1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lối xưng hô trong gia đình người Việt - Lê Thị Minh Hiền (Ngôn ngữ học k22)

6 114 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 354,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỐI XƯNG HÔ TRONG GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI VIỆT LÊ THỊ MINH HIỀN NGÔN NGỮ HỌC K22, KHOA KHXH&NV, TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN TÓM TẮT Trong những năm gần đây, văn hóa xưng hô trong giao tiếp là mộ

Trang 1

LỐI XƯNG HÔ TRONG GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI VIỆT

LÊ THỊ MINH HIỀN NGÔN NGỮ HỌC K22, KHOA KHXH&NV, TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

TÓM TẮT Trong những năm gần đây, văn hóa xưng hô trong giao tiếp là một trong những biểu hiện văn hóa của người Việt đang được quan tâm rất nhiều, đặc biệt là cách thức xưng hô giữa các mối quan hệ trong gia đình Bài viết này trình bày về sự đa dạng, phong phú và khác biệt về lối xưng hô trong gia đình người Việt dưới sự ảnh hưởng văn hóa của từng vùng miền Nhờ đó có thể thể hiện được nền văn hiến lâu đời và bản sắc văn hóa Việt Nam thông qua phương tiện ngôn ngữ

Từ khóa: Lối xưng hô trong gia đình người Việt, văn hóa xưng hô trong giao tiếp

ASBTRACT

THE WAY OF ADDRESSING IN THE VIETNAMESE FAMILY

In recent years, culture of vocative in communication is one of the cultural manifestations of the Vietnamese that people are paying much attention Especially the way of addressing between relationships

in the family This article presents diversity, richness and difference of the way of addressing between relationships in the Vietnamese family which influenced by the culture of each region Thus, it is possible

to express the long-standing culture and national identity of Vietnam through the language

Keywords: The way of addressing in the Vietnamese family, culture of vocative in communication

1 Giới thiệu

Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam Quả đúng là như vậy khi nói về

ngôn ngữ của người Việt Ngôn ngữ chính là phương tiện phản ánh tính chất xã hội, bản sắc văn hóa dân tộc của một quốc gia Một trong những biểu hiện rõ nhất của việc ngôn ngữ phản ánh đặc tính xã hội, chính là cách thức xưng hô Có người cho rằng việc xưng hô trong tiếng Việt cũng phức tạp không kém khi giao thiệp trong đời sống Một đất nước có

bề dày lịch sử hơn bốn nghìn năm văn hiến cộng hưởng với sự tiếp nhận tinh hoa văn hóa

phương Tây và tư tưởng Nho giáo, thì không thể chỉ có một từ “I” dùng cho ngôi thứ nhất

và một từ “you” dành cho ngôi thứ 2 như trong tiếng Anh Thực ra, cách xưng hô trong

tiếng Việt rất phong phú, rõ ràng, có tôn ti trật tự, và rất văn minh Cách xưng hô trong

Trang 2

tiếng Việt tượng trưng cho một nền văn minh lâu đời về gia giáo và việc giao tế ngoài xã hội Lễ phép và tôn ti trật tự phân minh thể hiện được dân tộc ta có nền văn hiến lâu đời

Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này của các tác giả: Nguyễn Văn Khang (1996), Nguyễn Thị Thanh Bình (1996), Vũ Thị Thanh Hương (1997), Lương Thị Hiền (2007), Để hiểu rõ cách xưng hô trong tiếng Việt, chúng ta cùng tìm hiểu và nghiên cứu thông qua việc phân tích, so sánh, đối chiếu các tài liệu, công trình khoa học của các tiền bối đi trước và ôn lại phong tục Việt Nam nhìn từ góc độ lối xưng hô trong phạm vi gia đình

