1. Trang chủ
  2. » Kỹ Năng Mềm

Mở rộng hoạt động tín dụng xuất khẩu tại ngân hàng phát triển Việt Nam

10 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 314,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

* Kiến nghị với các Bộ và cơ quan ngang Bộ có liên quan: Cho phép VDB được quyền quyết định lãi suất cho vay trong khung lãi suất do Bộ Tài chính quy định; ban hành Qu[r]

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trải qua nhiều năm đổi mới, hòa cùng kênh hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp xuất khẩu từ Ngân hàng thương mại, hoạt động Tín dụng xuất khẩu (TDXK) tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã đóng góp nhất định trong việc thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế – xã hội theo định hướng của Nhà nước Nhưng bên cạnh những thành công, hoạt động tín dụng xuất khẩu của VDB vẫn còn những hạn chế nhất định Dư nợ bình quân TDXK vẫn còn ở mức thấp, nhiều năm liền không đạt được kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, quy trình thẩm định cho vay còn phức tạp, hình thức cho vay chưa đa dạng, chưa đáp ứng được đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh xuất khẩu của các doanh nghiệp

Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Mở rộng hoạt động Tín dụng xuất khẩu tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của mình

- Đối tượng nghiên cứu: Tín dụng xuất khẩu của VDB

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi tín dụng xuất khẩu tại VDB trong thời gian 2006 – 2014 và giải pháp đề xuất trong thời gian tới

Về kết cấu, ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn được kết cấu theo 3 chương: Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về tín dụng xuất khẩu của Ngân hàng phát triển Chương 2: Thực trạng mở rộng tín dụng xuất khẩu tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam giai đoạn từ năm 2006 - 2014

Chương 3: Giải pháp mở rộng tín dụng xuất khẩu tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤ N ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG XUẤT KHẨU TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN

1.1 Tổng quan về Ngân hàng Phát triển

NHPT được xem là một tổ chức tài chính phát triển, thực hiện các chính sách kinh

Trang 2

tế, đặc biệt là chính sách TDĐT và chính sách TDXK của Nhà nước thông qua các khoản cho vay để tài trợ cho các dự án phát triển, góp phần ổn định nền kinh tế Hoạt động chủ yếu của NHPT là huy động vốn và hỗ trợ phát triển Trong đó, hoạt động hỗ trợ bao gồm: tài trợ vốn đối với các dự án đầu tư phát triển, cung cấp tín dụng xuất khẩu, hoạt động hợp tác tài chính và hỗ trợ phát triển với các nước đang phát triển

1.2 Hoạt động tín dụng xuất khẩu của Ngân hàng Phát triển

Theo định nghĩa của Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế (OECD), chính sách TDXK của Nhà nước là sự tài trợ chính thức của Chính phủ, hoặc của cơ quan thay mặt Chính phủ, cho việc xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ Ở nhiều nước trên thế giới,

chính sách TDXK của Nhà nước được thực hiện thông qua các Ngân hàng Phát triển hoặc các Tổ chức tín dụng xuất khẩu Đây là các định chế tài chính được thành lập bởi Chính phủ một quốc gia nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, đầu tư tại các thị trường nước ngoài thông qua việc cung cấp các dịch vụ tài trợ thương mại, tài trợ dự án, bảo lãnh, bảo hiểm cho các nhà xuất khẩu tại nước đó

Hoạt động tín dụng xuất khẩu của Ngân hàng Phát triển có những đặc trưng riêng gắn với chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Bản chất của hoạt động TDXK của Ngân hàng Phát triển thể hiện ở những điểm sau: (1) Hoạt động TDXK của NHPT không vì mục tiêu lợi nhuận; (2) Đối tượng được vay vốn TDXK tại NHPT hạn chế so với đối tượng cho vay của các NHTM; (3) Lãi suất cho vay của TDXK tại Ngân hàng Phát triển

do Chính phủ quy định trong từng thời kỳ ; trong khi lãi suất cho vay xuất nhập khẩu tại

các NHTM được tính bằng lãi suất huy động thị trường + phí huy động, phí quản lý + lợi

nhuận; (4) Những tổn thất khi rủi ro xảy ra: đối với hoạt động tài trợ xuất khẩu của

