Được hướng dẫn kỹ thuật canh tác
- Hợp đồng cung ứng và bao tiêu sản phẩm
- Chủ động trong việc sản xuất
ĐIỂM YẾU
Xã hội
- Tình trạng vi phạm hợp đồng giữa doanh nghiệp và nông hộ còn xảy ra
- Mâu thuẫn trong việc bơm nước ra vào ruộng giữa vùng đất cao và vùng đất thấp
- Thời gian lao động cao
- Chưa được doanh nghiệp quan tâm hợp đồng tiêu thụ nông sản
Môi trường
- Chưa cải thiện mức độ tác động đến môi trường tự nhiên
- Gây tác động khá cao đến đa dạng sinh học
-
CƠ HỘI
- Xây dựng thương hiệu lúa gạo
- Tăng giá trị xuất khẩu
- Mô hình sản xuất lúa bền vững
- Nâng cao hiệu quả lao động cho nông dân
-
THÁCH THỨC
- Thị trường không ổn định
- Suy thoái môi trường
- Sự hợp tác của người dân với doanh nghiệp còn hạn chế
- Xâm nhập mặn
- Thị trường không ổn định
- Suy thoái môi trường
Trang 9Bên cạnh đó, nông hộ tham gia cánh đồng lớn
chỉ nhận hỗ trợ về vật tư nông nghiệp ở mức khá
thấp gây khó khăn cho nông hộ trong việc lựa chọn
sử dụng thuốc bảo vệ thực vật chính hãng Việc sử
dụng thuốc bảo vệ thực vật đồng loạt cùng một thời
điểm gây tác động tiêu cực đến môi trường tự
nhiên Do đó, doanh nghiệp cần hỗ trợ cung ứng
vật tư nông nghiệp, hướng dẫn nông hộ ghi nhật ký
nội đồng, theo dõi và hỗ trợ kịp thời tránh việc tồn
đọng, chậm trễ trong thu mua lúa cuối vụ Ngoài
ra, cần khuyến cáo nông hộ lựa chọn các loại nông
dược ít gây tác động đến môi trường và sử dụng
đúng liều lượng theo hướng dẫn của chuyên gia tư
vấn Thêm vào đó, việc bơm nước tập trung còn
hạn chế do bề mặt các thửa ruộng có độ cao không
bằng nhau gây khó khăn trong việc cung cấp lượng
nước phù hợp cho từng thửa ruộng Để giải quyết
vấn đề này, hiện tại cần tìm ra tiến trình bơm nước
phù hợp với đặc tính độ cao của từng thửa ruộng và
trong tương lai nên sử dụng biện pháp kỹ thuật san
lấp bề mặt các thửa ruộng bằng phẳng với nhau
nhằm phát triển mô hình cánh đồng lớn hiệu quả
tối ưu
Tóm lại, mô hình cánh đồng lớn đã cải thiện
hơn mô hình truyền thống về nhiều chỉ tiêu trong
mục tiêu kinh tế và xã hội Mặc dù hiệu quả về
mục tiêu môi trường còn hạn chế nhưng nhìn
chung cánh đồng lớn đã khẳng định là một phương
thức sản xuất lúa tiên tiến góp phần tạo động lực
phát triển nông nghiệp cho thị xã Ngã Năm
4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
Mô hình cánh đồng lớn mang lại hiệu quả tổng
hợp kinh tế - xã hội - môi trường cao hơn so với
mô hình sản xuất truyền thống Trong đó, mô hình
cánh đồng lớn có hiệu quả cao về mục tiêu kinh tế
và xã hội nhưng hiệu quả mục tiêu môi trường còn
hạn chế Ngoài ra, mô hình sản xuất truyền thống
có điểm hiệu quả 3 mục tiêu cân bằng hơn so với
mô hình cánh đồng lớn
Bên cạnh đó, mô hình cánh đồng lớn đã cải
thiện hơn mô hình truyền thống về các chỉ tiêu
trong mục tiêu kinh tế và xã hội Mặc dù hiệu quả
về mục tiêu môi trường còn hạn chế nhưng nhìn
chung cánh đồng lớn đã khẳng định là một phương
thức sản xuất lúa tiên tiến góp phần tạo động lực
phát triển nông nghiệp cho thị xã Ngã Năm
Tuy nhiên, do giới hạn thời gian và kinh phí
thực hiện nên nghiên cứu chưa định lượng điểm
hiệu quả mục tiêu môi trường nhằm tăng tính chính
xác cho kết quả
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012 Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng 2012
Godden, B, 2004 Sample Size Formulas, accessed on
19 May 2017 Available at http://williamgodden.com/samplesizeformula.pdf FAO, 2007 Land evaluation: Towards a revised framework Electron Publ policy Support branch: 124