2 Nội dung

Người Việt ta có cách xưng gọi với người đối thoại khá rạch ròi, rõ ràng, ý nhị và văn hóa Rất nhiều trường hợp trong phạm vi gia đình, người nghe sẽ hiểu hoặc đoán được mối quan hệ, vai thứ giữa hai người Tuy nhiên, gắn với mỗi vùng miền sẽ có những văn

hóa xưng hô khác nhau Ví dụ khi ta nghe câu nói: “Cậu đi chợ mua dùm chị vài ký trái

cây” (là cách xưng hô của chị gái với em trai) Hay một cách xưng gọi thân mật, bình dân

khác: “Dượng mày mời đám mà anh bận đi không được” (là lời anh vợ nói với em rể), đó

là hai cách xưng hô đặc trưng của Nam bộ

Một trong những quy tắc xưng hô của người Việt đó là dù ở trong hoàn cảnh nào,

vị trí nào, mình luôn luôn khiêm tốn, lịch sự, lễ phép, tình cảm và tế nhị; tránh làm phật lòng, xúc phạm người khác Đó chính là thước đo sự lịch thiệp và văn hóa của mỗi người Đối với gia đình, khi nói chuyện với người lớn tuổi hơn mình, tốt hơn là phải luôn luôn

dùng cách “thưa gửi” và “gọi dạ bảo vâng” chứ không bao giờ nói trống không với người

trên, lớn tuổi, cao cấp hơn Người Việt chúng ta thường dùng tiếng “thưa” trước khi xưng

hô với người ở vai trên mình, chẳng hạn như: “Thưa mẹ con đi học…” Đồng thời khi trả lời hoặc đối đáp lại điều gì với người lớn hơn mình đều bắt đầu với chữ “Dạ/ Vâng/ ạ”

để tỏ vẻ kính trọng và lễ phép Ví dụ: “Con chào bà ạ!”; “Vâng ạ!”

2.1 Cách xưng hô trong mối quan hệ về thứ bậc

Thông thường một gia đình điển hình ở Việt Nam có 03 thế hệ: ông bà, cha mẹ và

con cái hay còn gọi là tam đại đồng đường Cũng có bài trường hợp có gia đình có đến 4 thế hệ gọi là tứ đại đồng đường hay 5 thế hệ ngũ đại đồng đường Việc xưng hô các thành

Trang 3

viên trong gia đình tùy thuộc về nề nếp truyền thống gia đình và vùng miền nơi gia đình sinh sống Có hơn 60 cách xưng hô khác nhau xét về mối quan hệ trong gia đình

Nhìn chung quan hệ họ hàng trong gia đình ở Việt Nam rất phức tạp, người Việt có

thuật ngữ dây mơ rễ má để hình dung những mối quan hệ nêu trên, trong đó thì những mối quan hệ cơ bản nhất thì nằm trong diện tứ thân phụ mẫu (Bố mẹ chúng ta gọi là thân phụ

và thân mẫu Bố mẹ đẻ của vợ cũng gọi là thân phụ và thân mẫu Bốn bậc đó các cụ gọi gọn lại là tứ thân phụ mẫu)

Trong cách xưng hô với người ở vai trên, chúng ta tránh không gọi tên tục (tên khai sinh) của ông bà, cha mẹ, cô cậu, dì dượng và chú bác Chúng ta chỉ xưng hô bằng danh

xưng ngôi thứ trong gia đình Đối với anh/ chị, chúng ta có thể thêm các đại từ anh/ chị/

em trước thứ bậc Với người có vai vế nhỏ tuổi hơn, cũng không được gọi tên anh/chị trong

gia đình một cách trống không Tuy nhiên, ở thứ bậc là anh chị vẫn có thể gọi trực tiếp tên

của em hay thêm từ em trước tên riêng Ví dụ: “Em Vi lấy cho chị cốc nước.” hay “ Vi lấy

cho chị cốc nước.”

Các anh chị em của cha mẹ ta gồm có: chú, bác, cô, dì, cậu, mợ, và dượng (sẽ trình bày cụ thể ở mục sau)

2.2 Xưng hô với cha mẹ

Người đàn ông và người phụ nữ sinh ra mình có rất nhiều tên gọi: bố mẹ, ba mẹ, ba

má, ba mạ, cha mẹ, thầy u,

Ở miền Bắc và Trung, người đàn ông sinh ra mình được gọi là Bố hoặc Ba, ở một

số vùng trung du miền núi và làng quê người ta thương hay gọi là Thầy; nhưng lại là Cha nếu ở miền Nam, là Tía ở miền Tây Nam Bộ

Tiếng gọi người phụ nữ sinh ra mình cũng tương tự như vậy Gồm có: mẹ, me, u ( miền Bắc), mệ, mạ (miền Trung), má, bầm (miền Nam),

