thông tin để theo kịp nhu cầu phát triển các sản phẩm/dịch vụ ngân hàng của thị trường, giúp VCB tăng sức cạnh tranh trong việc mở rộng dịch vụ với khách hàng FDI. Bên cạnh những giải p[r]
Trang 1TÓM TẮT LUẬN VĂN
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)“đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong
sự phát triển của Việt Nam.”Với vốn đầu tư thực hiện khoảng 12,2 triệu USD/năm và vẫn tiếp tục tăng mỗi năm, khu vực FDI hiện đang đóng góp ~ 20% GDP, ~ 20% thu NSNN, tạo 2,2 triệu việc làm, đặc biệt, khu vực này đang đóng góp ~70% giá trị XK của Việt Nam Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam với xuất phát điểm là ngân hàng đối ngoại, đội ngũ nhân viên có trình độ ngoại ngữ tốt, được đánh giá là có lợi thế trong việc
mở rộng dịch vụ đối với nhóm khách hàng FDI Thực tế, những năm gần đây, giao dịch của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam đối với nhóm khách hàng FDI đã có mức tăng trưởng đáng kể, đóng góp vào kết quả hoạt động chung của toàn ngân hàng Tuy vậy, bên cạnh những thành công đạt được, giao dịch của VCB đối với nhóm khách hàng này vẫn còn nhiều điểm hạn chế như số lượng khách hàng FDI còn thấp hơn so với kế hoạch (chỉ đạt 51% kế hoạch), mức độ tăng trưởng số dư tiền gửi thấp hơn ngân hàng khác (thấp hơn Vietinbank ~2%); mức độ tăng trưởng dư nợ cho vay có xu hướng giảm (năm 2016 chỉ đạt 19%, so với mức 54% của 2015) và hiện thấp hơn mức độ tăng trưởng chung của cả khối KHBB (22,8%); mức độ tăng trưởng doanh số thanh toán có xu hướng giảm (năm 2016 chỉ đạt 13,7% so với mức 46% của năm 2015) Với những lý do trên,
đề tài nghiên cứu: “Mở rộng dịch vụ đối với doanh nghiệp FDI tại Ngân hàng TMCP
Ngoại thương Việt Nam” được tác giả lựa chọn làm luận văn tốt nghiệp
Luận văn được thực hiện nhằm“hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan”đến mở rộng dịch vụ ngân hàng đối với doanh nghiệp; phân tích, đánh giá thực trạng giao dịch của các“khách hàng doanh nghiệp FDI tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam giai đoạn 2014-2016 và từ đó đề xuất các giải pháp nhằm mở rộng dịch vụ đối với doanh nghiệp FDI tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam.”Do đặc thù quy định về định danh khách hàng FDI tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (chỉ các khách hàng FDI bán buôn là thuộc danh mục khách hàng do Ban khách hàng FDI của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam quản lý và có các số liệu được tổng hợp báo cáo), trong phạm vi luận văn này, các thông tin phân tích, đánh giá liên quan đến khách hàng doanh nghiệp FDI tại
Trang 2Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam là các khách hàng FDI bán buôn, thuộc danh mục khách hàng do Ban khách hàng FDI của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam quản lý
Về“phương pháp nghiên cứu, luận văn sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập từ các tài liệu, báo cáo nội bộ của Ban khách hàng FDI và của Trụ sở chính Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt”Nam, website của một số ngân hàng và cơ quan nhà nước…
Dữ liệu sau khi thu thập được phân loại, sắp xếp, phân tích, so sánh, tổng hợp, sử dụng sơ
đồ, biểu bảng để phân tích và xử lý
