1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa huyện Phổ Yên

160 678 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Đất Nông Nghiệp Trong Quá Trình Đô Thị Hóa Huyện Phổ Yên
Tác giả Lê Thanh Minh
Người hướng dẫn TS. Đỗ Quang Quý
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 4,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa huyện Phổ Yên

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

LÊ THANH MINH

ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH

ĐÔ THỊ HÓA HUYỆN PHỔ YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

CHUYÊN NGÀNH: KINH T Ế NÔNG NGHIỆP

MÃ SỐ: 60 - 31 - 10

Người hướng dẫn khoa học: TS ĐỖ QUANG QUÝ

THÁI NGUYÊN - 2008

Trang 2

LÊ THANH MINH

ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH

ĐÔ THỊ HÓA HUYỆN PHỔ YÊN

LU Ậ N V Ă N TH Ạ C S Ĩ KINH T Ế

THÁI NGUYÊN - 2008

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng và bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn

gốc

Thái Nguyên ngày 02 tháng 01năm 2009

Người viết cam đoan

Lê Thanh Minh

Trang 4

Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay tôi đã hoàn thành luận văn

thạc sĩ Kinh tế nông nghiệp với đề tài: “ Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá huyện Phổ Yên”

Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy giáo, cô giáo và đặc biệt là

thầy cô giáo trong khoa, những người đã tận tình dạy bảo, giúp đỡ và định hướng cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học

Tôi xin trân trọng cảm ơn ban lãnh đạo, huyện phòng địa chính, phòng thống

kê, phòng nông nghiệp, ban lãnh đạo các xã cùng với nhân dân huyện Phổ Yên đã cung cấp những số liệu cần thiết giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu tại địa bàn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo Ts.Đỗ Quang Quý, người đã định hướng, chỉ bảo và dìu dắt tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài

Tôi xin bày tỏ lồng biết ơn đến các tập thể, cá nhân, bạn bè và người thân đã

chỉ bảo, giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt thời gian quá trình học tập và nghiên cứu khoa học

Thái Nguyên, ngày 02 tháng 01năm 2009

Tác giả luận văn

Lê Thanh Minh

Trang 5

M ỤC LỤC

Chương I: LÝ LU ẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÔ THỊ HOÁ VỚI

HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP

4

1 Tổng quan tư liệu về đô thị hoá với hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp… 4

1.1 Đô thị hoá……… 4

1.2 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp……… 8

1.2.1 Vai trò và đặc điểm của sản xuất nông nghiệp 9

1.2.2 Quá trình phát triển nông nghiệp……… 13

1.2.3 Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá 15

1.2.4 Những điều kiện cơ bản quyết định phát triển nông nghiệp hàng hoá 15

1.2.5 Các giai đoạn phát triển nông nghiệp hàng hoá 16

1.2.6 Phát triển kinh tế trang trại là hướng đi tất yếu của nền nông nghiệp hàng hoá 17

1.3 Kinh nghiệm tiễn đô thị hoá với hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 21

1.3.1 Trên thế giới 21

1.3.2 Ở Việt Nam 24

1.4 Phương pháp nghiên cứu 34

Trang 6

1.4.2 Các phương pháp chủ yếu sử dụng để nghiên cứu 34

Chương II: THỰC TRẠNG ĐÔ THỊ HOÁ VỚI SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN PHỔ YÊN……… 38

2.1 Đặc điểm của huyện Phổ Yên 38

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 38

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội huyện Phổ Yên 42

2.1.3 Đánh giá chung về đặc điểm của huyện Phổ Yên……… 55

2.1.4 Đánh giá về điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội của các hộ nông dân ở 2 vùng nghiên cứu 57

2.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp……… 59

2.2.1 Đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp của Phổ Yên……… 59

2.2.2 Biến động số lượng và cơ cấu đất nông nghiệp giai đoạn 2004-2006 60

2.2.3 Biến động diện tích, năng suất một số loại cây trồng trên đất nông nghiệp giai đoạn 2004-2006……… 63

2.3 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của các hộ nghiên cứu……… 69

2.3.1 Cách bố trí cây trồng trên đất nông nghiệp của các hộ……… 69

2.3.2 Hiệu quả sử dụng đất trồng cây hàng năm……… 71

2.3.3 Hiệu quả trên đất nông nghiệp trồng cây lâu năm 90

Chương III: QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHỔ YÊN……… 100

3.1 Vấn đề quy hoạch cho đô thị hoá……… 100

3.1.1 Quan điểm sử dụng đất đến năm 2010 và tầm nhìn 2015 100

3.1.2 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp trong thời kỳ 2006 đến 2010…… 101

3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 102

3.2.1 Giải pháp chung……… 102

3.2.2 Giải pháp cụ thể……… 106

KẾT LUẬN. 112

Trang 7

DV

GT GTSL GTSX HSSDRĐ

TP TTCN XDĐT

: : : : : : : : : : : : : : : : : : : : : : :

Đô thị Hoá Bình quõn

Cơ cấu

Cụng nghiệp Chi phớ Canh tỏc

Diện tớch

Diện tớch gieo trồng

Dịch vụ

Giỏ trị Giá trị sản lượng

Giỏ trị sản xuất

Hệ số sử dụng ruộng đất Lao động

Lương thực

Nụng nghiệp

Số lượng Thương mại Thu nhập hỗn hợp

Thực phẩm

Tiểu thủ cụng nghiệp Xây dựng đô thị

Trang 8

Bảng 1.1 Quy mô đất đai bình quân trang trại ở một số nước 18

Bảng 1.2 Các hình thức tổ chức quản lý trang trại ở Mỹ 20

Bảng 1.3 Chỉ số phát triển giá trị tổng sản lượng nông nghiệp 28

Bảng 1.4 Chỉ số phát triển diện tích và sản lượng một số cây trồng chính 28

Bảng 1.5 Chỉ số phát triển số đầu gia súc 28

Bảng 2.1 Tăng trưởng kinh tế huyện Phổ Yên thời kỳ 2004-2006 42

Bảng 2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Phổ Yên thời kỳ 2004-2006 43

Bảng 2.3 Giá trị sản xuất, tốc độ tăng trưởng và cơ cấu ngành nông

nghiệp huyện Phổ Yên giai đoạn 2004-2006 44

Bảng 2.4 Một số chỉ tiêu sản xuất công nghiệp huyện Phổ Yên thời kỳ

Bảng 2.5 Dân số, lao động của huyện Phổ Yên giai đoạn 2004-2006 51

Bảng 2.7 Phân tích SWOT cho 2 vùng đất nông nghiệp ở huyện Phổ Yên 57

Bảng 2.8 Đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp của Phổ Yên năm 2006 59

Bảng 2.9 Biến động số lượng và cơ cấu đất nông nghiệp giai đoạn

Bảng 2.10 Diện tích, năng suất một số cây trồng chính trên đất hàng 65

năm, Phổ Yên giai đoạn 2004-2006

Bảng 2.11 Diện tích, năng suất một số cây trồng chính trên đất lâu 67

năm huyện Phổ Yên, giai đoạn 2004-2006

Bảng 2.12 Thông tin cơ bản về các hộ nghiên cứu huyện Phổ Yên 70

năm 2006

Bảng 2.13 Mức chi phí cho một số cây trồng chủ yếu trên 1 ha gieo trồng 72

đất hàng năm của từng nhóm hộ nghiên cứu năm 2006

Bảng 2.14 Hiệu quả kinh tế của đất hàng năm theo các cây trồng và 74

mức sống của hộ nông dân năm 2006

Bảng 2.15 Hiệu quả kinh tế của đất hàng năm theo phương thức sản 78

Trang 9

Bảng 2.16 Hiệu quả kinh tế của đất hàng năm theo một số cây trồng 81

chính và theo mức sống của hộ nông dân

Bảng 2.17 Hiệu quả kinh tế của đất hàng năm theo phương thức sản 83

xuất và mức sống của hộ, năm 2006

Bảng 2.18 Hiệu quả kinh tế của một cây trồng trên đất 1 vụ 85

Bảng 2.19 Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả xã hội từ hoạt động sản xuất 88

trên đất hàng năm qua nghiên cứu ở các hộ nông dân huyện

Bảng 2.20 Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả môi trường từ hoạt động sản 89

xuất trên đất hàng năm qua nghiên cứu ở các hộ nông dân

Bảng 2.21 Diện tích, năng suất, sản lượng chè của các hộ điều tra 91

Bảng 2.22 Hiệu quả kinh tế của cây chè trên đất trồng cây lâu năm 92

Bảng 2.23 Diện tích, năng suất, giá trị sản lượng vải của các nhóm 93

hộ điều tra

Bảng 2.24 Hiệu quả kinh tế của cây vải 93

Bảng 2.25 Diện tích, năng suất, giá trị sản lượng nhãn của các

Bảng 2.26 Hiệu quả kinh tế của cây nhãn 95

Bảng 2.27 Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả xã hội từ hoạt động sản xuất 98

trên đất lâu năm qua nghiên cứu các hộ nông dân huyện Phổ

Bảng 2.28 Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả môi trường từ hoạt động

sản xuất trên đất lâu năm qua nghiên cứu các hộ nông dân

Bảng 3.1 Cơ cấu cây trồng và quy mô sử dụng 107

Bảng 3.2 Hiệu quả kinh tế của mô hình 1 108

Bảng 3.3 Cơ cấu cây trồng và quy mô sử dụng đất 108

Bảng 3.4 Hiệu quả kinh tế của mô hình 109

Bảng 3.5 Bảng 3.5 Cơ cấu cây trồng và quy mô sử dụng đất 109

Trang 11

M Ở ĐẦU

1 Tính c ấp thiết của đề tài

Đô thị hoá là hệ quả tất yếu của nền kinh tế phát triển theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở bất luận quốc gia nào trên thế giới Điều này cũng

có nghĩa là đô thị hoá càng phát triển thì quỹ đất của xã hội giành cho nông nghiệp càng có xu hướng giảm Vấn đề đặt ra, làm thế nào để sử dụng quỹ đất