NHTM, rủi ro xảy ra sẽ làm giảm bớt lợi nhuận của ngân hàng, có thể dẫn đến tình trạng thua lỗ, thậm chí dẫn đến phá sản Còn đối với TDXK của NHPT, do hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, mục đích để khuyến khích thúc đẩy xuất khẩu nên khi rủi ro xảy ra sẽ làm cho nguồn vốn cho vay bị thu hẹp, ảnh hưởng đến sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước

Tín dụng xuất khẩu tại Ngân hàng Phát triển bao gồm các hình thức chủ yếu là cho vay, chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất khẩu, bảo lãnh cho các nhà xuất khẩu tại nước đó

và trong một số trường hợp, cho cả nhà nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ mà hàng hóa dịch

vụ đó có nguồn gốc từ các nước cung cấp tín dụng xuất khẩu

Trang 3

1.3 Mở rộng tín dụng xuất khẩu tại Ngân hàng Phát triển

Theo quan điểm truyền thống , mở rô ̣ng mô ̣t hoa ̣t đô ̣ng nào đó là sự gia tăng về lươ ̣ng và quy mô hoa ̣t đô ̣ng Như vậy, mở rộng hoạt động tín dụng xuất khẩu tại NHPT

có thể hiểu là sự tăng lên về quy mô và số lượng các khoản tín dụng xuất khẩu được

NHPT cung cấp cho các khách hàng trong nền kinh tế trong mô ̣t khoảng thời gian nhất

đi ̣nh.Tuy nhiên, viê ̣c mở rô ̣ng tín du ̣ ng xuất khẩu tại NHPT không chỉ về lượng mà còn phải đảm bảo về chất trên cơ sở đảm bảo an toàn tín dụng Tiêu chí phản ánh mở rô ̣ng TDXK bao gồm: tăng trưởng về số lượng Khách hàng có quan hệ TDXK, Doanh số cho vay, Dư nợ tín dụng xuất khẩu năm, mức độ tài trợ kim nga ̣ch xuất khẩu của các mă ̣t hàng được vay vốn , sự đa dạng của các sản phẩm TDXK Mặc dù chỉ tiêu t ỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu trên dư nợ không trực tiếp phản ánh viê ̣c mở rô ̣ng cho vay của NHPT nhưng

là chỉ tiêu rất quan tro ̣ng để đánh giá chất lượng mở rô ̣ng tín du ̣ng xuất khẩu của NHPT Các nhân tố ảnh hưởng tới mở rộng TDXK bao g ồm nhân tố khách quan như các quy tắc quốc tế phải tuân thủ trong hoạt động TDXK, chủ trương chính sách phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước, môi trường kinh tế chính trị, xã hội trong và ngoài nước,… Bên cạnh

đó còn do các nguyên nhân chủ quan như nguồn nhân lực của ngân hàng, nguồn vốn ngân hàng huy động được, chính sách khách hàng

1.4 Kinh nghiệm chính sách tín dụng xuất khẩu của Nhà nước tại một

số quốc gia

Thông qua việc nghiên cứu chính sách TDXK của Nhà nước tại một số quốc gia như Hàn Quốc, Malaysia, Mỹ có thể rút ra mô ̣t số bài ho ̣c kinh nghiê ̣m cơ bản cho VDB

trong quá trình mở rộng hoạt động TDXK

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG MỞ RỘNG TÍN DỤNG XUẤT KHẨU TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