Về nội dung luận văn, ngoài Mục lục, Lời mở đầu, Danh mục tài liệu tham khảo…, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
Trong Chương 1,“luận văn trình bày cơ sở lý luận về mở rộng dịch vụ ngân hàng đối với doanh nghiệp bao gồm các nội dung khái quát về doanh nghiệp (trong đó có doanh nghiệp FDI) và ngân hàng thương”mại, khái niệm mở rộng dịch vụ ngân hàng“đối với doanh nghiệp và các chi tiêu đánh giá cũng như các nhân tố ảnh hưởng tới việc mở rộng dịch vụ ngân hàng”đối với doanh nghiệp
Trọng tâm của chương 1 là lý luận về về mở rộng dịch vụ ngân hàng đối với doanh nghiệp Luận văn trình bày quan điểm “mở rộng dịch vụ ngân hàng đối với doanh nghiệp” tức là làm cho các dịch vụ ngân hàng (tiền gửi, tín dụng, thanh toán…) cung cấp cho khách hàng doanh nghiệp tăng lên về số lượng, giá trị so với trước Để đánh giá kết quả của việc mở rộng dịch vụ ngân hàng đối với doanh nghiệp, luận văn đưa ra một số chỉ tiêu về tăng trưởng số lượng khách hàng doanh nghiệp giao dịch với ngân hàng và chỉ tiêu về tăng trưởng giá trị giao dịch với các khách hàng doanh nghiệp Về giá trị giao dịch, tác giả tập trung vào ba loại giao dịch chính của khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng bao gồm dịch vụ tiền gửi, dịch vụ cho vay và dịch vụ thanh toán với giá trị giao dịch tương ứng bao gồm số dư tiền gửi, dư nợ cho vay và doanh số thanh toán Các chỉ tiêu được đánh giá cả về mức độ tăng trưởng tuyệt đối và mức độ tăng trưởng tương đối
Trang 3Về các nhân tố ảnh hưởng tới việc mở rộng dịch vụ ngân hàng đối với doanh nghiệp, tác giả tập trung nghiên cứu các nhân tố chủ quan mà ngân hàng có thể áp dụng các giải pháp để tác động, điều chỉnh và khắc phục được, bao gồm: phương pháp quản lý;“số lượng và chất lượng nguồn nhân lực; đặc điểm và sự đa dạng của sản phẩm;”sự phát triển mạng lưới và trình độ công nghệ Ngoài ra, tác giả cũng nghiên cứu các nhân tố khách quan như sự ổn định về chính trị và“các quy định pháp lý về hoạt động của ngân hàng.”
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG MỞ RỘNG DỊCH VỤ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP FDI TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
Ngoài phần tóm lược“tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam và giới thiệu khái quát về Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt”Nam, trọng tâm của Chương 2
là phân tích thực trạng mở rộng dịch vụ đối với doanh nghiệp FDI tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam và đánh giá những mặt thành công, những điểm hạn chế cũng như phân tích, tìm ra nguyên nhân của những hạn chế này
Thứ nhất, về thực trạng mở rộng dịch vụ đối với doanh nghiệp FDI tại Ngân hàng
TMCP Ngoại thương Việt Nam Sau phần trình bày về tiêu chí định danh khách hàng doanh nghiệp FDI của VCB và các sản phẩm dịch vụ VCB thiết kế riêng cho khách hàng doanh nghiệp FDI, tác giả tập trung nghiên cứu sự thay đổi số lượng khách hàng FDI bán buôn tại VCB và sự thay đổi giá trị giao dịch của các khách hàng FDI bán buôn tại VCB chủ yếu trong giai đoạn 2014-2016
- Sự thay đổi số lượng khách hàng FDI bán buôn tại VCB: Tổng số lượng khách hàng FDI của VCB chiếm khoảng 40%-50% số lượng doanh nghiệp FDI của cả nước Về