Khi con cháu trong gia đình kết hôn, cách xưng hô của con dâu, con rể đối với bố

mẹ phía vợ/chồng: bố/ba/cha/tía/thầy (vợ/chồng), mẹ/má/mạ (vợ/chồng), Tương tự đối với cách gọi ông bà Tuy nhiên, trên thực tế, khi giao tiếp thường giản lược tiếng “vợ”/

“chồng” để thể hiện sự thân mật và gần gũi giữa dâu rể và gia đình

2.3 Xưng hô với anh/ chị/ em

Trang 4

Nếu xét quan hệ ngang hàng với Ta/Tôi thì có anh chị em ruột (cùng cha mẹ) và

anh chị em họ (cùng ông bà nhưng khác cha mẹ) Người con trai đầu lòng của cha mẹ mình

gọi là anh cả, tiếp đến là anh thứ (người Bắc và Trung) hay ở miền Nam, khi người ta gọi tên các thành viên trong gia đình thường gọi tên kèm theo thứ tự sinh ra (anh ba, anh tư,

nếu gia đình có nhiều con), ví dụ: Ông Lê Hoàng Quân là con đầu lòng được gọi là là Hai Quân, ông Nguyễn Văn Đua là con thứ hai nên gọi là Ba Đua, Tương tự, người con gái

đầu lòng của cha mẹ mình gọi là chị cả, tiếp đến là chị thứ (người Bắc và Trung) hay chị

hai, chị ba, chị tư, (người Nam)

Với gia đình có con cái đã kết hôn, vợ của các anh/ em trai ta gọi là chị/em dâu Chồng của chị gái/em gái gọi là anh/em rể Anh chị em của phía chồng gọi chung là "anh

chị em chồng" và tương tự với phía vợ là "anh em chị vợ" Cụ thể, anh của vợ hay anh của

chồng gọi là anh hay bác, còn khi nói chuyện với người khác thì dùng ông anh (của) nhà

tôi, anh vợ/chồng tôi Chị của chồng hay chị của vợ gọi là chị hay bác, còn khi nói chuyện

thì dùng chị chồng, chị vợ, bà chị (của) nhà tôi, Em trai của chồng hay vợ gọi là em hay

chú Em gái của chồng hay vợ gọi là em, cô, hay dì Các từ bác, chú, cô hay dì trong các

trường hợp xưng hô với anh chị là cách chúng ta gọi thế cho con mình và có nghĩa là anh, chị, em của mình

2.4 Xưng hô giữa vợ chồng

Một trong những biểu hiện hiện đại hóa trong cách xưng hô đó chính là sự thay đổi

về cách xưng hô giữa vợ chồng trong gia đình Việt từ xưa đến ngày nay

Vợ chồng thời xưa có cách xưng hô hoàn toàn khác so với ngày nay Thời Pháp

thuộc, các cặp vợ chồng ở gia đình quyền quý gọi nhau là cậu - mợ, trong khi gia đình bình dân hơn thì gọi đơn giản là anh - chị, có vùng vợ chồng gọi nhau là nhà ta Lùi lại khoảng 30-40 năm trước, vợ chồng gọi nhau bằng mình Mỗi lần xưng hô, gọi mình ơi, thể hiện tình cảm và sự gắn bó, tuy hai mà một Ngày nay cách xưng hô mình vẫn tồn tại nhưng

hiếm, không phổ biến

Các cặp vợ chồng trẻ ngày nay lại không còn duy trì cách xưng hô như truyền thống,

thường xưng hô đơn giản là anh em, hiện đại hơn thì gọi nhau là ông xã, bà xã; chồng ơi,

vợ ơi; khi có tuổi thì gọi nhau là ông/bà Sở dĩ có sự thay đổi như vậy là do xu thế phát

Trang 5

triển của xã hội, sự giao thoa của các nền văn hóa, và đất nước tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, từ đó nền văn hóa Việt Nam có sự thay đổi dẫn đến lối xưng