2.1 Khái quát về Ngân hàng Phát triển Việt Nam

Để đáp ứng yêu cầu đổi mới chính sách TDĐT phát triển và TDXK của Nhà nước phù hợp với lộ trình cam kết khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Ngân hàng Phát triển Việt Nam - tên giao dịch quốc tế: The Vietnam Development Bank – VDB được Chính phủ thành lập tại Quyết định số 108/2006/QĐ-TTg, ngày 19/5/2006 trên cơ sở tổ chức lại hệ thống Quỹ Hỗ trợ phát triển (thành lập theo Nghị định số

Trang 4

50/1999 NĐ - CP, ngày 08/7/1999) Hệ thống VDB chính thức đi vào hoạt động trên phạm vi cả nước từ ngày 1/7/2006

2.2 Thực trạng mở rộng tín dụng xuất khẩu tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam giai đoạn 2006 – 2014

Trong 2 năm 2008-2009, nghiệp vụ TDXK được đẩy mạnh, được thể hiện rõ qua số liệu tình hình thực hiện nghiệp vụ năm 2008 so với năm 2007: Dư nợ tăng 2,37 lần, doanh số cho vay tăng 2,9 lần Năm 2009, thực hiện nhiệm vụ kích cầu đối với nền kinh

tế của Chính phủ, VDB tiếp tục đẩy mạnh nghiệp vụ TDXK So với năm 2007, doanh số cho vay tăng 3,4%, dư nợ tăng 3,08% Tuy nhiên, cùng với việc tăng trưởng mạnh về doanh số cho vay và dư nợ thì nợ quá hạn và lãi treo bắt đầu tăng (nợ quá hạn gốc 294 tỷ đồng, lãi treo 160 tỷ đồng), nợ quá hạn tăng 2,1 lần so với năm 2007 và 3,4 lần so với năm 2008, lãi treo tăng 26,7 lần so với năm 2007 và 6,7 lần so với năm 2008 Nguyên nhân khách quan do cuộc khủng hoảng của nền kinh tế toàn cầu, các doanh nghiệp xuất khẩu không xuất được hàng, các thị trường xuất khẩu chủ yếu của các doanh nghiệp Việt Nam như Mỹ, EU, Nhật đều bị ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng Trong khi đó VDB còn thiếu công cụ quản lý hiệu quả hoạt động TDXK như chưa có hoạt động thanh toán quốc tế để theo dõi nguồn tiền từ nhà nhập khẩu, đồng thời cơ chế gia hạn nợ chưa đồng bộ (thời gian này Chính phủ chỉ cho phép VDB áp dụng cơ chế gia hạn nợ tối đa 1/3 thời hạn cho vay của hợp đồng tín dụng đầu tiên)

Hai năm tiếp theo từ 2010 cho đến 2011, nền kinh tế thế giới suy thoái trong mọi lĩnh vực, nền kinh tế Mỹ vẫn vật lộn với khủng hoảng, nền kinh tế EU thì lâm vào khủng hoảng nợ công, trong nước nền kinh tế từ năm 2010 bắt đầu lạm phát tăng cao, tăng trưởng giảm, các tập đoàn kinh tế nhà nước có vay vốn của VDB như Vinashin, Vinalines làm ăn thua lỗ Ngân hàng Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt cùng với việc tái cấu trúc lại ngành ngân hàng Những nguyên nhân nói trên đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xuất khẩu, thị trường đầu ra bị thu hẹp, thị trường đầu vào thì chi phí tăng cao do lạm phát trong nước Những khó khăn đối với các doanh nghiệp nói chung cũng đã ảnh hưởng đến VDB và hoạt động TDXK từ năm 2010, so với năm 2009, năm 2010 dư nợ giảm 1,07 lần, doanh số cho vay giảm 1,6 lần Bước sang năm 2011 tình hình hoạt động TDXK cũng không có tiến triển theo hướng tích cực, các chỉ số về doanh số cho vay, dư nợ, thu lãi, tỷ lệ NQH không thay đổi