số tuyệt đối, số lượng khách hàng FDI bán buôn của VCB tăng lên qua từng năm, phù hợp với mức tăng hàng năm của cả nước Về mức độ tăng trưởng tương đối, số lượng khách hàng FDI bán buôn của VCB năm 2015 so với 2014 ở mức 7,8% Tuy nhiên, năm
2016 so với 2015, số lượng khách hàng FDI bán buôn của VCB tăng mạnh ở mức 27% Tuy có mức tăng trưởng cao so với năm 2015, số lượng khách hàng FDI bán buôn mới của VCB năm 2016 chỉ đạt ~51% kế hoạch theo chỉ tiêu của hội đồng quản trị VCB giao
So với Vietinbank, số lượng khách hàng FDI của Vietinbank tại thời điểm cuối năm 2016 khoảng 2920 khách hàng, lớn hơn gần 1000 khách hàng so với VCB
Trang 4- Sự thay đổi giá trị giao dịch của các khách hàng FDI bán buôn tại VCB:
Về dịch vụ tiền gửi, huy động vốn từ khách hàng FDI bán buôn có mức tăng trưởng trong 3 năm qua cả về giá trị tuyệt đối và mức độ tăng trưởng So với các ngân hàng nước ngoài, hoạt động huy động vốn từ khách hàng FDI của VCB vẫn gặp khá nhiều khó khăn do các ngân hàng nước ngoài thường có xếp hạng tín nhiệm từ mức A trở lên, trong khi VCB vướng trần quốc gia nên thường chỉ được xếp hạng ở mức B+ hoặc BB- So với các ngân hàng nội địa khác, VCB vẫn có lợi thế khá lớn trong thu hút tiền gửi từ các doanh nghiệp FDI do có mức xếp hạng tín nhiệm tốt nhất so với các ngân hàng khác Theo số liệu từ CIC, thị phần tiền gửi của khách hàng FDI tại VCB năm 2016 chiếm 50%, trong khi Vietinbank và BIDV chiếm lần lượt là 32% và 18% Tuy nhiên, theo số liệu trên website của Vietinbank, tỷ lệ tăng trưởng huy động vốn từ khách hàng FDI của Vietinbank đạt 33% Với mức độ tăng trưởng của Vietinbank cao như hiện nay, nếu VCB không có tích cực tăng cường các giải pháp thu hút tiền gửi từ khách hàng FDI thì Vietinbank có khả năng sẽ đuổi kịp VCB trong một vài năm tới
Về dịch vụ cho vay, giá trị tuyệt đối dư nợ vay của khách hàng FDI tại VCB tăng qua các năm Mức độ tăng trưởng dư nợ năm 2016 chỉ đạt 19%, thấp hơn mức độ tăng trưởng của
2015 và thấp hơn mức độ tăng trưởng dư nợ vay chung của toàn khối bán buôn (22,8%) Tỷ trọng dư nợ tín dụng khách hàng FDI chỉ ở mức khoảng 10% tổng dư nợ của khối bán buôn (thấp hơn so với chỉ tiêu kế hoạch 2016 là 15%) Đối“với tiền vay, các doanh nghiệp FDI thường vay tại các ngân hàng nước ngoài do các ngân hàng nước ngoài” có lợi thế tuyệt đối so với VCB và các ngân hàng bản địa về lãi suất cho vay và các điều kiện về tín dụng Do đánh giá ngân hàng nước ngoài có lợi thế cạnh tranh vượt trội so với ngân hàng trong nước trong nước về cho vay khách hàng FDI, VCB hiện chỉ phân tích và đánh giá thị phần dư nợ cho vay khách hàng FDI của VCB so với 2 ngân hàng trong nước lớn, cùng quy mô là Vietinbank và BIDV Theo số liệu từ CIC năm 2015, thị phần dư nợ cho vay khách hàng FDI của Vietinbank cao nhất, chiếm 42%, VCB đứng thứ 2, chiếm 36%, thị phần của BIDV duy trì mức gần 20%
Về dịch vụ thanh toán, doanh số thanh toán XNK của nhóm khách hàng FDI bán buôn tại VCB tăng trưởng về giá trị tuyệt đối qua các năm Tuy nhiên, mức độ tăng trưởng của doanh số thanh toán có xu hướng giảm (năm 2016 chỉ đạt 13,7% so với mức 46% của năm 2015) Khách hàng FDI chỉ chiếm 37% trong danh mục thanh toán XNK của khối bán buôn, tương đương với 26% danh mục thanh toán XNK của toàn hàng
