1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nâng cao chất lượng dịch vụ hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại chi cục hải quan Bắc Hà Nội

12 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 296,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn đưa ra số liệu được tìm hiểu thực tế tại Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội để phân tích thực trạng chất lượng dịch vụ, đồng thời thống kê nhưng thông tin qua bảng hỏi (Phiếu điều tr[r]

Trang 1

TÓM TẮT LUẬN VĂN

1 Lý do nghiên cứu

Trước sự phát triển của đất nước, bên cạnh những điều kiện thuận lợi, ngành hải quan phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức Do đó, công tác cải cách, hiện đại hóa hải quan trở nên bức thiết hơn bao giờ hết

Với việc ký kết các hiệp định song phương và đa phương về thương mại quốc tế làm cho nhiệm vụ của ngành hải quan ngày càng phức tạp hơn, nhất là các vấn đề liên quan đến hàng rào kỹ thuật, chống bán phá giá, độc quyền Bên cạnh đó, sự phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ; nhất là công nghệ thông tin và truyền thông đã làm thay đổi phương phức hoạt động của cả doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước Trước sự phát triển đó, và từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, đòi hỏi ngành Hải Quan phải đẩy mạnh hơn nữa ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ vào hoạt động quản lý nhà nước của mình để vừa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp vừa bảo đảm hiệu quả và hiệu lực của quản lý nhà nước về Hải Quan Ðồng thời, phải tiếp tục cải cách, hiện đại hóa, đổi mới hơn nữa, nâng cao năng lực cán bộ, công chức và cải thiện cơ sở pháp lý, cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin, v.v

Trong giai đoạn hiện nay khi mà nền kinh tế trong nước đang đẩy mạnh hội nhập với kinh tế thế giới, đẩy mạnh phát triển thương mại quốc tế thì ngành hải quan càng

có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của quốc gia Đặc biệt là dịch

vụ hải quan của Việt Nam Chất lượng dịch vụ Hải Quan sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu hay làm thủ tục xuất nhập cảnh Dịch vụ Hải Quan thông thoáng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu nâng cao được hình ảnh doanh nghiệp trên thị trường cũng như đạt được kết quả kinh doanh tốt

Để đạt được mục tiêu trên, ngành Hải Quan đã triển khai dịch vụ hải quan điện

tử là một trong những nội dung quan trọng của chương trình cải cách thể chế cần phải thực hiện Đây là một bước đột phá quan trọng của ngành hải quan trong công cuộc cải cách thủ tục hành chính

Thực tế cho thấy dịch vụ Hải Quan điện tử là một hình thức dịch vụ mới có

Trang 2

nhiều ưu điểm so với dịch vụ Hải Quan thủ công, như: tiết kiệm thời gian, tiết kiệm chi phí, tiết kiệm nhân lực,thông quan hàng hóa nhanh chóng, giảm bớt thủ tục giấy

tờ, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận, tăng uy tín thương hiệu cho doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả quản lý… Việc làm này đã được cộng đồng doanh nghiệp, dư luận đánh giá cao và đây cũng là một đóng góp quan trọng, thúc đẩy nhanh quá trình hội nhập của Việt Nam với nền kinh tế thế giới

Kể từ khi đưa vào triển khai thực hiện, chất lượng dịch vụ Hải quan điện tử của Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội đã đạt được một số yêu cầu nhất định Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm nêu trên, chất lượng dịch vụ vẫn còn một số bất cập và chưa đáp ứng được sự thoả mãn của khách hàng, còn có những hạn chế cần phải khắc phục, cần nâng cao chất lượng dịch vụ hải quan trong thời gian tới

Do vậy việc chọn đề tài “Nâng cao chất lượng dịch vụ hải quan điện tử đối với hàng hoá xuất nhập khẩu tại Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội” với mục tiêu đánh giá

thực trạng chất lượng dịch vụ Hải quan điện tử tại Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội vừa

có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn, góp phần vào sự phát triển của Hải Quan