- nguồn lực khan hiếm của xã hội hiệu quả nhất trong tiến trình đô thị hoá

Thực tế đã chứng minh rằng, kinh tế xã hội phát triển sẽ kéo theo sự thay đổi về mọi mặt của mỗi một địa phương hay quốc gia Đó không chỉ là những

sự thay đổi về mặt kinh tế, xã hội mà còn ảnh hưởng đến văn hóa, không gian, môi trường, khoa học kỹ thuật, sự phân công lao động, phân bố dân cư… Ngày nay, với xu hướng toàn cầu hóa của phát triển kinh tế xã hội, lợi ích của các quốc gia ngày càng phụ thuộc lẫn nhau thì đô thị hóa cũng ngày càng mang tính toàn cầu hơn Những lợi ích mà đô thị hóa mang lại là không thể

phủ nhận song bên cạnh đó, đô thị hóa cũng có những mặt tiêu cực của nó như: Thu hẹp diện tích đất canh tác trong nông nghiệp, các nguy cơ đe dọa đến môi trường… Để đảm bảo lợi ích của mình, các quốc gia không chỉ quan tâm tới việc giải quyết các vấn đề đô thị hóa của mình mà còn phải giúp đỡ các quốc gia khác giải quyết vấn đề đô thị hoá và những ảnh hưởng của nó

Việt Nam với dân số gần 83.12 triệu người, là một trong những quốc gia đông dân trong khu v ực và trên thế giới Diện tích đất tự nhiên là 329314.5 km2

,

mật độ bình quân đạt 252 người/km2, cao hơn rất nhiều so với bình quân của

thế giới

Những năm gần đây, kinh tế nước ta đã có những bước tiến đáng kể, đời

sống của nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao, GDP hàng năm tăng trên 7% Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được củng

cố Đến ngay, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với hơn 140 nước, có quan

Trang 12

hệ đầu tư với hơn 70 nước và vùng lãnh thổ, là thành viên của nhiều tổ chức khu vực và quốc tế (ASEAN, AFTA… và gần đây nhất là tổ chức Thương

mại thế giới WTO) Thế và lực mới mang lại cho chúng ta nhiều cơ hội nhưn

Trong bối cảnh phát triển đô thị đang trở thành vấn đề toàn cầu, Việt Nam luôn chú trọng đến mọi ng uồn lực để nâng cấp đô thị và cải thiện môi trường sống và bước đầu đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Mạng lưới đô thị không ngừng được mở rộng và phát triển, 70% dân số được sử

dụng nước sạch, Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 10% xuống còn 2% Tuy nhiên, theo đánh giá của thế giới, Việt Nam vẫn là nước đang phát trển ở trình độ

thấp Việt Nam phấn đấu đến năm 2010, tỷ lệ đô thị hóa đạt 30 - 35% và đến 2020 là 43 - 45%

Phổ Yên là huyện nằm xa thành phố Thái Nguyên, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, song được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và của chính quyền địa phương, quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đã và đang đạt được

những thành tựu đáng kể Bộ mặt kinh tế xã hội có nhiều thay đổi, đời sống nhân dân ngày một được cải thiện Tuy nhiên mặt trái của đô thị hóa cũng bắt đầu xuất hiện, môi trường đã có dấu hiệu bị ô nhiễm, các hoạt động như chuyển đổi mục đích sử dụng đất, lấy đất để xây dựng các công trình phúc lợi, công cộng khiến diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp, trong khi dân số tăng nhanh khiến nhu cầu về đất ở cũng như đất sản xuất ngày càng lớn, rừng ngày càng bị khai thác cạn kiệt, những hành vi lấn chiếm hủy hoại đất vẫn chưa được ngăn chặn kịp thời… Từ đó đòi hỏi phải có những biện pháp thích

hợp nhằm sớm ngăn chặn, khắc phục những tác động có ảnh hưởng xấu đến s¶n xuÊt n«ng nghiÖp và quá trình đô thị hóa ở địa phương, đẩy nhanh việc sử

dụng đất đai có hiệu quả Đó chính là lý do tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Nâng

Trang 13

cao hi ệu quả, sử dụng đất nụng nghiệp trong quỏ trỡnh đụ thị hoỏ huyện

Ph ổ Yờn”

2 M ục đớch nghiờn cứu

- Tổng quan tài liệu về ĐTH và việc sử dụng đất nụng nghiệp núi chung và ở Ph ổ Yờn núi riờng: những vấn đề lý luận từ cỏc nguồn tài liệu cựng những kinh nghiệm thực tiễn của cỏc quốc gia, cỏc vựng, địa phương trong nước

- Đỏnh giỏ thực trạng ĐTH ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng đất nụng nghiệp huyện Phổ Yờn để thấy được những tỏc động tớch cực, hạn chế và tỡm

ra những nguyờn nhõn ảnh hưởng: ĐTH với quỹ đất nụng nghiệp; ĐTH với chuyển dịch cơ cấu cõy trồng, vật nuụi

- Đề xuất những giải phỏp thiết thực nhằm thỳc đẩy phỏt triển hiệu quả

sử dụng đất nụng nghiệp huyện Phổ Yờn phự hợp với tiến trỡnh ĐTH theo hướng tớch cực

3 Đối tượng nghiờn cứu

- Những vấn đề lý luận và thực tiễn liờn quan đến đụ thị húa và hiệu quả

sử dụng đất nụng nghiệp huyện Phổ Yờn

- Nõng cao hiệu quả, sử dụng đất nụng nghiệp trong quỏ trỡnh đụ thị hoỏ huyện Phổ Yờn

4 Phạm vi nghiên cứu

- Về khụng gian: Nghiờn cứu trờn phạm vi địa bàn huyện Phổ Yờn

- Về thời gian: Nghiờn cứu nguồn số liệu từ 2004- 2006

- Về nội dung: Nghiờn cứu vấn đề nõng cao hiệu quả, sử dụng đất nụng nghiệp trong quỏ trỡnh đụ thị hoỏ huyện Phổ Yờn

Trang 14

Chương I

1.1 T ỔNG QUAN TƯ LIỆU VỀ ĐÔ THỊ HOÁ VỚI HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP

về diện tích cũng như dân số Và do đó làm thay đổi tương quan dân số thành

thị và nông thôn; vai trò chính trị, kinh tế, văn hoá của thành phố; môi trường

sống…[5] Đô thị hoá là xu hướng tất yếu của xã hội phát triển; đồng thời như

vậy, thì quỹ đất của xã hội giành cho đô thị hoá phải tăng lên: Các ngành phi nông nghiệp, kết cấu hạ tầng, khuân viên đô thị, khu dân cư… Đây là vấn đề

cạnh tranh gay gắt quỹ đất của xã hội nói chung và của nông nghiệp nói riêng

- “Đô thị hóa là một hiện tượng kinh tế xã hội liên quan đến những

-các trung tâm đô thị, đẩy mạnh sự phát triển kinh tế qua đó làm điểm tựa cho các thay đổi trong đời sống văn hóa xã hội, làm nền cho một sự phân bố dân cư hợp lý nhằm đáp ứng những

Trang 15

nhu cầu ngày càng phong phú và đa dạng để tạo thế cân bằng động giữa môi

trường xây dựng, môi trường kinh tế và thiên nhiên”

- “Đô thị hóa là sự thay đổi trật tự sắp xếp một vùng nông thôn theo các điều kiện của thành phố Đây là một trong những biện pháp nhằm biến nông thôn thành nơi làm việc hấp dẫn, có điều kiện áp dụng những tiến bộ khoa học

kỹ thuật, đáp ứng những nhu cầu về nông sản phẩm cho xã hội, góp phần vào tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên nó phụ thuộc vào điều kiện của mỗi nước, mỗi vùng, mỗi địa phương”

Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, tính theo tỷ lệ phần trăm giữa số dân đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực Nó cũng có thể tính theo tỷ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo

thời gian Nếu tính theo cách đầu thì nó còn được gọi là mức độ đô thị hoá; còn theo cách thứ hai, nó có tên là tốc độ đô thị hoá

Các nước phát triển (như tại châu Âu, Mỹ hay Úc) thường có mức độ

đô thị hoá cao (trên 80%) hơn nhiều so với các nước đang phát triển (như Việt Nam hay Trung Quốc) (khoảng 30%) Đô thị các nước phát triển phần lớn đã

ổn định nên tốc độ đô thị hóa thấp hơn nhiều so với trường hợp các nước đang phát triển

Theo khái niệm của ngành địa lý, đô thị hoá đồng nghĩa với sự gia tăng không gian hoặc mật độ dân cư hoặc thương mại hoặc các hoạt động khác trong khu vực theo thời gian Các quá trình đô thị hóa có thể bao gồm: Sự mở

rộng tự nhiên của dân cư hiện có Thông thường quá trình này không phải là tác nhân mạnh vì mức độ tăng trưởng dân cư tự nhiên của thành phố thường

thấp hơn nông thôn Sự chuyển dịch dân cư từ nông thôn ra thành thị, hoặc như là sự nhập cư đến đô thị, sự kết hợp của các yếu tố trên

Có thể nói, Đô thị hoá là sự mở rộng dân cư đô thị gắn với sự thu hẹp

quỹ đất nông nghiệp dẫn tới những thay đổi trong phát triển nông nghiệp,

những thay đổi về xã hội và môi trường sinh thái

Trang 16

Đô thị hoá - thách thức môi trường toàn cầu Hiện cứ 3 người dân đô thị

có 1 người sống trong khu ổ chuột Hầu như rất nhiều đô thị đang mở rộng trên

thế giới không an toàn về môi trường Đó là sự gia tăng nhanh chóng những người sống trong đô thị đói nghèo và thất nghiệp cho đến tội phạm và ma tuý

Theo báo cáo của Liên Hợp Quốc, trong một phần tư thế kỷ tới, tăng dân số hầu như sẽ chỉ diễn ra ở các thành phố, mà phần lớn thuộc các nước kém phát triển Đến năm 2030, hơn 60% dân số thế giới sống ở các đô thị Đô

thị hoá nhanh đang bộc lộ những thách thức sâu sắc, từ đói nghèo và thất nghiệp cho đến tội phạm và ma tuý