Trang 5Trong khi đó, doanh nghiệp FDI chiếm tới 70% thanh toán XK cả nước Điều này cho thấy, phát triển dịch vụ thanh toán XNK cho đối tượng khách hàng FDI của VCB chưa tương xứng với tiềm năng Về các dịch vụ thanh toán trong nước, hiện nay VCB chưa bóc tách số liệu về thanh toán trong nước đối với khách hàng FDI để đánh giá mức độ mở rộng dịch vụ Tuy nhiên, thực tế giao dịch tại các chi nhánh cho thấy các ngân hàng nội địa khác đang cạnh tranh rất mạnh để thu hút dịch vụ thanh toán trong nước của các khách hàng FDI
Về các dịch vụ khác, VCB hiện chưa phân tách và đánh giá mức độ và tiềm năng của giao dịch mua bán ngoại tệ đối với nhóm khách hàng FDI để có chính sách mở rộng dịch vụ mua bán ngoại tệ với nhóm khách hàng này Ngoài ra, VCB đang nỗ lực để phát triển các sản phẩm ngân hàng điện tử đáp ứng yêu cầu của các khách hàng FDI, tuy nhiên
do hệ thống công nghệ lạc hậu nên VCB đang gặp rất nhiều khó khăn
Thứ hai,“đánh giá những mặt thành công và hạn chế trong việc mở rộng dịch vụ đối với doanh nghiệp FDI tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt”Nam Trong giai đoạn 2014-2016, số lượng khách hàng FDI của VCB có sự gia tăng cả về giá trị tuyệt đối
và giá trị tương đối Về giá trị giao dịch, doanh số thanh toán XNK và dư nợ cho vay gia tăng về giá trị tuyệt đối, dịch vụ huy động vốn tăng trưởng cả về“giá trị tuyệt đối và giá trị tương đối.”Bên cạnh những thành công đó, còn có những điểm hạn chế trong quá trình
mở rộng dịch vụ với doanh nghiệp FDI tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam: (1) số lượng khách hàng FDI bán buôn mới đạt 51% kế hoạch và hiện chỉ gần bằng 70%
số lượng khách hàng FDI của Vietinbank; (2) mức độ tăng trưởng huy động vốn từ khách hàng FDI của VCB hiện là 31% thấp hơn so với Vietinbank (33%); (3)“mức độ tăng trưởng dư nợ vay của khách hàng FDI (19%) thấp hơn mức độ tăng trưởng dư nợ vay chung của toàn khối bán buôn”(22,8%), chưa đạt kế hoạch về tỷ trọng trong khối (chỉ chiếm tỷ trọng 10% tổng dư nợ khối khách hàng bán buôn của VCB so với chỉ tiêu tỷ trọng 15%), VCB đang thấp hơn Vietinbank cả về giá trị dư nợ vay và mức độ tăng trưởng và rất khó cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài; (4) mức độ tăng trưởng doanh số thanh toán XNK của nhóm khách hàng FDI bán buôn tại VCB có xu hướng giảm, doanh số thanh toán XNK của doanh nghiệp FDI qua VCB còn chiếm tỷ lệ thấp, chưa tương xứng với tiềm năng
Trang 6Thứ ba, nguyên nhân dẫn đến những hạn chế nêu trên bao gồm những nguyên
nhân chủ quan và những nguyên nhân khách quan Về chủ quan, có những nguyên nhân sau:
- Phương pháp quản lý còn một số điểm chưa phù hợp: (1) Tiêu chí định danh khách hàng FDI thuộc quản lý của Ban khách hàng FDI hiện phức tạp hơn nhiều so với tiêu chí định danh khách hàng FDI của một số cơ quan quản lý nhà nước cũng như của các ngân hàng khác; (2) việc phân tích và đánh giá thị phần giao dịch về tiền gửi, tín dụng, thanh toán… đối với nhóm khách hàng FDI chỉ trên cơ sở so sánh với 2 ngân hàng
là Vietinbank và BIDV là chưa toàn diện; (3) các chi nhánh VCB thiếu tính chủ động trong tiếp cận khách hàng FDI, đặc biệt là với các khách hàng FDI mới; (4) Thời hạn phản hồi khách hàng của VCB quá lâu so với các ngân hàng khác
- Nguồn nhân lực phụ trách khách hàng FDI còn thiếu cả về lượng và chất: (1) số