Hà Nội nói riêng và Hải Quan Việt Nam nói chung

2 Phương pháp nghiên cứu

Mô hình được áp dụng để đánh giá chất lượng dịch vụ hải quan điện tử đối với hàng hoá xuất nhập khẩu tại Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội là mô hình mô hình SERVPERF (Coronin and Taylor, 1992) Theo mô hình SERVPERF thì: Chất lượng dịch vụ = Mức độ cảm nhận Bộ thang đo SERVPERF gồm 5 nhóm yếu tố (Tính tin cậy, sự đáp ứng, sự đảm bảo, sự đồng cảm, tính hữu hình) với 22 mục phát biểu tương tự như phần hỏi về cảm nhận của khách hàng trong mô hình SERVQUAL, bỏ qua phần hỏi về kỳ vọng Mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ hải quan điện tử đối với hàng hoá xuất nhập khẩu tại Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội được thực hiện như sau:

Phân tích thực trạng hoạt động dịch vụ hải quan điện tử đối với hàng hoá xuất nhập khẩu tại Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội qua các thành phần:

(1) Tính tin cậy: Một dịch vụ tốt cần phải có độ tin cậy cao cho khách hàng, đặc biệt là tính ổn định, độ bảo mật an toàn của thông tin cần phải được quan tâm Như

Trang 3

vậy, sự tin cậy của khách hàng đối với dịch vụ hải quan điện tử đối với hàng hoá xuất nhập khẩu cũng có tác động đến chất lượng dịch vụ

(2) Sự đáp ứng: Sự đáp ứng của hải quan về cung cấp dịch vụ hải quan điện tử đối với hàng hoá xuất nhập khẩu đến khách hàng thể hiện sự sẵn sàng phục vụ của hải quan cung cấp một cách kịp thời và đúng lúc đối với khách hàng, bao gồm các chỉ tiêu

về thời gian phục vụ, khi khách hàng cần dịch vụ là có Rõ ràng, mức độ đáp ứng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ vụ hải quan điện tử cũng như sự thỏa mãn khách hàng

(3) Sự bảo đảm: Năng lực phục vụ của hải quan về cung cấp dịch vụ hải quan điện tử đối với hàng hoá xuất nhập khẩu thể hiện trình độ chuyên môn, phong cách phục vụ, tính chuyên nghiệp của nhân viên và cán bộ hải quan Khách hàng sẽ đánh giá cao hơn về chất lượng dịch vụ khi hải quan có đội ngũ nhân viên lành nghề, có trình độ cao, phục vụ họ tận tình và chu đáo Thực tế cho thấy năng lực phục vụ của hải quan cung cấp dịch vụ cũng có tác động đến chất lượng dịch vụ hải quan điện tử đối với hàng hoá xuất nhập khẩu và từ đó làm ảnh hưởng đến sự thỏa mãn khách hàng

(4) Sự đồng cảm: Sự đồng cảm của hải quan cung cấp dịch vụ đối với khách hàng cũng có tác động đến khách hàng, làm họ nhìn nhận chất lượng dịch vụ hải quan điện tử đối với hàng hoá xuất nhập khẩu cao hơn Sự đồng cảm thể hiện sự quan tâm chăm sóc khách hàng, lắng nghe và tiếp thu ý kiến khách hàng mọi lúc, mọi nơi của hải quan cung cấp dịch vụ Điều này làm cho công ty có cái nhìn thiện cảm hơn trong mắt khách hàng, có ảnh hưởng đến sự thỏa mãn của khách hàng

(5)Tính hữu hình: Cần phải hiểu về cách nhìn nhận của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ hải quan điện tử đối với hàng hoá xuất nhập khẩu khi mà họ thực hiện việc sử dụng dịch vụ này Về phương diện kỹ thuật, yếu tố này có thể đo lường được một cách chính xác Tuy nhiên, nghiên cứu này phải đứng trên phương diện sự cảm nhận của khách hàng Chất lượng dịch vụ hải quan điện tử đối với hàng hoá xuất nhập khẩu luôn luôn có mối quan hệ với cơ sở hạ tầng kỹ thuật của dịch vụ đó Cơ sở

hạ tầng kỹ thuật của dịch vụ hải quan điện tử đối với hàng hoá xuất nhập khẩu bao gồm: hệ thống máy móc chuyên dụng của hải quan, hệ thống công nghệ thông tin,

Trang 4

công nghệ viễn thông được sử dụng để phục vụ khách hàng hiện đại, trang phục làm việc của nhân viên và cán bộ hải quan, cơ sở hạ tầng địa điểm làm việc khai báo hiện đại, khang trang Như vậy, đối với khách hàng thì cơ sở hạ tầng càng tốt thì chất lượng của dịch vụ hải quan điện tử càng gia tăng và khách hàng sẽ càng thỏa mãn Luận văn đưa ra số liệu được tìm hiểu thực tế tại Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội

để phân tích thực trạng chất lượng dịch vụ, đồng thời thống kê nhưng thông tin qua bảng hỏi (Phiếu điều tra) những doanh nghiệp đang sử dụng dịch vụ dịch vụ hải quan điện tử đối với hàng hoá xuất nhập khẩu

Những câu hỏi người đang sử dụng dịch vụ hải quan điện tử đối với hàng hoá xuất nhập khẩu tại Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội cung cấp gồm 2 phần:

(1) Gồm 5 thuộc tính: sự tin cậy, sự đáp ứng, sự đảm bảo, sự đồng cảm, sự hữu hình;

(2) Những câu hỏi liên quan đến khách hàng và những ý kiến khác

3 Kết quả nghiên cứu

Nhằm đánh giá chất lượng dịch vụ hải quan điện tử đối với hàng hoá xuất nhập khẩu tại Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội, trong phần này luận văn đi sâu và phân tích thực trạng chất lượng dịch vụ hải quan điện tử dựa trên 5 yếu tố: tính tin cậy, sự đáp ứng, sự đảm bảo, sự đồng cảm, tính hữu hình Trong mỗi yếu tố, luận văn phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng dịch vụ hải quan điện tử dựa trên số liệu khảo sát thực tế được tìm hiểu tại Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội, dựa trên kết quả phân tích, thảo luận với các thành viên quản lý dịch vụ Luận văn cũng đánh giá chất lượng dịch vụ qua đánh giá của khách hàng dựa trên số liệu đã thực hiện khảo sát bảng hỏi 120 người đang sử sử dụng dịch vụ hải quan điện tử

Kết quả số liệu điều tra cho thấy, chất lượng dịch vụ hải quan điện tử đối với hàng hoá xuất nhập khẩu tại Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội cung cấp thực hiện đạt trung bình ở tất các nhóm yếu tố Tổng hợp các nhóm yếu tố cho thấy thấy rõ vấn đề đặt ra đối với dịch vụ hải quan điện tử đối với hàng hoá xuất nhập khẩu tại Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội cung cấp là:

(a) Yếu tố bên ngoài

Trang 5

Hệ thống chính sách pháp luật

- Các văn bản hướng dẫn việc thực hiện quy trình còn nhiều chỗ chưa rõ ràng dẫn đến hiểu lầm và thực hiện sai của một số cán bộ công chức hải quan

- Công văn hướng dẫn giải đáp các vấn đề phát sinh khi thực hiện quy trình mới còn chậm chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế đặt ra

- Việc ban hành các văn bản của các ban ngành khác còn nhiều điểm mâu thuẫn với nhau do đó rất khó khăn trong việc thi hành đúng các quy định của pháp luật

- Các văn bản pháp lý liên quan đến thanh toán điện tử chưa đầy đủ, chưa có

hướng dẫn chi tiết về giao dịch điện tử, thương mại điện tử

Sự phối hợp của các cơ quan quản lý nhà nước

- Hệ thống thông tin số về chính sách mă ̣t hàng do các bô ̣ , ngành quản lý còn châ ̣m, chưa đồng bộ

Sự phối hợp của các ngành liên quan

- Việc triển khai dịch vụ Hải quan điện tử còn bị phụ thuộc vào “đối tác thứ

ba” như các Công ty viễn thông, các Ngân hàng thương mại… Chất lượng các dịch

vụ do các công ty viễn thông cung cấp, đặc biệt là đường truyền WAN, Internet chưa thật sự ổn định

Yếu tố từ các doanh nghiệp

- Một số doanh nghiệp chưa thật sự quan tâm đầu tư cơ sở vật chất về công

nghệ thông tin, về đội ngũ nhân viên làm thủ tục hải quan của doanh nghiệp

(b) Yếu tố bên trong

Chất lượng nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực đóng vai trò rất quan trọng, đặc biệt là các cán bộ trực tiếp triển khai thực hiện quy trình hải quan điện tử, và các cán bộ hải quan hướng dẫn hỗ trợ khách hàng sử dụng dịch vụ