Tại Việt Nam, quá trình đô thị hoá cũng tuân theo quy luật của thế giới Năm 1990, cả nước mới có khoảng 500 đô thị lớn nhỏ, đến năm 2000 đã tăng lên 649 và năm 2003 là 656 đô th ị Tỷ lệ dân số đô thị hiện nay dưới 40%, theo quy hoạch phát triển đến năm 2010, tỷ lệ đó sẽ đạt 56 - 60%, đến năm 2020 là 80% Tác động của đô thị hoá, công nghiệp hoá gây ô nhiễm môi trường không

những trong đất liền mà còn tác động mạnh tới môi trường ven biển

Hệ thống sông ngòi Việt Nam, gồm 8 lưu vực với 10.000 km2

sông ngòi, kênh rạch, đang bị ô nhiễm ở mức báo động Dân số gia tăng khiến hệ

thống cấp thoát nước ở các đô thị xuống cấp nghiêm trọng Dự báo đến năm

2010, các đô thị vẫn sử dụng hệ thống thoát nước chung và xử lý nước phân tán ở các bể tự hoại, tức là chỉ xử lý được 30% lượng chất lơ lửng và 5-10% lượng BOD

Cùng với quá trình đô thị hoá, phương tiện giao thông cơ giới ở nước ta tăng lên rất nhanh Giao thông vận tải đã trở thành một nguồn gây ô nhiễm chính đối với môi trường không khí ở đô thị, nhất là ở các thành phố lớn như

Hà Nội, TP HCM, Hải Phòng, Đà Nẵng Theo đánh giá của các chuyên gia môi trường, ô nhiễm không khí ở đô thị do giao thông vận tải gây ra chiếm tỷ

lệ khoảng 70% Đô thị hóa thúc đẩy phát triển xã hội nông thôn

Trang 17

Quá trình đô thị hóa nông thôn ở Việt Nam trong những năm gần đây

diễn ra với tốc độ khá nhanh, làm biến đổi bộ mặt kinh tế, văn hóa, xã hội và

kiến trúc trên cả nước Năm 1999, cả nước có khoảng 400 thị trấn, nay tăng lên khoảng 651 thị trấn Cuối những năm 90 của thé kỷ XX, dân số của thị

trấn từ 2.000 đến 30.000 người, nay khoảng dao động này từ 2.000 - 50.000 người Tỷ lệ dân số phi nông nghiệp của thị trấn phổ biến ở mức 30-40% vào

cuối những năm 90, nay đã lên mức 50-60% Năm 1998 có khoảng 60 đô thị

loại 4, nay tăng lên 84 đô thị

Theo Giáo sư Đặng Vũ Khiêu, nhà triết học, nhà nghiên cứu văn hóa

Quá trình đô thị hóa nông thôn đã biến nền sản xuất nông nghiệp độc canh trở thành nền sản xuất hàng hóa đa ngành nghề Lối sống thành phố du nhập vào nông thôn rất nhanh, tác động lớn tới cuộc sống, phong tục tập quán thôn quê

Việt Nam và những giá trị văn hóa truyền thống lâu đời

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Hoàn g Đạo Kính, Kiến trúc sư, Phó Chủ tịch

thường trực Hội Kiến trúc sư Việt Nam quá trình đô thị hóa, thôi thúc sự phát

triển kinh tế chưa từng thấy, bắt đầu thực sự can thiệp, tác động đến cơ sở xóm làng Về phương diện kiến trúc, rõ ràng nông thôn đang ít dần những căn nhà hai mái thấp lè tè, vươn lên xây nhà hai đến ba tầng hoặc hơn thế nữa

Việc ăn, ở, sinh hoạt tiến dần tới kiểu đô thị

Đô thị hóa nông thôn không chỉ là xây nhà cao tầng, thay đường lát

gạch bằng bê tông mà là một công cuộc vận động xã hội sâu xa và đồng bộ

Đó là một quá trình tiến tới sự ngang bằng dần các tiêu chuẩn sống, tiện nghi

sống giữa thôn quê và đô thị Song, cùng với quá trình ấy là cuộc cách mạng

mạng khoa học - công nghệ của phương thức sản xuất đặc trưng nông thôn,

gắn liền với đồng ruộng và đất đai, là những nỗ lực nhằm duy trì môi trường

tự nhiên, môi trường sinh thái nông thôn Không có những nhân tố ấy, nông thôn không còn là nông thôn nữa Quá trình đô thị hóa nông thôn, đặc biệt là

kiến trúc và qui hoạch, hiện vẫn mang tính tự phát

Trang 18

Theo Phú giỏo sư, Tiến sĩ Lưu Đức Hải, Viện trưởng Viện Qui hoạch

Đụ thị và Nụng thụn, Bộ Xõy dựng Trước khi chuyển sang nền kinh tế thị

trường, quỏ trỡnh đụ thị húa ở Việt Nam diễn ra rất chậm chạp, nền kinh tế nụng nghiệp lạc hậu, nặng nề tớnh bao cấp và ảnh hưởng của chiến tranh chậm thay đổi Sau khi chuyển đổi cơ chế kinh tế từ bao cấp sang nền kinh tế thị trường, quỏ trỡnh đụ thị húa đó cú những chuyển biến nhanh hơn, đặc biệt trong những năm gần đõy khi tỡnh hỡnh cụng nghiệp húa trờn đất nước đang

diễn ra mạnh mẽ Tốc độ đụ thị húa (so với số dõn) ở Việt Nam khỏ nhanh: 18,5% (năm 1989); 20,5% (1997); 23,6% (1999) và nay là 25% Quỏ trỡnh đụ

thị húa nụng thụn hiện nay tập trung mạnh tại cỏc đụ thị lớn và diễn ra khụng đồng đều giữa cỏc vựng trong cả nước Chất lượng và trỡnh độ đụ thị húa nụng thụn cũn thấp Cơ sở hạ tầng xó hội và kỹ thuật đụ thị cũn yếu kộm về chất lượng phục vụ so với yờu cầu Định hướng phỏt triển khụng gian khu vực được đụ thị húa chưa rừ nột, đặc biệt cũn phỏt triển một cỏch tựy tiện, mang

nặng tớnh hỡnh thức đụ thị, chưa thực sự giải quyết vấn đề cốt lừi của đụ thị húa đối với khu vực dõn cư hiện cú: chưa gắn kết chất lượng đụ thị với giữ gỡn bản sắc, kiến trỳc truyền thống trờn cơ sở đảm bảo điều kiện tiện nghi

cuộc sống đụ thị cho người dõn và đảm bảo phự hợp về cảnh quan đụ thị

Tóm lại đô thị hoá diễn ra là tất yếu đối với nền kinh tế xã hội phát triển; đồng thời cũng không ít những thách thức Tổng thư ký LHQ, Kofi Annan, nhõn ngày Mụi trường Thế giới đã kờu gọi tất cả cỏc cỏ nhõn, doanh nghiệp, chớnh phủ và chớnh quyền địa phương hóy chấp nhận thỏch thức mụi trường đụ thị "Hóy tạo ra cỏc 'thành phố xanh' để con người cú thể nuụi dưỡng con cỏi và thực hiện cỏc ước mơ của mỡnh trong một mụi trường được quy hoạch hợp lý, sạch sẽ và trong lành"

Trang 19

1.1.2 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

1.1.2.1 Vai trò và đặc điểm của sản xuất nông nghiệp

* Khái quát về sản xuất nông nghiệp

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất quan trọng, sản phẩm của nông nghiệp cung cấp những nhu cầu thiết yếu cho con người và xã hội, đối tượng

của sản xuất nông nghiệp là những sinh vật sống sinh trưởng và phát triển theo quy luật vốn có của tự nhiên

Nông nghiệp là ngành sản xuất xuất hiện đầu tiên trong lịch sử phát triển của xã hội loài người Cuộc cách mạng công nghiệp mở ra vào cuối thế

kỷ XVIII, rồi cách mạng khoa học kỹ thuật giữa thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI

có nhiều ngành ra đời và phát triển lớn mạnh: Công nghiệp, xây dựng, thương

mại dịch vụ, viễn thông, công nghệ tin học… Mặc dù vậy, nông nghiệp vẫn là

một trong hai ngành sản xuất vật chất rất quan trọng

- Nông nghiệp sản xuất và cung cấp lương thực, thực phẩm cho nhu cầu thiết yếu của cuộc sống Nhiều sản phẩm của nông nghiệp: lương thực, thực

phẩm đều là những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của cuộc sống,

mặc dù với trình độ phát triển của khoa học ngày nay, vẫn không có một ngành sản xuất nào có thể thay thế được, thiếu những sản phẩm thiết yếu đó, con người không thể tồn tại và phát triển đ ược Ăng Ghen đã từng khẳng định: "trước hết con người cần phải có ăn, uống, ở và mặc, trước khi lo đến chuyện làm chính trị, khoa học, nghệ thuật và tôn giáo…", Việt Nam ta có câu "Có thực mới vực được đạo"

- Nông nghiệp cung cấp nguyên liệu cho công ngh iệp nhẹ và công nghiệp chế biến Các ngành công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến: công nghiệp giấy, công nghiệp dệt, công nghiệp rượu, bia, công nghiệp giầy da, công nghiệp dầu ăn, công nghiệp đồ hộp… sử dụng chủ yếu nguyên liệu đầu vào được sản xuất từ những sản phẩm của nông nghiệp Nền kinh tế càng phát

Trang 20

triển, nhu cầu sản phẩm thiết yếu của cuộc sống cần phải được chế biến đa

dạng hơn Bởi vậy, sự phát triển của ngành nông nghiệp có tác động thúc đẩy cho công nghiệp nhẹ; đặc biệt là công nghiệp chế biến cùng phát triển theo