hô, cụ thể là xưng hô giữa vợ - chồng cũng thay đổi

Trong gia đình hiện đại, mối quan hệ vợ chồng được xây dựng trên cơ sở tình yêu chân chính, sự bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau Những giá trị đó được biểu hiện trong việc lựa chọn vợ (hoặc chồng) một cách tự do của người trong độ tuổi thành hôn, trong việc tham gia lao động, công việc xã hội, trong việc đóng góp và hưởng thụ tài sản gia đình, trong việc quyết định những vấn đề chung của gia đình (sinh đẻ có kế hoạch, ly hôn, ) giữa vợ và chồng Mối quan hệ vợ chồng mang sắc thái tốt đẹp: coi trọng giá trị lòng trung thuỷ, tình nghĩa vợ chồng, sự hoà thuận, hơn nữa là sự bình đẳng, quyền tự do dân chủ của mỗi người, cùng quan tâm đến lợi ích riêng cũng như lợi ích của cả gia đình Nền tảng của một gia đình hạnh phúc phải là mối quan hệ tốt đẹp, hiểu biết, thông cảm và thương yêu nhau giữa vợ và chồng, là cơ sở ngăn chặn bạo lực giữa vợ và chồng trong gia đình, là một mục tiêu nhằm hướng tới xây dựng gia đình đạt chuẩn gia đình văn hoá

2.5 Xưng hô trong mối quan hệ họ hàng

Trong quan hệ họ hàng phía nội, anh trai của cha gọi là bác, em trai của cha là chú, chị của cha còn được gọi là bác gái Em gái của cha là cô hay o (theo cách xưng hô miền Bắc, Trung) Thím là vợ của chú; dượng là chồng của cô Có một vài nơi ở miền Trung và

miền Nam chồng của cô được gọi là chú

Trong quan hệ họ hàng phía ngoại, anh trai, chị gái của mẹ gọi là bác (miền Bắc, miền Nam), em trai/ anh trai của mẹ gọi là cậu (miền Trung); em gái của mẹ gọi là dì Vợ của cậu gọi là mợ (miền Trung); chồng của dì gọi là chú (miền Bắc, miền Nam), là dượng

(miền Trung)

Có những gia đình bắt con cái gọi cậu và dì bằng chú và cô vì muốn có sự thân thiết giống nhau giữa hai gia đình bên ngoại và bên nội, tức là bên nào cũng là bên nội cả

3 Dấu ấn văn hóa trong cách xưng hô của người Việt

Từ lâu đời, người Việt mình có truyền thống về lễ phép và lịch sự trong cách xưng

hô Các con cháu có lễ phép và có giáo dục thường biết đi thưa về trình chứ không phải muốn đi thì đi muốn về thì về Lời chào cao hơn mâm cỗ, khi nói chuyện với bố mẹ và ông

Trang 6

bà, con cháu thường dùng cách thưa gửi và gọi dạ bảo vâng chứ không bao giờ nói trống không với người trên Người Việt chúng ta thường dùng kính ngữ khi giao tiếp trong xã hội và những người lớn tuổi trong gia đình, tiếng thưa trước khi xưng hô với người ở vai

trên của ta, chẳng hạn như: “Thưa mẹ con đi học” “Thưa ông bà con đã về học” “Thưa

cô con về” “Thưa ba, ba bảo con điều chi ạ?” Khi trả lời bố mẹ hay ông bà, con cháu

thường dùng chữ dạ, ạ, vâng ạ, vâng

4 Kết luận

Tiếng để xưng hô trong gia đình Việt Nam thật phong phú Dù cố gắng nhớ lại nhiều cách xưng hô mà tôi từng nghe thấy, nghe đó đây trong cuộc sống và thấy viết trên sách báo, nhưng tôi biết vì điều kiện thời gian và tài liệu nghiên cứu còn hạn hẹp nên bài viết còn hạn chế về mặt thu thập thông tin Mỗi phương ngữ, miền Trung, miền Bắc, còn

có rất nhiều cách xưng hô khác nữa Thông qua ngôn ngữ, cách xưng hô trong gia đình

Việt Nam thể hiện được nhiều sắc thái văn hoá vững chắc của dân tộc

Mong rằng bài viết này có thể giúp ích được phần nào cho chúng ta hoặc những người nước ngoài đang tìm hiểu về Việt Nam có thể hiểu được nền văn hoá Việt Nam phong phú và thú vị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Lê Thị Bích Hồng, Văn hóa ứng xử trong gia đình truyền thống và hiện đại, Ban

Tuyên giáo Trung ương, (2015)

2 Nguyễn Văn Khang, Ngôn ngữ học xã hội, NXB Giáo dục Việt Nam, (2012)

3 Nguyễn Văn Khang, Ứng xử ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình người Việt, Nxb

Văn hóa – Thông tin, (1996)

Ngày đăng: 15/01/2021, 10:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w