- Trình độ nghiệp vụ hải quan: Trình độ năng lực của cán bộ công chức không đồng đều, năng lực còn nhiều hạn chế phản ứng với công việc không nhanh nhậy, còn sai sót trong việc thực hiện công việc, động cơ công tác chưa đúng, có tư tưởng chọn việc Thực tế số lượng cán bộ thực sự có đủ năng lực trình độ về các mặt còn hạn chế

và đội ngũ cán bộ công chức làm bộ phận tính thuế, xác định trị giá và tin học còn

Trang 6

thiếu Đây là vấn đề khó khăn lớn ảnh hưởng tới chát lượng công việc, không đảm bảo được việc thông quan hàng hóa được nhanh chóng chính xá c

- Phẩm chất đạo đức : Một số cán bộ công chức còn tùy tiện trong sinh hoạt và trong công việc, ý thức chấp hành kỷ luật chưa cao

- Tinh thần trách nhiệm của một số cán bộ chưa cao, còn ỷ lại, phải kiểm tra đôn đốc nhắc nhở mới thực hiện công việc Giữa các khâu nghiệp vụ chưa có sự phối hợp chặt chẽ

Hạ tầng kỹ thuật :

- Máy móc trang thiết bị phục vụ công việc còn thiếu chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu nên việc thông quan hàng hóa mất nhiều thời gian

Hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông chưa hoàn thiện Hệ thống xử lý dữ liê ̣u điê ̣n tử hải quan còn nhiều ha ̣n chế

Tính tự động của hệ thống còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu làm thủ tục theo đúng quy định Cũng chính vì chưa tích hợp được với hệ thống thông tin quản lý rủi ro dẫn đến việc khó khăn trong xử lý các sự cố phát sinh và làm giảm đáng kể tốc độ của hệ thống

Đường truyền từ doanh nghiệp đến hải quan và ngược lại hoạt động chưa ổn định, còn gặp nhiều trục trặc, nhất là vào những giờ cao điểm thì thường xuyên xảy ra tình trạng nghẽn mạng

Tính kết nối từ mạng của hải quan điện tử với mạng của các tổ chức khác chưa được sẵn sàng, nhất là đối với các hệ thống ngân hàng, tài chính, thuế, …dẫn đến chưa được thuận lợi cho doanh nghiệp khi khai báo và đóng tiền nộp thuế…

Các chương trình phần mềm chưa hoàn thiện

Liên quan đến phần mềm thủ tục HQĐT, theo đánh giá của Chi cục là chưa hoàn thiện Các hệ thống phần mềm chưa được tích hợp, dẫn đến một công chức hải quan phải sử dụng nhiều chương trình cùng một lúc trong quá trình làm thủ tục hải quan Thêm vào đó, hệ thống phần mềm chưa theo kịp với sự thay đổi về quy trình nghiệp vụ, nên đôi lúc gặp khó khăn khi thao tác trên phần mềm Chương trình thông quan điện tử chưa được cải tiến nhiều, triển khai không đồng bộ

- Một số phần mềm chậm triển khai so với văn bản đã ban hành như:

Trang 7

Triển khai chữ ký số, cấp mã số cho doanh nghiệp tham gia thủ tục HQĐT, cổng thông tin tra cứu thống kê hàng hoá xuất nhập khẩu của Tổng cục Hải quan, phúc tập

tờ khai điện tử

- Chương trình tự động hóa phục vụ thí điểm thủ tục HQĐT còn bất cập trong thực hiện, mức độ tự động hóa thấp, phải thao tác tra cứu thủ công

Cũng do chương trình HQĐT chưa có phần thanh khoản sản xuất xuất khẩu, hàng gia công, cho nên, thời gian đầu triển khai chỉ thực hiện khai báo, còn thanh khoản vẫn thực hiện trên chương trình cũ như trước

- Một số ứng dụng liên quan như quản lý giá tính thuế (GTT22), quản lý rủi ro (Riskman) chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý, gây ảnh hưởng lớn việc làm thủ tục hải quan và thông quan hàng hoá, đặc biệt tại một số chi cục với tờ khai có lượng dòng hàng khai báo lớn

- Đối với tờ khai mở một lần xuất khẩu nhiều lần, phần mềm chưa đáp ứng được yêu cầu ghi kết quả kiểm hóa, theo dõi từng lần xuất khẩu được bao nhiêu, còn lại bao nhiêu vì thế chưa thực hiện được khai báo HQĐT đối với tờ khai mở một lần xuất khẩu nhiều lần