- Nông nghiệp cung cấp hàng hoá xuất khẩu Do đặc thù của sản xuất nông nghiệp, mỗi Quốc gia có lợi thế phát triển cây trồng, vật nuôi khác nhau hình thành lợi thế so sánh giữa các Quốc gia về phát triển thương mại Quốc

tế Vì thế, các Quốc gia có lợi thế về phát triển nông nghiệp sẽ xuất khẩu nông

sản, tạo nguồn ngoại tệ cho đất nước, thúc đẩy kinh tế phát triển ở những nước đang trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nông nghiệp còn là nguồn tạo ra thu nhập về ngoại tệ hoặc có thể trao đổi lấy máy móc, trang thiết bị

- Nông nghiệp nông thôn là nguồn cung cấp sức lao động cho các ngành kinh tế khác Nền kinh tế càng phát triển đều có mức tăng tỷ trọng cả

về giá trị cũng như lao động của các ngành phi nông nghiệp; còn ngành nông nghiệp có xu hướng ngược lại Xu hướng này có tính quy luật là do sự tiến bộ khoa học kỹ thuật của các ngành tác động vào nông nghiệp; đồng thời những

tiến bộ kỹ thuật của bản thân nông nghiệp dẫn tới năng suất lao động trong nông nghiệp ngày càng tăng Khi năng suất trong nông nghiệp tăng, một bộ

phận lao động của nông nghiệp sẽ cung cấp cho các ngành phi nông nghiệp

Vì thế, nông nghiệp nông thôn là nguồn cung cấp sức lao động cho các ngành kinh tế khác

- Nông nghiệp nông thôn là thị trường tiêu thụ các sản phẩm hàng hoá

và dịch vụ của công nghiệp và các ngành kinh tế khác Nông nghiệp là một trong những nhân tố bảo đảm cho các ngành công nghiệp khác như công nghiệp hoá học, cơ khí, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, dịch vụ sản xuất

và đời sống phát triển Sự phát triển ổn định của nông nghiệp đòi hỏi phải cung cấp một lượng hàng ổn định về vật tư, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, máy móc nông cụ cũng như các mặt hàng tiêu dùng công nghiệp như vải, xà

Trang 21

phòng, đường Vì thế, nông nghiệp, nông thôn là thị trường tiêu thụ các sản

phẩm của các ngành công nghiệp và dịch vụ

- Nông nghiệp còn có tác dụng giữ gìn và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, củng cố và bảo vệ an ninh quốc phòng Phát triển nông nghiệp ở bất cứ nước nào, cũng gắn liền với việc sử dụng và quản lý các tài nguyên thiên nhiên như đất đai, nguồn nước, rừng, thực vật và động vật Một nền nông nghiệp phát triển, ngoài việc đảm bảo các vai trò nói trên, còn phải góp phần

giữ gìn và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường, chống giảm cấp các nguồn lực, mất đa dạng sinh học, chống ô nhiễm môi trường Đó là điều kiện

cần thiết cho sự phát triển một nền nông nghiệp ổn định và bền vững

Hơn nữa, do đặc thù của sản xuất nông nghiệp gắn liền với cuộc sống

của người nông dân Vì thế, ở đâu có sản xuất nông nghiệp thì ở đó có dân,

lực lượng nòng cốt giữ gìn an ning quốc phòng, bảo vệ tổ quốc

* Đặc điểm của ngành sản xuất nông nghiệp

Nông nghiệp là một ngành kinh tế đặc biệt, khác với công nghiệp và các ngành kinh tế khác ở lĩnh vực sản xuất, đầu tư và lưu thông hàng hoá Để phát triển đúng đắn nền nông nghiệp, việc xem xét và phân tích các đặc điểm

của ngành là rất cần thiết

- Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là sinh vật Trong khi đối tượng

sản xuất của công nghiệp phần lớn là các vật vô chi vô giác, thì nông nghiệp

có đối tượng sản xuất là sinh vật Sinh vật bao gồm các cây trồng, vật nuôi và các sinh vật khác Chúng có các quy luật tự nhiên riêng (sinh trưởng, phát triển, phát dục, diệt vong) và đồng thời lại chịu tác động rất nhiều từ ngoại

cảnh tồn tại độc lập với ý muốn chủ quan của con người Vì thế, trong công nghiệp con người có thể tác động vào đối tượng sản xuất ở bất cứ phạm vi và

mức độ nào theo ý muốn, thì trong nông nghiệp con người phải nhận thức cho được quy luật sinh học và quy luật tự nhiên để cho sinh vật phát triển theo

Trang 22

chiều hướng có lợi cho con người Mọi sự can thiệp phù hợp với quy luật sinh

học và quy luật tự nhiên là một yêu cầu quan trọng nhất của bất cứ một quá trình sản xuất nông nghiệp nào

- Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế được Trong công nghiệp, đất đai là nơi làm nền móng nhà xưởng, thì địa hình, chất lượng đất không ảnh hưởng nhiều đến năng suất và hiệu quả của ngành Còn trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế Thường thì không có sản xuất nông nghiệp nếu không có đất đai Đất đai được gọi là tư liệu sản xuất đặc biệt là vì nó vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động, vì đất đai chịu sự tác động của con người như cày, xới để có môi trường tốt cho sinh vật phát triển Đất đai là tư liệu lao động, vì nó phát huy như một công cụ lao động Con người dùng đất đai để

trồng cây và chăn nuôi Không có đất đai thì không có sản xuất nông nghiệp

Vì thế số lượng và chất lượng đất đai quy định lợi thế so sánh của mỗi vùng,

cũng như cơ cấu sản xuất của từng nông trại và cả vùng Hướng sử dụng đất quy định hướng sử dụng các tư liệu sản xuất khác Chỉ có thông qua đất đai, các tư liệu sản xuất mới tác động đến cây trồng, việc sử dụng đất đai đúng hướng còn quyết định đến hiệu quả sản xuất Từ đây, cần sử dụng đầy đủ và

hợp lý để vừa làm tăng năng suất đất đai, vừa giữ gìn và bảo vệ đất đai Quỹ đất đai phải được bảo tồn cho lợi ích trước mắt cũng như mục tiêu lâu dài

- Nông nghiệp được phân bố trên phạm vi không gian rộng lớn, phức

tạp và mang tính khu vực rõ rệt Tích tụ và tập trung cao là đặc điểm cơ bản

của sản xuất công nghiệp Trái lại, nông nghiệp được phân bố trên phạm vi không gian rộng lớn, ở đâu có đất, có người là ở đó có sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, đất đai là sản phẩm của tự nhiên, mỗi vùng rất khác nhau về địa hình, về khí hậu thời tiết, dẫn tới những khác nhau về quy hoạch và bố trí sản

xuất trên mỗi vùng, lãnh thổ Đặc điểm này do tính chất của đất đai quy định Hơn nữa, đất đất với tư cách là tư liệu sản xuất chủ yếu có địa bàn trải rộng

Trang 23

Tính chất này kéo theo sự đa dạng về địa hình, chất đất, nguồn nước, sinh vật

sống ở đó và thời tiết khí hậu Mỗi vùng có một hệ thống kinh tế - sinh thái riêng Do đó, mỗi vùng có lợi thế so sánh riêng, sinh vật phù hợp với lợi thế

so sánh ở từng vùng đó Vì thế, việc thực hiện sản xuất chuyên môn hoá gắn

liền với phát triển tổng hợp là đặc thù của mỗi vùng

- Sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ cao Các cây trồng, vật nuôi ngoài sự tác động trực tiếp của con người cần phải có thời gian tác động của

tự nhiên nữa, quá trình kết hợp đó không ăn khớp nhịp nhàng, mà xen kẽ nhau, do vậy trong nông nghiệp có lúc thời vụ nhàn rỗi và có lúc rất căng

thẳng

Để giảm bớt tính thời vụ, chúng ta cần giải quyết tốt các vấn đề kinh tế

- kỹ thuật như bố trí sản xuất chuyên môn hoá kết hợp với phát triển tổng hợp,

mở rộng thêm các ngành nghề, đa dạng hoá trong kỹ năng lao động và đa

dạng hoá trong trang bị công cụ lao động có tính vạn năng Về kỹ thuật cần tìm cây trồng, vật nuôi có thời gian sinh trưởng ngắn để có thể sản xuất nhiều

vụ trong năm

1.1.2.2 Quá trình phát tri ển nông nghiệp

Nông nghiệp là ngành sản xuất xuất hiện đầu tiên của xã hội loài người Quá trình phát triển c ủa ngành nông nghiệp luôn vận động phù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế xã hội: phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội Quá trình phát triển nông nghiệp cho tới nay được chia thành 3 giai đoạn: giai đoạn sản xuất theo hình

thái tự nhiên, đây là giai đoạn sản xuất mang tính chất tự cung tự cấp; giai đoạn chuyển thể từ sản xuất tự nhiên lên sản xuất hàng hoá, giai đoạn này sản

xuất nông nghiệp đã có một phần dư thừa để bán, để trao đổi; giai đoạn chuyên sản xuất hàng hoá, là đỉnh cao của sản xuất nông nghiệp, giai đoạn này sản xuất nông nghiệp chủ yếu là bán để thu được tiền Vì thế, để đánh giá

Trang 24

quá trình phát triển nông nghiệp, ta căn cứ chỉ tiêu sản xuất hàng hoá của nông nghiệp C ũng như các ngành kinh tế khác, sản xuất nông nghi ệp hàng hoá là để cho người khác sử dụng Vì thế phát triển nông nghi ệp hàng hoá cũng phải tuân thủ những yêu cầu của sản xuất hàng hoá nói chung; tuy nhiên ta c ần hiểu rõ đặc thù sản xuất nông nghiệp hàng hoá