Trang 5

nhiều so với năm 2010, tuy nhiên lãi treo thì đã tăng 1,87 lần, tương đương 807 tỷ đồng Giai đoạn từ năm 2012 đến hết năm 2013, các doanh nghiệp xuất khẩu ngày càng lâm vào tình trạng khó khăn, hàng loạt doanh nghiệp phá sản, hoạt động cầm chừng, một

số doanh nghiệp có NQH đã dừng hoạt động không có nguồn thu để trả nợ Nhiều doanh nghiệp hoạt động cầm chừng, chủ yếu làm gia công, không đủ trang trải chi phí tối thiểu nên rất khó thu nợ Các doanh nghiệp phải giảm công suất chế biến hoặc dừng hoạt động; nhiều trường hợp khách hàng không xuất khẩu được như kế hoạch do nhà nhập khẩu chậm thanh toán

Năm 2014, hoạt động TDXK Nhà nước vẫn tiếp tục suy giảm về cả số lượng và chất lượng Doanh số cho vay giảm 29,6% Từ đầu năm 2014, VDB gặp rất nhiều khó khăn trong việc đẩy mạnh tăng trưởng TDXK Tuy nhiên, nhiều cơ chế chính sách xử lý

nợ xấu được sửa đổi đáng kể như: Trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án xử lý nợ xấu TDĐT và TDXK Nhà nước; Kiến nghị các Bộ ngành sửa đổi Nghị định số

75/NĐ-CP một số nội dung cho phù hợp với tình hình xuất khẩu hiện nay

2.4 Đánh giá chung về mở rộng tín dụng xuất khẩu của VDB giai đoạn

2006-2014

2.4.1 Kết quả đạt được

Qua hơn 8 năm thực hiện nghiệp vụ TDXK, VDB đã đạt được một số thành tựu nhất định:

- Thứ nhất, hoạt động tín dụng xuất khẩu tại VDB phù hợp với chủ trương của Chính phủ về khuyến khích xuất khẩu trong từng thời kỳ

- Thứ hai,cơ chế chính sách TDXK dần được hoàn thiện theo hướng phù hợp thực

tế

- Thứ ba, thận trọng hơn trong cơ chế điều hành

2.4.2 Hạn chế

- Hoạt động TDXK trong những năm quan phát sinh không đều và có xu hướng thu hẹp, không đạt được kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao

- Số lượng doanh nghiệp xuất khẩu được tiếp cận và hưởng ưu đãi từ tín dụng xuất

khẩu của Nhà nước là không nhiều trên tổng số doanh nghiệp thuộc đối tượng vay vốn

- Hình thức TDXK còn đơn điệu

Trang 6

- Quá trình thực hiện nhiệm vụ TDXK đã phát sinh rủi ro tín dụng

2.4.3 Nguyên nhân

a Nguyên nhân khách quan

- Tác động của bất lợi của nền kinh tế thế giới

- Chính sách Tín dụng xuất khẩu của Nhà nước còn nhiều bất cập

b Nguyên nhân chủ quan

- Năng lực huy động vốn của VDB bị hạn chế

- Quy trình cho vay còn quá rườm rà, cứng nhắc

- Một số hoạt động nhằm quảng bá hoạt động TDXK cho VDB chưa được chú trọng

- Trình độ cán bộ còn hạn chế

- Công nghệ ngân hàng chưa phù hợp

- Công tác xây dựng hệ thống thông tin khách hàng, thông tin thị trường, mặt hàng xuất khẩu chưa được quan tâm thỏa đáng

Trang 7

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP MỞ RỘNG TÍN DỤNG XUẤT KHẨU TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

3.1 Định hướng tín dụng xuất khẩu tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam

Cơ quan duy nhất thực hiện chính sách TDXK tại Việt Nam hiện nay là VDB Bởi

vậy, việc thực hiện và triển khai hoạt động TDXK tại VDB phải theo hướng tăng trưởng bền vững, thích nghi với các quy định của quốc tế về lĩnh vực TDXK, đồng thời đảm bảo