- Đối với một số mặt hàng phải kiểm tra nhà nước về chất lượng, nếu tờ khai được phân vào luồng Xanh thì hệ thống sẽ chạy thẳng đến khâu “Xác nhận thông quan” mà không cho xác nhận “Đưa hàng về bảo quản” hay “Giải phóng hàng”, vì thế công chức hải quan tiếp nhận phải tự chuyển hồ sơ từ luồng Xanh sang luồng Vàng mới có thể phê duyệt nghiệp vụ trên

- Theo Thông tư số 222/2009/TT-BTC ngày 25/11/2009 của Bộ Tài chính thì giấy đăng ký kiểm tra nhà nước về chất lượng, giấy đăng ký kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, giấy đăng ký kiểm dịch động thực vật… phải nộp bản chính (bản giấy) vì thế khi hệ thống phân luồng vào luồng Xanh (miễn kiểm) hay luồng Vàng “Kiểm tra

hồ sơ điện tử” thì công chức tiếp nhận vẫn phải yêu cầu doanh nghiệp nộp các chứng

từ trên bằng bản giấy

- Chương trình thông quan điện tử còn thiếu một số ứng dụng như: nhập kết quả phúc tập hồ sơ sau thông quan Ở cấp cục chưa có ứng dụng để khai thác, báo cáo tổng hợp từ các chi cục về thực hiện thủ tục HQĐT bằng chương trình thông quan

Trang 8

điện tử

Nguyên nhân khác

- Việc thay đổi phương thức quản lý mới so với truyền thống đã tồn tại nhiều

năm cũng là rào cản của nhiều cán bộ, công chức ngành hải quan

- Các dịch vụ thanh toán điện tử, chữ ký số đã triển khai nhưng hiệu q uả chưa

cao

- Chất lượng dịch vụ mặc dù cơ bản đáp ứng số đông nhu cầu của doanh

nghiệp nhưng vẫn còn một số vấn đề như văn bản chậm được cập nhật, chậm giải đáp thắc mắc và dịch vụ thông quan điện tử chưa thật ổn định, còn phát sinh lỗi ngoài ý muốn

- Kỹ thuật tra cứu, đặt câu hỏi trên Website của hải quan còn phức tạp, đòi hỏi

người sử dụng dịch vụ phải có những kiến thức nhất định về tin học và những kỹ năng liên quan Chi phí cho mua phần mềm bản quyền khá cao đối với những doanh nghiệp vừa và nhỏ Vấn đề cơ sở hạ tầng viễn thông, chất lượng đường truyền Internet chưa đảm bảo liên tục, tốc độ còn hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ đến việc cung cấp và sử dụng dịch vụ hải quan điện tử

4 Kiến nghị và giải pháp

4.1 Giải pháp:

Từ những vấn đề nêu trên, luận văn đã đưa ra các giải pháp sau:

(1) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

(2) Hoàn thiện cơ sở hạ tầng, hạ tầng CNTT

(3) Thực hiện triển khai cơ chế tham vấn trong chương trình đối tác Hải quan – Doanh nghiệp của Tổng cục Hải quan

(4) Giải pháp khác

4.2 Kiến nghị:

1 Đối với Cục hải quan thành phố Hà Nội

Tăng cường công tác theo dõi quản lý chất lượng các dịch vụ hải quan điện tử của các Chi cục theo các nội dung:

- Thực hiện định kỳ đo kiểm các chỉ tiêu chất lượng dịch vụ của từng Chi cục, công bố công khai kết quả của từng Chi cục, có chế tài phạt với các Chi cục không

Trang 9

đảm bảo chỉ tiêu như đã cam kết

- Tích hợp các hệ thống đang áp dụng hiện nay thành một hệ thống thống nhất để nâng cao hiệu quả trong hoạt động quản lý

- Nâng cấp hệ thống thiết bị, hệ thống mạng trên cơ sở mô hình được lựa chọn, theo hướng triển khai hệ thống mạng đến tận các địa điểm thông quan

- Xây dựng và phát triển mạng lưới đại lý hải quan để tạo điều kiện cho thủ tục hải quan điện tử triển đồng thời tạo sự thuận lợi trong việc quản lý hoạt động XNK

- Giúp cơ quan Chi cục tăng cường chất lượng hoạt động giám sát, thúc đẩy tiến trình áp dụng các biện pháp thuận lợi hoá cho hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu

- Tăng cường tính minh bạch trong hoạt động hải quan, góp phần hạn chế tiêu cực của một bộ phận công chức hải quan khi thi hành công vụ