Lê Cảnh Dũng và Võ Văn Tuấn, 2014 Nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện 1 phải 5 giảm trong canh tác lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 7: 27–36 Likert, R, 1932 A technique for the measurement of attitudes Arch Psychol 22 140: 55, accessed on
19 May 2017 Available at http://psycnet.apa.org/psycinfo/1933-01885-001 Nguyễn Thanh Bình, Lâm Huôn và Thạch Sô Phanh,
2012 Đánh giá tổn thương có sự tham gia: Trường hợp xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ 24(b): 229–239
Nguyễn Thị Mỹ Linh, Nguyễn Văn Bé, Văn Phạm Đăng Trí, Mai Thị Hà và Phạm Lê Mỹ Duyên,
2014 Phân vùng sinh thái nông nghiệp dựa trên đặc tính tài nguyên nước mặt tại tỉnh Sóc Trăng Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ 30: 84–93 Nguyễn Thị Song Bình và Ngô Thị Thanh Hằng,
2013 Hiệu quả kinh tế xã hội các mô hình canh tác triển vọng trên vùng đất phèn tại xã Vĩnh Thắng, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ 26 (2013): 149-154
Nguyễn Trần Khánh, Trần Thị Lệ Hằng, Nguyễn Thị Kiều Diễm và Văn Phạm Đăng Trí, 2015 Công tác quản lý nguồn tài nguyên nước mặt trong sản xuất nông nghiệp vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long dưới tác động của biến đổi khí hậu Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ Môi trường: 159–166
Phạm Thanh Vũ, Nguyễn Trang Hoàng Như, Vương Tuấn Huy và Lê Quang Trí, 2013 Xác định các yếu tố kinh tế - xã hội và môi trường ảnh hưởng đến việc lựa chọn mô hình canh tác trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ 27 (2013): 68-75
Phạm Văn Mến, 2015 Đánh giá hiệu quả tài chính của nông hộ trồng lúa trong và ngoài mô hình cánh đồng lớn ở thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng Bậc tốt nghiệp cao học Trường Đại học Cần Thơ Cần Thơ
Roãn Ngọc Chiến, 2001 Đánh giá đất đai cho việc
sử dụng đất đai đa mục tiêu trong phát triển kinh
tế ở xã Trung Hiếu, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long Bậc tốt nghiệp cao học Trường Đại học Cần Thơ Cần Thơ
Sharifi, M A., 1990 Introduction to Multi-criteria Evaluation Techniques ITC, Enschede 85p
Trang 10Thái An Hòa, 2003 Các kỹ thuật và biện pháp tổ
chức nghiên cứu, điều tra, phỏng vấn, lấy số liệu
trong nghiên cứu nông thôn Trong: Chương
trình nghiên cứu Việt Nam và Hà Lan Cơ sở lý
thuyết và thực tiễn phát triển nông thôn bền
vững NXB Nông nghiệp Hà Nội
Tổng cục Thống kê, 2015 Niên giám Thống kê
2015 Nhà xuất bản Thống kê
Trần Thục, Nguyễn Văn Thắng, Huỳnh Thị Lan
Hương, Mai Văn Khiêm, Nguyễn Xuân Hiển và
Doãn Hà Phong, 2016 Kịch bản Biến đổi Khí
hậu và Nước biển dâng cho Việt Nam
Trần Văn Tỷ, Trần Minh Thuận và Lê Anh Tuấn,
2016 Tài nguyên nước Đồng bằng sông Cửu Long
- Hiện trạng và Giải pháp sử dụng bền vững
Văn Phạm Đăng Trí, 2001 Ứng dụng một số phương
pháp đánh giá đa mục tiêu cho quy hoạch sử
dụng đất đai ở xã Trung Hiếu, huyện Vũng Liêm,
tỉnh Vĩnh Long Bậc tốt nghiệp đại học Trường Đại học Cần Thơ Cần Thơ
Võ Văn Tuấn và Lê Cảnh Dũng, 2015 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả sinh kế của nông hộ ở Đồng bằng sông Cửu Long Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ 38: 120–129
Quốc Hội, 2011 Nghị quyết số: 21/2011/QH13, ngày 26/11/2011 "Về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIII", truy cập ngày 18/08/2017 Địa chỉ:
https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Linh-vuc- khac/Nghi-quyet-21-2011-QH13-chat-van-va-tra-loi-chat-van-tai-ky-hop-thu-2-132453.aspx Wassmann, R., N.X Hien, C.T Hoanh, and T.P Tuong, 2004 Sea level rise affecting the Vietnamese Mekong Delta: Water elevation in the flood season and implications for rice production Climate Change 66(1–2): 89–107