* Đặc thù sản xuất nông nghiệp hàng hoá

tính phổ biến (nhiều người cùng sản xuất) Như vậy, mọi thông tin trên thị trường nông sản cả người bán, mua đều hiểu rất rõ Vì thế nó mang tính cạnh tranh gay gắt Điều này đòi hỏi người sản xuất cần hiểu rõ những diễn biến

của thị trường nông sản để lựa chọn sản phẩm cần sản xuất

nông sản hàng hoá đòi hỏi các ngành chế biến bảo quản cùng phát triển theo

Vì thế phát triển nông sản hàng hoá cũng là động lực thúc đẩy các ngành dịch

vụ, chế biến phát triển

kiện tự nhiên Điều này đòi hỏi người sản xuất phải bố trí từng sản phẩm phù

hợp với điều kiện sinh thái mỗi vùng, địa phương Đồng thời nó cũng tạo ra

thị trường khu vực Vì thế để nông sản hàng hoá phát triển cần phải tăng khả năng lưu thông hàng hoá nông sản - nghĩa là cần có sự quan tâm của Nhà nước để phát triển hệ thống giao thông, mở rộng thị trường phục vụ cho nhu

cầu trong nước và xuất khẩu

- Khối lượng nông sản hàng hoá: là phần khối lượng nông sản phẩm

sản xuất ra đem bán hoặc trao đổi trên thị trường (không tính phần nông sản

phẩm tiêu dùng nội bộ), nó nói lên mức độ đóng góp sản phẩm hàng hoá của nông nghiệp cho xã hội

Trang 25

Như vậy, sản phẩm hàng hoá sản xuất ra phải đem trao đổi, phải tiêu

thụ được và phải có lãi, do đó bắt buộc hộ phải suy nghĩ, phải tính toán lựa

chọn sản phẩm hàng hoá chứ không thể sản xuất theo kiểu tự cấp, tự túc được chăng hay chớ Vì vậy sản phẩm hàng hoá của nông hộ sản xuất ra càng nhiều

chứng tỏ trình độ chuyên môn hoá, trình độ và năng lực sản xuất của hộ càng cao, lượng hàng hoá lưu thông càng nhiều, thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển Chỉ tiêu này sử dụng để đánh giá trình độ sản xuất hàng hoá cho

từng loại sản phẩm

Tóm lại, để đánh giá thực chất tình hình phát triển nông sản hàng hoá, trong quá trình phân tích ta cần kết hợp chặt chẽ các chỉ tiêu trên (vừa phản ánh mặt hiện vật vừa phản ánh mặt giá trị, vừa phản ánh về mặt số lượng, vừa

phản ánh về mặt chất lượng của nông sản hàng hoá)

1.1.2.3 Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá

Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá phản ánh trình độ phát triển của nông nghiệp, nông thôn phù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế xã hội theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá Bởi vì sự phát triển gia tăng các sản phẩm hàng hoá chứng tỏ nền sản xuất xã hội phát triển, tăng

khả năng lưu thông hàng hoá trên thị trường, hệ thống giao thông, cơ sở hạ

tầng, dịch vụ, chế biến phát triển theo Hơn nữa nó còn thể hiện năng lực

sản xuất của chủ hộ đã được cải thiện (vốn, kỹ thuật, trình độ tổ chức quản lý) Cho nên việc phát tri ển nông nghiệp hàng hoá có ý nghĩa rất quan

trọng thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển Tuy nhiên để nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá cần phải có những điều kiện nhất định

1.1.2.4 Nh ững điều kiện cơ bản quyết định phát triển nông nghiệp hàng hoá

phải dám từ bỏ tập quán phương thức sản xuất tự cấp, tự túc để sản xuất sản

phẩm hàng hoá phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của thị trường (cái mà xã hội

Trang 26

cần) Nghĩa là người sản xuất sẵn sàng đầu tư cỏc nguồn lực để sản xuất

những sản phẩm thu lợi nhiều nhất, và họ cũng sẵn sàng bỏ tiền ra để mua trờn thị trường những sản phẩm đỏp ứng nhu cầu tiờu dựng của mỡnh mà họ

thấy bản thõn mỡnh tự sản xuất sẽ kộm hiệu quả

dựng ưa thớch, nghĩa là phải đỏp ứng được nhu cầu thị trường (phải cú người tiờu thụ, phải cú thị trường)

phải được vận chuyển từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ Vì thế muốn cho sản phẩm hàng hoá phát triển đòi hỏi cơ sở hạ tầng: hệ thống giao thông, thông tin, lưới điện phát triển theo nhằm tăng khả năng lưu thông hàng hoá giữa các vùng, quốc gia

1.1.2.5 Cỏc giai đoạn phỏt triển nụng nghiệp hàng hoỏ

Nghiờn cứu quỏ trỡnh phỏt triển nền nụng nghiệp hàng hoỏ, nhiều nhà kinh tế cho rằng quỏ trỡnh đú gồm ba giai đoạn[39, 18 - 19],[49, 30]:

- Giai đoạn nụng nghiệp tự cung, tự cấp: sản xuất nụng nghiệp chỉ phục

vụ cho nhu cầu của chớnh mỡnh, chủ yếu là sản phẩm lương thực và một số

sản phẩm khỏc Vỡ thế ở giai đoạn này cụng cụ lao động thụ sơ, sản xuất hoàn toàn dựa vào tự nhiờn, rủi ro cao, quy mụ sản xuất nhỏ chỉ đủ nuụi sống bản thõn mỡnh, khụng cú sản phẩm dư thừa nờn khụng cú sản phẩm hàng hoỏ, khụng cú sản phẩm trao đổi, khụng cú thị trường

- Giai đoạn đa dạng hoỏ sản xuất: nền nụng nghiệp đó phỏt triển ở mức cao hơn, cỏc loại sản phẩm phong phỳ hơn, hạn chế rủi ro, sản xuất cú sản

phẩm dư thừa, cú nhu cầu trao đổi, thị trường bắt đầu phỏt triển

- Giai đoạn nụng nghiệp sản xuất chuyờn mụn hoỏ: phỏt triển sản xuất ở trỡnh độ cao, nền sản xuất mang tớnh chất chuyờn mụn hoỏ cao, người sản xuất

Trang 27

chỉ kinh doanh một hoặc một vài sản phẩm Mục tiêu của người sản xuất không phải cho mình mà sản xuất để bán, để trao đổi nhằm thu lợi nhuận tối

đa Hình thức sản xuất này phù hợp với loại hình kinh tế trang trại có quy mô

sản xuất lớn, công nghệ hiện đại, năng suất lao động cao, vốn đầu tư cho

sản xuất lớn, khối lượng sản phẩm nhiều, lượng hàng hoá trao đổi trên

thị trường rất lớn Phấn đấu để phát triển kinh tế đạt trình độ ở giai đoạn này là mục tiêu của mỗi quốc gia

1.1.2.6 Phát tri ển kinh tế trang trại là hướng đi tất yếu của nền nông nghi ệp hàng hoá

Phân tích ở các nội dung trên cho thấy phát triển lo ại hình kinh tế trang trại đó là giai đoạn phát triển cao của nền KTHH trong nông nghiệp

Vì vậy phát triển kinh tế trang trại là hướng đi tất yếu của nông nghiệp hàng hoá

- Vai trò của kinh tế trang trại trong nền kinh tế xã hội, cho tới nay ngay cả những nước phát triển thì kinh tế trang trại vẫn là loại hình chủ yếu

của nông nghiệp, nông thôn [43], [53] ở Mỹ, trang trại gia đình chiếm tới 87% tổng số trang trại, 65% đất đai và gần 70% giá trị nông sản của cả nước

ở Tây Âu, hầu hết là trang trại gia đình Nước Pháp với 98000 trang trại đã

sản xuất nông sản nhiều gấp 2,2 lần so với nhu cầu trong nước, với tỷ suất hàng hoá về ngũ cốc là 95%, thịt, sữa 70 - 80%, rau quả trên 70% Hà Lan có

128000 trang trại trong đó 1500 trang trại trồng hoa chiếm 70% sản lượng hoa

sản xuất ở các nước châu á mặc dù trang trại gia đình chưa phát triển như ở các nước Tây Âu nhưng cũng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Nhật Bản với trên 4 triệu lao động ở các trang trại (3,7% dân số cả nước)

đã đảm bảo lương thực và thực phẩm cho 125 triệu người (về gạo 107%; thịt 81%; trứng 98%, sữa 89%, rau quả 76 - 95%, đường 94% nhu cầu của xã

hội) Malaysia các trang trại trồng cây công nghiệp hàng năm sản xuất 4 triệu

Trang 28

tấn dầu cọ bằng 75% sản lượng thế giới, 1,6 - 1,8 triệu tấn mủ cao su, 240.000

tấn ca cao, 72.000 tấn dừa quả và 23.000 tấn hồ tiêu [26]

- Điều kiện để phát triển kinh tế trang trại Kinh tế trang trại có ý nghĩa

vô cùng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, để mô hình kinh tế này phát triển cần phải có những điều kiện nhất định Ngoài những điều kiện chung để phát triển KTHH của nông hộ thì phát triển kinh tế trang trại còn phải có thêm

những điều kiện cụ thể sau:

+ Đất đai: là điều kiện cơ bản, là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thiếu được để phát triển kinh tế trang trại Song tuỳ theo tính chất và phương hướng sản xuất khác nhau mà yêu cầu quy mô đất đai khác nhau Nhưng dù

loại hình trang trại nào chăng nữa đều phải có quy mô diện tích lớn hơn nhiều

so với nông hộ cùng phương hướng sản xuất Thực tế của nhiều nước cho

thấy diện tích bình quân một trang trại rất khác nhau (bảng 1.1), có thể một vài héc - ta cho tới hàng trăm héc - ta, hàng ngàn héc - ta [26]

B ảng 1.1 Quy mô đất đai bình quân một trang trại ở một số nước

Italia

Hà Lan Đức Pháp Đan Mạch Anh

7,9 16,0 27,7 29,2 31,7 63,9

xuất kinh doanh, song đối với trang trại nó có ý nghĩa quyết định phát triển kinh tế trang trại Vì trang trại cần có lượng vốn đủ để cho quy mô sản xuất

lớn, đảm bảo khả năng áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất (khoảng

20 triệu đồng) [5 8] Vì thế để tạo nguồn vốn, Chính phủ cần có những

Trang 29

chính sách khuyến khích đầu tư, cho vay vốn tạo khả năng tích tụ vốn cho các chủ trang trại tạo dựng và phát triển kinh tế trang trại