- Đầu tư các trang thiết bị, phục vụ cho việc kiểm tra kiểm soát, hiện đại hóa ngành hải quan như máy soi container, tàu thuyền phục vụ cho việc phòng chống buôn lậu, các phương tiện thông tin liên lạc hiện đại v.v

2 Đối với Tổng cục Hải quan Việt Nam

Nghiên cứu một cách có hệ thống về dịch vụ HQ điện tử nói chung, tổ chức rà soát việc triển khai dịch vụ HQ điện tử trên phạm vi toàn ngành để đánh giá, rút kinh nghiệm, tạo cơ chế thuận lợi nhất cho việc triển khai cung cấp và sử dụng dịch vụ của

HQ và cả DN

Nghiên cứu và triển khai từng bước để tích hợp dữ liệu chứng từ vận tải, ngân hàng vào hệ thống;

Hoàn chỉnh các văn bản hướng dẫn thi hành hệ thống pháp luật về TMĐT chữ ký điện tử, chứng thực số);

Đầu tư phát triển máy móc thiết bị CNTT hiện đại, nâng cấp hạ tầng truyền thông, nâng cao trình độ kỹ năng của CBCC HQ trong toàn Ngành

Tăng cường phổ biến, đào tạo nâng cao nhận thức về chất lượng dịch vụ cho đội ngũ nhân viên trực tiếp cung cấp dịch, xóa đi nếp làm việc theo cơ chế độc quyền quan liêu trước đây để lại Đi đôi với có cơ chế thưởng phạt thích đáng trong việc đảm bảo và nâng cao chất lượng dịch vụ

Trang 10

Thực hiện tốt các Quy định, Quy trình về quản lý chất lượng dịch vụ đã ban hành Định kỳ kiểm tra, đánh giá chất lượng dịch vụ của từng đơn vị, xử phạt các đơn

vị không đảm bảo chất lượng dịch vụ, công khai thông tin chất lượng dịch vụ của các đơn vị

Định hướng các đơn vị cải tiến hợp lý hóa các quy trình sản xuất để đảm bảo các chỉ tiêu thời gian và độ tin cậy trong cung cấp dịch vụ Tăng cường áp dụng công nghệ tin học để tăng năng xuất lao động và tiết kiệm nhân lực

3 Kiến nghị với cơ quan quản lý nhà nước

Hoàn thiện cơ sở pháp lý

Môi trường pháp lý là một yếu tố quan trọng không thể thiếu, góp phần định hướng cho cơ quan Hải quan và doanh nghiệp thực hiện đúng và đầy đủ những quy định của pháp luật theo một cách thống nhất và có trật tự Hiện nay, Việt Nam về cơ bản đã có những văn bản pháp lý quy định khá cụ thể và chi tiết về quy trình thủ tục hải quan điện tử cũng như những vấn đề liên quan

Tuy nhiên, những văn bản pháp lý này chưa thực sự hoàn thiện, còn nhiều vướng mắc và lỗ hổng, khiến các doanh nghiệp đau đầu Do vậy, trong thời gian tới, Chính phủ nên xây dựng và hoàn thiện nền tảng pháp lý, hỗ trợ cho việc giao dịch điện tử, thông quan điện tử được tự động hóa theo những chuẩn mực quốc tế Xét về Luật, Việt Nam có thể tham khảo thêm luật của Singapore, bao gồm Luật Hải quan, Luật giao dịch điện tử, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, Luật sử dụng máy tính sai mục đích và Luật bằng chứng điện tử, học hỏi sự thống nhất, hoàn chỉnh, đồng bộ và áp dụng đầy

đủ các chuẩn mực của ASEAN, WTO và WCO của những bộ luật ấy Cụ thể, Chính phủ Việt Nam nên tiến hành:

Sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn về quy trình thủ tục hải quan điện tử, kiểm tra sau thông quan, chữ ký số một cách cụ thể hơn, mang tính thực tiễn hơn và phù hợp hơn với tiêu chuẩn quốc tế

Rà soát, đối chiếu luật nước nhà với những cam kết quốc tế có liên quan Điều này yêu cầu phải hệ thống hóa các danh mục, điều ước quốc tế trong lĩnh vực hải quan, đòi hỏi các cơ quan Ban, Ngành đầu tư nhiều thời gian và công sức để thống

Ngày đăng: 15/01/2021, 12:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w