được tính chất hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh hàng xuất khẩu có tính chiến lược để thực hiện các mục tiêu của Chính phủ trong phát triển kinh tế

3.2 Giải pháp mở rộng tín dụng xuất khẩu Nhà nước tại Ngân hàng phát triển Việt Nam

- Hoàn thiện quy chế quy trình TDXK: Hoạt động tài trợ xuất khẩu ẩn chứa nhiều

rủi ro, VDB muốn mở rộng các loại hình này phải đổi mới quy trình thẩm định, xét duyệt

nợ và kiểm tra giám sát tình hình luân chuyển vốn vay cho phù hợp Việc đổi mới này còn nhằm hạn chế tối đa những yếu tố chủ quan tiêu cực, đảm bảo tính khách quan, kịp thời phát hiện và xử lý những khách hàng sử dụng vốn thiếu hiệu quả, kém khả thi Song song với đó, phải xây dưng được Chính sách khách hàng phù hợp

- Đa dạng hóa các hình thức tín dụng xuất khẩu: Từng bước áp dụng các hình

thức tín dụng xuất khẩu thông qua việc nghiên cứu, triển khai nghiệp vụ: Bảo lãnh tín dụng xuất khẩu, nghiệp vụ cho vay nhà nhập khẩu

- Từng bước thực hiện các dịch vụ tư vấn, hỗ trợ: Nghiên cứu triển khai dịch vụ

bảo hiểm TDXK; tư vấn các phương án sản xuất kinh doanh xuất khẩu; thực hiện thanh toán quốc tế

- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống thông tin tín dụng nội bộ: VDB luôn có vốn

sẵn sàng đáp ứng nhu cầu tài trợ xuất khẩu nhưng trong nhiều trường hợp lại không dám cho vay, không dám mở rộng TDXK vì sợ rủi ro với lý do là không nắm biết những thông tin về khách hàng Trong khi đó những thông tin tín dụng từ trung tâm thông tin tín dụng (CIC) của ngân hàng nhà nước và từ các các ngân hàng khác lại quá sơ sài, không đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng Vì vậy hệ thống thông tin tín dụng của ngân hàng phải được hoàn thiện để trước mắt là đáp ứng nhu cầu thông tin tín dụng phục vụ cho

Trang 8

việc tài trợ xuất khẩu, giải quyết vấn đề thông tin không cân xứng

- Nâng cao trình độ cán bộ tín dụng về năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ, số lượng ngân hàng

ngày càng tăng lên kể cả các ngân hàng 100% vốn nước ngoài khiến nhu cầu nhân lực chất lượng cao càng trở nên rất cần thiết Ngoài việc thu hút các nhân tài ở các ngân hàng khác thì việc giữ nhân tài đã thu hút được ở ngay ngân hàng mình là một công việc hết sức khó khăn Vì vậy, để tránh tình trạng “chảy máu chất xám”, phải kịp thời nắm bắt tâm lý những cán bộ có năng lực, kinh nghiệm có ý định chuyển việc để có những biện pháp phù hợp để níu giữ các nhân tài

- Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn: Nguồn vốn huy động ở VDB chủ

yếu là vốn dài hạn trong khi đó Ngân hàng chỉ cho vay TDXK ngắn hạn Chính điều này đã làm hạn chế khả năng mở rộng tín dụng của VDB Để tăng tổng dư nợ tín dụng xuất khẩu, ngân hàng cần đa dạng hóa nguồn vốn và hình thức huy động vốn

- Tăng cường quảng bá hình ảnh VDB: Trong điều kiện mới hiện nay, khi các

ưu đãi về mặt lãi suất dần mất đi thì chất lượng phục vụ và công tác quảng bá trở nên khá quan trọng Nếu không được quan tâm đúng mức các doanh nghiệp xuất nhập khẩu sẽ không quan hệ tín dụng với VDB, và như vậy chính sách tín dụng xuất khẩu của Nhà nước cũng không thể đến với doanh nghiệp