+ Lao động: Do sản xuất của kinh tế trang trại có quy mô lớn, sản xuất

hàng hoá để bán là chủ yếu; vì thế cần phải có lao động thuê mướn (thường xuyên, thời vụ) [58] Điều này đòi hỏi người quản lý phải có trình độ, năng

lực để tổ chức điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, tức là họ phải có nghệ thuật "dám kinh doanh và biết làm giàu" ở nhiều nước, muốn trở thành

chủ trang trại được Nhà nước công nhận trình độ quản lý và tư cách pháp nhân thì phải tốt nghiệp các trường lớp đào tạo kỹ thuật và quản lý nông nghiệp, có kinh nghiệm từ lao động sản xuất kinh doanh một năm ở các trang

trại khác hoặc ngoài nước, có bằng tốt nghiệp về nông học, bằng lái ô tô, máy kéo, có kiến thức về kỹ thuật, kinh tế, thị trường, pháp luật [26]

+ Phải có sự trợ giúp của Nhà nước, tức là Nhà nước phải tạo ra môi trường kinh doanh ổn định: thực thi đồng bộ các chính sách đảm bảo cho trang trại phát triển ổn định, hạn chế rủi ro

- Đặc trưng của kinh tế trang trại: phát triển kinh tế của trang trại cũng

giống như các doanh nghiệp khác là nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận Tuy nhiên để phát triển kinh tế trang trại đạt hiệu quả cao, cần hiểu rõ đặc trưng

của kinh tế trang trại

trung hoá các sản phẩm và dịch vụ theo nhu cầu của thị trường Đây là đặc trưng cơ bản thể hiện sự khác biệt giữa kinh tế trang trại và kinh tế nông hộ

Vì vậy giá trị sản xuất và giá trị sản phẩm hàng hoá là chỉ tiêu đánh giá quy

mô trang trại, và tỷ suất hàng hoá đánh giá tính chất chuyên môn hoá của trang trại Thường các trang trại có tỷ suất hàng hoá khoảng 70% [58]

nông hộ Bởi vì kinh tế trang trại có lượng vốn đầu tư lớn, có khả năng cạnh

Trang 30

tranh với thị trường Do đó các trang trại luôn luôn thể hiện tính hơn hẳn kinh

tế nông hộ về khoa học và công nghệ sản xuất, năng suất lao động, chất lượng

sản phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh

đó chủ trang trại phải là người có năng lực có trình độ tổ chức để bố trí sản

xuất và sử dụng lao động hợp lý

giàu và có đủ những điều kiện cần thiết để làm giàu Tức là chủ trang trại phải tinh thông thị trường có "tầm nhìn xa" những diễn biến của thị trường để ứng

xử linh hoạt, kịp thời

- Các loại hình kinh tế trang trại Tuỳ theo đặc thù của mỗi quốc gia mà kinh tế trang trại phát triển cũng rất đa dạng và phong phú Có nhiều tiêu thức

để phân loại trang trại, song chủ yếu vẫn dựa vào những tiêu thức (tham khảo

một số cách phân loại của Mỹ trên bảng 1.2)

B ảng 1.2 Các hình thức tổ chức quản lý trang trại ở Mỹ

Lo ại trang trại S ố lượng Di ện tích

Giá tr ị nông sản

Trang 31

Số liệu trên bảng 1.2 cho thấy trang trại gia đình chiếm tỷ trọng lớn (86,88%), trang trại liên doanh và hợp doanh phát triển mạnh (liên doanh là 9,97%, hợp doanh 2,67%)

Có thể nói, có rất nhiều cách để phân loại trang trại, do đó tuỳ thuộc

mục tiêu phân tích mà lựa chọn cách phân loại thích hợp Song dù cách phân loại nào chăng nữa thì chỉ tiêu giá trị sản lượng và giá trị sản phẩm hàng hoá có ý nghĩa quyết định để đánh giá quy mô cũng như trình độ chuyên môn hoá của trang trại

phải năng động, dám nghĩ, dám làm, phải gánh chịu hậu quả trước những thành công và thất bại; phải có thị trường và cơ sở hạ tầng phát triển Việc hoàn thiện những điều kiện chính là mở đường cho kinh tế nông hộ phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá

cảnh và điều kiện kinh tế của mỗi vùng, quốc gia Đặc biệt phụ thuộc rất lớn vào trình độ phát triển công nghiệp hoá của quốc gia đó cùng với việc triển khai các chính sách có lợi cho phát triển nông nghiệp

hàng hoá, nó phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản

xuất, là mô hình kinh tế có vai trò quyết định quá trình chuyển từ KTTN lên KTHH trong nông nghiệp, nông thôn

1.1.3 Kinh nghi ệm thực tiễn đô thị hoá với hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

1.1.3.1 Trên th ế giới

Trờn thế giới, quỏ trỡnh đô thị hóa đó sẩy ra từ rất sớm cựng với tiến

trỡnh phỏt triển của loài người Tuy nhiên, cụm từ “đô thị hóa” lại mới chỉ

xuất hiện vào những năm 20 của thế kỷ XX Thuật ngữ “đô thị hóa” lúc đầu

Trang 32

xuất hiện ở các tạp chí chuyên đề kinh tế, dần dà phổ cập sang kinh tế học, xó

hội học rồi cuối cùng mới được các nhà kiến trúc đô thị nắm bắt

Theo một nghiờn cứu khỏc của F Choay thỡ thuật ngữ “đô thị hóa” đó

ra đời từ năm 1867 trong một tác phẩm của kỹ sư cầu đường người Tây Ban Nha - Lidefonso Cerda - có tên Teoria General dela Urbanizacion (Lý luận chung về đô thị hóa) Có một điều thú vị là Lidefonso Cerda đó quan niệm đô

thị hóa không chỉ là sự mở rộng đô thị, sự tăng dân số đô thị mà đó cũn là sự

tiến bộ trong quy hoạch xõy dựng đô thị nữa Và đó được Cerda dự báo sẽ

nằm trong khuôn khổ của một khoa học và khái niệm về đô thị hóa từ đó đó được xây dựng

Quỏ trỡnh đô thị hóa trên thế giới diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt là sau chiến tranh thế giới thứ hai nhờ áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào

việc phát triển kinh tế - xó hội, vỡ vậy mà rất nhiều nước trên thế giới có nền công nghiệp - dịch vụ - du lịch phát triển mạnh mẽ như: Anh, Mỹ, Pháp, Đức Hỡnh thành ngày càng nhiều cỏc khu đô thị và ngày càng to đẹp hơn,

hiện đại hơn (New York, Sanchiago, Tokyo, Bắc Kinh )

Quá trình đô thị hoá của một số nước châu Á: Seoul của Hàn Quốc được hình thành từ 600 năm trước đây Song, từ những năm 1990 trở lại đây

đã phát triển nhanh chóng, năm 1990 chỉ có 10 triệu dân chiếm 25% dân số cả nước; đến năm 1995 đã có 24,4 triệu dân chiếm 45% dân số cả nước Tokyo

của Nhật Bản từ năm 1960 đô thị hoá diễn ra chóng mặt, với diện tích 2187

km2, số dân là 12 triệu người chiếm trên 50% các hoạt động kinh tế xã hội

của cả nước Bangkok của Thái Lan đô thị hoá phát triển mạnh từ năm 1970,

với diện tích 2400 km2

, dân số 7 triệu người Bắc Kinh của Trung Quốc đô thị hoá phát triển mạnh vào những năm 1977 từ 17,6% dân số đô thị lên 29,04% năm 1995, với diện tích 17000 km2

, dân số 7 triệu người [1]

Những số liệu cho thấy, đô thị hoá của các nước châu Á diễn ra mạnh

mẽ trong vòng mấy thập kỷ gần đây Đồng thời với đô thị hoá là giảm quỹ đất

Trang 33

nông nghiệp; sự gia tăng dân số đô thị cùng với sự phát triển kinh tế các ngành phi nông nghiệp; vấn đề môi trường trở nên bức xúc…Để giảm bớt áp

lực dân số đô thị và ô nhiễm môi trường, các quốc gia đều đã quy hoạch mở

rộng các thành phố: Tokyo mở rộng 7 tỉnh xung quanh (Saitama, Kanagawa, Chima, Gumma, Tochigi, Ibaraki và Yamanashi), lập vành đai xanh, ít phương tiện cá nhân đi lại để giảm bớt ô nhiễm; Trung Quốc đã quy hoạch vành đai xanh và mở rộng 12 thành phố vệ tinh cách đều xung quanh Bắc Kinh 40 km

* Đô thị hoá với phát triển nông nghiệp

Thực tiễn cho thấy, Đô thị hoá luôn gắn liền với sự phát triển của công nghiệp đã thúc đẩy nông nghiệp phát triển đặc biệt là phát triển theo hướng

sản xuất hàng hoá

- Các nước có nền đại công nghiệp phát triển sớm như Mỹ, Tây Bắc Âu thì hình thức chủ yếu phát triển kinh tế nông hộ là loại hình kinh tế trang trại,

nó giữ vai trò chủ yếu trong nông nghiệp ở Mỹ trang trại gia đình chiếm 87%

tổng số trang trại, chiếm 65% đất đai và 70% giá trị nông sản cả nước và diện tích bình quân một trang trại khoảng 180 ha[26, 10 - 14] Các nước Tây Âu

hầu hết là trang trại gia đình đáp ứng cơ bản nhu cầu nông sản cho xã hội; và

diện tích bình quân một trang trại từ 25 - 30 ha [26]

- Các nước Đông Bắc Á như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc có nền công nghiệp phát triển sớm thì hình thức khá phổ biến cũng là trang trại gia đình Nhật Bản là nước công nghiệp hoá sớm nhất và đạt trình độ cao nhất Châu á nên kinh tế trang trại là hình thức chủ yếu khai thác nông nghiệp; diện tích bình quân 1 trang trại là 1,2 ha Đài Loan, Hàn Quốc tiến hành công nghiệp hoá sau Nhật Bản nhưng kinh tế trang trại cũng phát triển và cung cấp nông sản chủ yếu cho xã hội, diện tích bình quân một trang trại ở Đài Loan là 1,12 ha, Hàn Quốc là 1,08 ha [26], [89]