lượng cán bộ chuyên trách khách hàng FDI tại Trụ Sở chính ở khu vực phía Bắc và khu vực phía Nam hiện quá mỏng; (2) trình độ nghiệp vụ của cán bộ phụ trách khách hàng FDI chưa đáp ứng được yêu cầu công việc; (3) thiếu nhân sự thông thạo ngôn ngữ của các khách hàng FDI chủ chốt, trình độ ngoại ngữ của các cán bộ phụ trách FDI chưa tốt
- Đặc điểm và sự đa dạng của sản phẩm chưa đáp ứng được yêu cầu giao dịch của
khách hàng FDI: (1) VCB chưa có một phòng ban chuyên trách về phát triển sản phẩm cho nhóm khách hàng bán buôn, đặc biệt đối với nhóm khách hàng FDI; (2) VCB chưa
có hệ thống bản chào và Hợp đồng bằng tiếng Anh để xúc tiến giao dịch với khách hàng FDI; (3) hầu hết các sản phẩm dành riêng cho khách hàng FDI chưa đa dạng và chưa hiệu quả; (4) VCB chưa phân tích và đặt mục tiêu về mua bán ngoại tệ với nhóm khách hàng FDI mặc dù đây là sản phẩm rất tiềm năng đối với nhóm khách hàng này
- Phát triển mạng lưới chưa phù hợp để mở rộng dịch vụ với KH FDI: Các khu
công nghiệp là nơi tập trung nhiều nhà máy khách hàng FDI lớn Tuy vậy, hiện nhiều khu công nghiệp không có phòng giao dịch của VCB, dẫn tới VCB mất lợi thế rõ rệt so
với các ngân hàng khác trong việc mở rộng dịch vụ đối với khách hàng FDI
- Công nghệ lạc hậu chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển sản phẩm: Hiện nay, hệ
thống công nghệ thông tin của VCB đã trở nên lạc hậu ngay cả khi so sánh với các ngân
Trang 7hàng nội địa khác Điều này dẫn tới hệ thống công nghệ thông tin rất khó khăn trong việc phát triển các sản phẩm mới cho khách hàng FDI
Ngoài những nguyên nhân chủ quan nêu trên, còn có những nguyên nhân khách quan như môi trường chính trị đôi khi có những biến động bất lợi cho việc mở rộng dịch
vụ với KH FDI, một số chính sách điều hành của NHNN chưa hợp lý (như chính sách áp trần lãi suất huy động VND và USD, chính sách yêu cầu các ngân hàng thương mại trong đó
có VCB áp dụng Basel II dẫn tới ảnh hưởng tỷ lệ CAR mà chưa có chính sách hỗ trợ các ngân hàng tăng vốn điều lệ, chính sách xử lý các ngân hàng yếu kém trong đó VCB phải hỗ trợ Ngân hàng Xây dựng (VNCB)…)
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP MỞ RỘNG DỊCH VỤ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP FDI TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
Trong Chương 3,“trên cơ sở phân tích thực trạng và nguyên nhân của những hạn chế trong việc mở rộng dịch vụ đối với khách hàng FDI tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam”giai đoạn 2014-2016, đồng thời căn cứ định hướng phát triển khối bán buôn của“Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (trong đó có khách hàng FDI), tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm mở rộng dịch vụ đối với khách hàng FDI”tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam như sau:
Thứ nhất là điều chỉnh một số điểm trong phương pháp quản lý giao dịch với KH
FDI cho phù hợp, bao gồm:
- Xem xét lại tiêu chí định danh khách hàng FDI để thống nhất một cách tương đối với tiêu chí định danh của các cơ quan quản lý và các ngân hàng khác: Tác giả đề xuất VCB xem xét điều chỉnh tiêu chí định danh khách hàng FDI theo quy định của ngân hàng BIDV “khách hàng FDI là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài từ 20% trở lên”