- Tăng cường xây dựng các mối quan hệ hợp tác, tranh thủ tối đa sự ủng hộ của chính quyền, các Sở, Ban ngành địa phương: VDB cần đẩy mạnh hoạt động hợp tác

Quốc tế, tổ chức hoạt động về khai thác, thu thập thông tin, tiếp cận với các nhà tài trợ Quốc tế để vay vốn theo các chương trình tín dụng Đồng thời, tranh thủ các mối quan hệ với các cơ quan có thẩm quyền tại địa phương để có thể nắm bắt các thông tin hữu hiệu

về tình hình hoạt động của doanh nghiệp, đồng thời xây dựng được chiến lược hoạt động của mình trên địa bàn phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của địa phương

Trang 9

3.3 Kiến nghị

* Kiến nghị với Chính phủ: Hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động ngân hàng phù hợp với thông lệ và phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế;

Về huy động vốn: cần trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho VDB trong việc quyết định lãi suất huy động và cho vay theo kế hoạch tổng thể hàng năm; Tạo ra cơ chế chính sách rõ ràng, minh bạch cho hoạt động cho vay của VDB; Về trích dự phòng rủi ro và xử

lý rủi ro: Kiến nghị trao quyền chủ động cho VDB trong việc trích lập dự phòng rủi ro và

xử lý rủi ro,…

* Kiến nghị với các Bộ và cơ quan ngang Bộ có liên quan: Cho phép VDB được quyền quyết định lãi suất cho vay trong khung lãi suất do Bộ Tài chính quy định; ban hành Quy chế xử lý rủi ro vốn TDXK của Nhà nước để VDB có cơ chế thực hiện xử lý các khoản nợ quá hạn kéo dài và các khoản nợ từ cho vay các chương trình đặc thù; tạo điều kiện để tháo gỡ cơ chế tín dụng quyết định sự thành công của việc triển khai đề án thí điểm bảo hiểm TDXK; sớm cho phép VDB triển khai hoạt động thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối và cung ứng dịch vụ thanh toán;Chỉ đạo và hỗ trợ VDB các thông tin về chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển xuất khẩu; dự báo những ảnh hưởng của diễn biến kinh tế thế giới đến hoạt động xuất khẩu; các văn bản hướng dẫn, thông tin phân tích khi các điều luật, quy định rào cản quốc tế mới có hiệu lực thi hành; tạo điều kiện cho VDB tiếp cận các thông tin về thị trường, doanh nghiệp xuất khẩu có uy tín để VDB đưa ra các quyết định điều chỉnh kịp thời trong hoạt động TDXK

* Kiến nghị với doanh nghiệp: cần loại bỏ tư tưởng trông chờ và ỷ lại vào sự bao

cấp vốn của Nhà nước, phối hợp chặt chẽ với VDB để được tư vấn kịp thời, tháo gỡ khó khăn trong sản xuất kinh doanh và hoàn trả vốn vay; Tập trung xây dựng chiến lược doanh nghiệp để đạt mục tiêu phát triển bền vững trong dài hạn; Nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật thương mại quốc tế để sẵn sàng đối phó với tranh chấp thương mại quốc tế

KẾT LUẬN

Trang 10

Bên cạnh những thành tích đã đạt được, hoạt động tín dụng xuất khẩu của VDB bộc lộ những hạn chế rất cần được khắc phục Vẫn còn nhiều vấn đề bỏ ngỏ đòi hỏi VDB sớm có những sách lược phù hợp trong việc mở rộng TDXK Luận văn của tôi đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về hoạt động tín dụng xuất khẩu của NHPT, đánh giá thực trạng mở rộng hoạt động TDXK tại VDB giai đoạn 2006-2014, qua đó đưa ra các giải pháp, đề xuất, kiến nghị nhằm mở rộng hoạt động tín dụng xuất khẩu trong thời gian tới

Ngày đăng: 15/01/2021, 10:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w