Trang 34

- Các nước Đông Nam Á (khối ASEAN) là những nước tiến hành công nghiệp hoá chậm Vào những năm của thập kỷ 50 và 60, các nước ASEAN đều thực hiện chiến lược "sản xuất thay thế nhập khẩu" Song, hiệu quả của chiến lược này rất thấp làm hạn chế phát triển kinh tế, bởi các nước đã không hoà nhập được vào nền kinh tế thế giới, không khai thác được tư bản đầu tư nước ngoài dẫn đến tình trạng lạm phát, giá cả tăng mạnh làm cho kinh tế, chính trị, xã hội bất ổn định Trước tình hình đó các nước ASEAN đã nhanh chóng lựa chọn chuyển đổi chiến lược "sản xuất thay thế nhập khẩu" sang

"sản xuất hướng về xuất khẩu"[19,24-25], và đã nhanh chóng đưa nền kinh tế

ổn định và phát triển Mặc dù các nước này tiến hành công nghiệp hoá chậm nhưng kinh tế trang trại cũng đã xuất hiện Tuy nhiên loại hình phổ biến vẫn

là kinh tế tiểu nông tự cấp, tự túc Hơn nữa do dân số đông dẫn tới quy mô

diện tích bình quân 1 trang trại ở các nước này thấp: Ở Philippin là 3,6 ha; Indonexia 3,7 ha, Thái Lan 4,2 ha và Malaysia từ 1,2 - 4,5 ha [26]

1.1.3.2 Ở Việt Nam

* Quỏ trỡnh đô thị hóa

Cựng với quỏ trỡnh phỏt triển của đất nước, quá trỡnh đô thị hóa ở Việt Nam diễn ra một cách lâu dài, liên tục, đó là quá trỡnh tập trung dân cư vào các đô thị, mở ra mạng lưới đô thị trên quy mô lớn Trong những năm gần đây, quá trỡnh đô thị hóa ở Việt Nam diễn ra với tốc độ khá nhanh, làm biến đổi bộ mặt kinh tế, văn hóa, xó hội, kiến trỳc trờn phạm vi cả nước

Nếu như năm 1998 cả nước mới có khoảng 400 thị trấn thỡ nay tăng lên khoảng 560 hơn thị trấn Cuối những năm 90 của thế kỷ XX, dân số trung

bỡnh của một thị trấn khoảng 2.000 - 30.000 thỡ nay dao động trong khoảng

từ 2.000 - 50.000 người Tỷ lệ dân phi nông nghiệp ở thị trấn phổ biến ở mức 30- 40% vào những năm 90 thỡ nay tăng lên khoảng 50 - 60%

Tốc độ đô thị hóa ở Việt Nam cũn được thể hiện ở sự gia tăng dân số

đô thị, từ 12,7 triệu người năm 1989 tăng nhanh lên 15 triệu người năm 1995 (chiếm 20% dân số cả nước) và đến năm 1999 có khoảng 17,9 triệu người là

Trang 35

dân cư đô thị, chiếm 23,45% dân số Dân cư đô thị tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn như Hà Nội (khoảng 3 triệu người), Tp Hồ Chí Minh (khoảng 5 triệu người), Hải Phũng và Đà Nẵng (trên 1 triệu người)

Mặc dự trong những năm gần đây, tốc độ đô thị hóa ở nước ta diễn ra khá nhanh tuy nhiên nếu so với thế giới thỡ Việt Nam vẫn là nước kém phát triển, quy mô các đô thị cũn nhỏ, kiến trỳc đô thị chưa thật đẹp do đất nước đó

phải chịu nhiều hậu quả nặng nề do chiến tranh để lại, lại có xuất phất điểm

thấp, đi lên từ nông nghiệp lạc hậu

Tóm lại, phát triển đô thị hoá ở Việt Nam, được chia làm 3 giai đoạn chính:

- Giai đoạn trước năm 1954, Pháp thiết lập bộ máy cai trị, củng cố các thành phố cũ, mở rộng và phát triển các thành phố mới: năm 1872 Hải Phòng còn là một làng chài, đến năm 1933 đã trở thành một Thành phố Cảng sầm

uất; Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh có mức tăng dân số đột ngột từ năm

1943 Thời kỳ này, công nghiệp đã phát triển nhưng còn rất yếu

- Giai đoạn từ năm 1954 đến 1990 được chia làm 2 thời kỳ Từ năm

1954 đến 1975, tốc độ đô thị hoá của Việt Nam đã phát triển nhưng còn

chậm; tuy nhiên cũng đã phần nào đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội

của đất nước Từ năm 1975 đến 1990, nền kinh tế Việt Nam trong tình trạng trì trệ Vì vậy, đô thị hoá hoá diễn ra chậm

- Giai đoạn từ năm 1990 trở lại đây, đô thị hoá của Việt Nam phát triển

mạnh Năm 1990, cả nước mới có 500 đô thị lớn, nhỏ; đến năm 2000 đã tăng lên tới 649 đô thị; đến năm 2003 số đô thị đã lên tới 656 Dân số đô thị tăng

từ 11,87 triệu người (năm 1986 chiếm 19,30% dân số cả nước) lên 13 triệu người (năm 1990 chiếm 20,75% dân số cả nước; năm 2000 chiếm 25%; năm

2002 chiếm 25,3%, dự báo năm 2010 là 33% và đến năm 2020 sẽ là 45% Các khu công nghiệp cũng phát triển mạnh, năm 1991 mới có 1 khu công nghiệp

mới; nhưng đến năm 2003 cả nước đã thành lập thêm 82 khu công nghiệp [2]

Trang 36

Cùng với sự gia tăng dân số, đất đô thị cũng tăng từ 0,2% tổng diện tích đất tự nhiên của quốc gia (năm 1999) lên 1% (năm 2003) Nhiều diện tích đất nông, lâm nghiệp chuyển thành đất đô thị, khu công nghiệp, đường giao thông Cụ

thể diện tích một số cây trồng đã giảm mạnh: diện tích lúa giảm từ 7666300

ha năm 2000 xuống 7.443.800 ha năm 2004; mía giảm từ 302.300 ha năm

2000 xuống còn 287.000 ha năm 2004; thuốc lá giảm từ 24.400 ha năm 2000

xuống còn 18.800 ha năm 2004…

Như vậy, đô thị hoá hoá ở Việt Nam so với một số nước trong khu vực

diễn ra chậm hơn, song cũng như các nước trong khu vực đó là: sự gia tăng tỷ

lệ dân số đô thị, diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp; chuyển dịch cơ cấu kinh

tế (nhiều ngành, nghề mới xuất hiện, đặc biệt là các hoạt động dịch vụ) tăng

tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp; kết cấu hạ tầng cơ sở; văn hoá xã hội; môi trường sinh thái đều thay đổi theo

Các giai đoạn Đô thị hoá của Việt Nam phụ thuộc căn bản vào cơ chế

quản lý nền kinh tế Điều này đã và đang tác động tới sự phát triển thăng trầm

của nông nghiệp Việt Nam thể hiện qua các giai đoạn:

- Giai đoạn trước năm 1960

Sau khi giành được chính quyền, Đảng và Nhà nước ta tiến hành cải cách ruộng đất, với mục đích người cày có ruộng Trên 83% diện tích canh tác trước kia nằm trong tay địa chủ, phú nông nay đã được chia cho nông dân Cách làm này đã giải phóng được sức sản xuất khỏi những trói buộc của các quan hệ phong kiến đã có ảnh hưởng lâu dài, sâu sắc tới sự phát triển sản

xuất Có ruộng, người dân đã nức lòng mang hết sức mình chăm lo cho mảnh

ruộng của chính mình Chỉ trong thời gian ngắn (1954 - 1959), nông nghiệp nước ta đã phát triển về mọi mặt: giá trị tổng sản lượng nông nghiệp miền Bắc tăng 35% (bình quân tăng 7% năm); giá trị sản lượng trồng trọt tăng 29%

Trang 37

(bình quân tăng 5,8% năm); riêng lúa, diện tích tăng 17%, năng suất tăng 49% (từ 14,3 ta/ha lên 21 ta/ha) [65] Năm 1959 sản lượng lương thực đạt 5,6 triệu

tấn con số mà từ trước và cả chục năm sau (1961 - 1971) chưa năm nào đạt

tới Được làm chủ mảnh đất của mình, các hộ nông dân nhanh chóng xác lập

mối quan hệ hiệp tác giản đơn để giúp nhau cùng sản xuất, khắc phục những khó khăn mà bản thân một hộ rất vất vả hoặc không làm được Họ đã hiệp tác

tư liệu sản xuất, sức kéo, lao động chỉ trong vòng 4 năm, số tổ đổi công đã

có từ 15 vạn (1955) lên 25 vạn (1958) [56]

Ở giai đoạn này, phát triển KTNH trong bối cảnh người nông dân vừa

thoát khỏi ách bót lột (chủ yếu làm thuê cho địa chủ), từ chỗ không có ruộng đất phải đi làm thuê, làm rẽ đến khi được chia đất, được làm chủ mảnh đất của mình, mọi người phấn khởi, hăng say lao động sản xuất thúc đẩy nông nghiệp phát triển Tuy nhiên do mới thoát khỏi cảnh đói nghèo nên người nông dân

chỉ tập trung sản xuất những sản phẩm thiết yếu phục vụ cho chính mình, chưa quan tâm tới sản phẩm trao đổi Hơn nữa, đất nước mới giành được độc

lập, nền kinh tế xã hội đang ở giai đoạn hồi phục, lực lượng sản xuất hết sức

thấp kém Vì thế sản xuất nông nghiệp vẫn dựa vào điều kiện tự nhiên là chính, KTNH ở giai đoạn này phát triển chủ yếu là tiểu nông sản xuất tự cấp,

tự túc, chưa có sản phẩm trao đổi, KTHH chưa phát triển

Là thời kỳ xuống dốc nhất của nền kinh tế nước ta bởi sự yếu kém của kinh tế hợp tác xã, hơn nữa thời kỳ này cả nước có chiến tranh (1965 - 1975)

Việc tiến hành cải cách ruộng đất đã gieo vào lòng dân niềm tin và

phấn khởi trong sản xuất, thì chỉ 2 năm sau (1959 - 1960) phong trào hợp tác hoá đã ồ ạt đưa các hộ nông dân vào hợp tác xã (HTX) bằng con đường làm

ăn tập thể nhằm mục đích đưa nông nghiệp tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Mặc dù với danh nghĩa tự nguyện, song thực chất chúng ta đã sử dụng

mọi sức ép bằng cả chính trị và kinh tế Chỉ trong 2 năm, miền Bắc đã căn bản

Trang 38

thực hiện xong phong trào hợp tác hoá, 4.400 HTX được thành lập với 2,4 triệu hộ chiếm 85,8% tổng số hộ nông nghiệp và 76% ruộng đất [56]; số hộ cá

thể còn lại không đáng kể và luôn bị sức ép bởi HTX Kể từ đây, kinh tế nông

hộ đã hoàn toàn phụ thuộc kinh tế tập thể Đúng như tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ V của Ban Chấp hành Trung ương tháng 7 năm 1961 đề ra chủ trương: "Phải chú trọng phát triển kinh tế HTX là chủ yếu "[5], [56] Việc

sản xuất và điều hành lao động đều có "tập thể lo", nên đã phát sinh nhiều bất

hợp lý trong sản xuất: hiện tượng rong công phóng điểm "cha chung không ai khóc" dẫn tới sản xuất sút kém nghiêm trọng; nhiều mâu thuẫn đã phát sinh: mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất do đó sản xuất lại càng kém hiệu quả; mọi việc thực hiện theo

kế hoạch cứng nhắc, thiếu đồng bộ từ trên xuống dưới dẫn tới sản xuất trì

trệ, dậm chân tại chỗ Thu nhập thấp, đời sống nhân dân hết sức chật vật làm cho người dân thiếu tin tưởng với HTX Mặc dù Đảng và Nhà nước đã đưa ra nhiều chỉ thị, nghị quyết quan trọng, nhiều cuộc vận động lớn như cuộc vận động "tổ chức lại sản xuất và cải tiến quản lý cơ sở, đưa nông nghiệp đi lên

sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa"[6] với những giải pháp lớn nhằm phát triển nông nghiệp nhưng cũng không sao thoát khỏi tình trạng trì trệ kéo dài Kết

quả sản xuất ở giai đoạn này thể hiện trên bảng 1.3, 1.4 và 1.5

Bảng 1.3 Chỉ số phát triển giá trị tổng sản lượng nông nghiệp

Năm T ổng số Tr ồng trọt Chăn nuôi

1960

1975

1980

1,0 1,3 1,57

1,0 1,27 1,59

1,0 1,34 1,55

Trang 39

Bảng 1.4 Chỉ số phát triển diện tích và sản lượng một số cây trồng chính Năm

1,0 1,18 1,27

1,0 1,13 1,69

1,0 2,26 2,58

1,0 2,47 2,95

1,0 0,75 0,81

1,0 0,31 0,58

1,0 0,74 1,52

1,0 2,13 1,91

1,0 0,77 0,68

1,0 1,91 1,35

Những số liệu trên cho thấy, mặc dù 20 năm nhưng sản xuất hầu như

dậm chân tại chỗ, gia tăng không đáng kể hoặc có những sản phẩm còn giảm

Hậu quả làm cho đời sống nhân dân đói khổ, họ không còn tin HTX, thờ ơ với

sản xuất tập thể Bởi vì phần thu chủ yếu từ kinh tế tập thể không đủ đảm bảo cho mức sống cơ bản Lương thực bình quân đầu người giai đoạn 1961 - 1965

là 304 kg, giai đoạn 1966 - 1975 là 258 kg, giai đoạn 1976 - 1980 là 200 kg [12], [65] Nhìn chung, kinh tế tập thể chỉ lo được cho các hộ nông dân 60% -70% về lương thực, 20% - 30% về chi tiêu[56], cho nên các hộ nông dân phải tìm mọi cách vật lộn với cuộc sống bằng kinh tế phụ mà chủ yếu là phần đất 5% do HTX để lại cho hộ phát triển kinh tế phụ gia đình Với phần đất quá

nhỏ bé ấy, nhưng các hộ đã dồn hết công tâm, trí lực nên nhiều hộ đã đạt kết

quả cao trong sản xuất Ngay từ những năm 1970, trên đất 5% có những hộ đã đạt năng suất lúa 90 ta/ha thì năng suất của tập thể chỉ đạt 20,8 tạ/ha và hệ số

Trang 40

sử dụng ruộng đất 5% gấp 2-2,5 lần ruộng đất của HTX, đã đem lại thu nhập

ở các nông hộ tới 70%-75% (lớn hơn phần thu nhập của kinh tế tập thể) [56] Song, do đất 5% quá nhỏ bé nên khôn g thể giải quyết được tình trạng thiếu lương thực triền miên, và hàng năm Nhà nước đã phải nhập khoảng 2 triệu tấn lương thực (năm 1976 nhập 1,2 triệu tấn, năm 1980 nhập 2 triệu tấn) [12]

Sự yếu kém của kinh tế tập thể khởi đầu từ năm 1965, và càng bộc lộ rõ vào giai đoạn 1976 - 1980 (sau khi mi ền Nam hoàn toàn giải phóng năm 1975)

Việc triển khai HTX được thực hiện trên phạm vi cả nước, đến tháng 7 năm

1980 toàn miền Nam đã xây dựng được 1518 HTX và 9530 tập đoàn sản xuất, đưa 35,6% hộ nông dân vào con đ ường làm ăn tập thể, nhưng sản xuất lại càng có chiều hướng giảm Năm 1980 diện tích canh tác so với năm 1978

giảm 9,4 vạn ha, sản lượng lương thực giảm 4,1 vạn tấn Trước tình hình

đó, hàng loạt HTX và tập đoàn sản xuất tan rã Đến cuối năm 1980, miền Nam chỉ còn 3732 tập đoàn sản xuất và HTX[81] Đến lúc này, sự suy

giảm và kém hiệu quả của kinh tế tập thể đã khẳng định trên phạm vị cả nước, dẫn tới khủng hoảng toàn diện trên mọi lĩnh vực kinh tế

Phát triển kinh tế nông hộ giai đoạn này cho thấy kinh tế nông hộ phụ

thuộc hoàn toàn vào cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung của Nhà nước HTX trực tiếp điều hành mọi hoạt động của kinh tế nông hộ từ sản xuất đến phân phối thu nhập Về danh nghĩa kinh tế nông hộ không còn là bộ phận kinh tế cơ bản của nông nghiệp vì họ không có tư liệu sản xuất (kể cả ruộng đất), họ chỉ còn 5% đất mà tập thể để lại phát triển kinh tế phụ Song do kinh

tế tập thể quá yếu kém, nên mặc dù sản xuất trên đất 5% nhưng họ vẫn đem

lại nguồn thu tới 70% cho kinh tế gia đình Vì thế kinh tế nông hộ vẫn tồn tại nhưng sản xuất hàng hoá của nông hộ bị tê liệt hoàn toàn

Trước nguy cơ nền kinh tế khủng hoảng toàn diện và bế tắc, nhiều địa phương đã tự ngấm ngầm giải quyết cách làm mới 'khoán chui", "khoán gọn"

Ngày đăng: 02/11/2012, 10:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.4. Chỉ số phát triển diện tích và sản lượng một số cây trồng chính  Năm - Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa huyện Phổ Yên
Bảng 1.4. Chỉ số phát triển diện tích và sản lượng một số cây trồng chính Năm (Trang 39)
Bảng 2.1. Tăng trưởng kinh tế huyện Phổ Yên thời kỳ 2004-2006 - Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa huyện Phổ Yên
Bảng 2.1. Tăng trưởng kinh tế huyện Phổ Yên thời kỳ 2004-2006 (Trang 54)
Bảng 2.3. Giá trị sản xuất, tốc độ tăng trưởng và cơ cấu   ngành nông nghiệp huyện Phổ Yên giai đoạn 2004-2006 - Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa huyện Phổ Yên
Bảng 2.3. Giá trị sản xuất, tốc độ tăng trưởng và cơ cấu ngành nông nghiệp huyện Phổ Yên giai đoạn 2004-2006 (Trang 55)
Bảng 2.4. Một số chỉ tiêu sản xuất công nghiệp huyện Phổ Yên   th ời kỳ 2004-2006 - Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa huyện Phổ Yên
Bảng 2.4. Một số chỉ tiêu sản xuất công nghiệp huyện Phổ Yên th ời kỳ 2004-2006 (Trang 58)
Bảng 2.8. Đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp của Phổ Yên năm 2006  Lo ại đất nông - Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa huyện Phổ Yên
Bảng 2.8. Đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp của Phổ Yên năm 2006 Lo ại đất nông (Trang 72)
Bảng 2.18. Hiệu quả kinh tế của một cây trồng trên đất 1 vụ    (tính trên 1 ha đất hàng năm) - Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa huyện Phổ Yên
Bảng 2.18. Hiệu quả kinh tế của một cây trồng trên đất 1 vụ (tính trên 1 ha đất hàng năm) (Trang 104)
Bảng 2.23. Diện tích, năng suất, giá trị sản lượng vải của các   nhóm h ộ điều tra - Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa huyện Phổ Yên
Bảng 2.23. Diện tích, năng suất, giá trị sản lượng vải của các nhóm h ộ điều tra (Trang 112)
Bảng 3.1. Cơ cấu cây trồng và quy mô sử dụng - Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa huyện Phổ Yên
Bảng 3.1. Cơ cấu cây trồng và quy mô sử dụng (Trang 127)
Bảng 3.4. Hiệu quả kinh tế của mô hình - Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa huyện Phổ Yên
Bảng 3.4. Hiệu quả kinh tế của mô hình (Trang 128)
Bảng 3.3. Cơ cấu cây trồng và quy mô sử dụng đất - Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa huyện Phổ Yên
Bảng 3.3. Cơ cấu cây trồng và quy mô sử dụng đất (Trang 128)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w