do phạm vi khách hàng FDI sẽ bao quát các tiêu chí chủ yếu của VCB, đồng thời lọc ra những khách hàng có tỷ lệ vốn góp nhỏ, không có ảnh hưởng đáng kể tới điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Tiêu chí đơn giản hơn cũng giúp các chi nhánh thuận lợi hơn khi định danh khách hàng FDI và khai báo trên hệ thống, thuận lợi cho công tác quản lý danh mục các khách hàng FDI
Trang 8- Phân tích và đánh giá“thị phần giao dịch với nhóm khách hàng FDI trên cơ sở so sánh với các ngân hàng khác, bao gồm cả ngân hàng nước ngoài và ngân hàng nội địa Ngoài các ngân hàng nội địa, VCB cần thực hiện việc tổng hợp thông tin qua Trung tâm thông tin tín dụng Quốc gia (CIC) về số dư tiền gửi, dư nợ tín dụng của các khách hàng FDI tại các ngân hàng nước ngoài để có cái nhìn tổng thể về thị phần hiện nay của VCB trong giao dịch với khách hàng FDI, xác định và phân tích chính sách giao dịch của các đối thủ cạnh”tranh chính
- Tăng cường chính sách giám sát và khuyến khích việc phát triển khách hàng FDI mới Trụ Sở chính cần định kỳ bán niên rà soát, đánh giá kết quả phát triển khách hàng mới cả về số lượng khách hàng FDI mới thiết lập được giao dịch và mức độ giao dịch của các khách hàng mới tại VCB Trụ Sở chính VCB cần tăng cường truyền thông đến các chi nhánh để tăng cường sự chủ động của các chi nhánh trong việc xúc tiến giao dịch với khách hàng FDI, có chính sách khuyến khích chi nhánh tiếp cận khách hàng mới là khách hàng lớn của ngân hàng khác
- Điều chỉnh quy trình tác nghiệp để rút ngắn thời hạn phản hồi khách hàng FDI
Bổ sung thời hạn xử lý từng bước trong những quy trình tác nghiệp riêng của từng loại giao dịch như tiền gửi, tín dụng, thanh toán… Trên cơ sở đó, cán bộ phụ trách khách hàng FDI có thể dễ dàng cung cấp cho khách hàng thời hạn phản hồi đối với từng loại giao dịch và xúc tiến thực hiện quy trình theo thời hạn quy định
Thứ hai là tăng cường số lượng và chất lượng nhân sự phục vụ giao dịch với
khách hàng FDI: (1) Tăng số lượng cán bộ thuộc hai bộ phận phụ trách khách hàng FDI miền Bắc và miền Nam lên tối thiểu 50% Bổ sung cán bộ có trình độ tiếng Nhật, tiếng Hàn Quốc và tiếng Trung Quốc; (2) Tăng cường đào tạo nâng cao chất lượng dịch vụ của các cán bộ VCB phụ trách khách hàng FDI
Thứ ba là tăng cường phát triển sản phẩm phù hợp với đặc thù của khách hàng
FDI, bao gồm:
- Thành lập“bộ phận chuyên trách về phát triển sản phẩm cho khối KH bán buôn: VCB cần phải sớm thành lập một bộ phận chuyên trách về phát triển sản phẩm cho khối khách hàng bán buôn nhằm phát triển các sản phẩm cho các khách hàng bán buôn, trong đó
Trang 9có những sản phẩm”phù hợp với đặc thù của khách hàng FDI
- Ban hành hệ thống bản chào và hợp đồng giao dịch bằng tiếng Anh: VCB cần gấp rút hoàn thiện hệ thống mẫu chuẩn các bản chào và Hợp đồng bằng tiếng Anh để áp dụng trên toàn hệ thống
- Đa dạng“hóa sản phẩm dành riêng cho khách hàng FDI: VCB cần đánh giá lại mức độ thành công của các sản phẩm dành riêng cho khách hàng FDI hiện hành để có chính sách điều chỉnh phù hợp với nhu cầu của các khách hàng FDI cũng như phù hợp với khả năng triển khai sản phẩm tại VCB, chú trọng xúc tiến dịch vụ mua bán ngoại tệ, phát triển những sản phẩm transaction banking, nghiên cứu và phát triển sản phẩm cho khách hàng FDI theo gói.”
Thứ tƣ là rà soát và bố trí lại mạng lưới phù hợp để mở rộng dịch vụ với KH FDI:
VCB cần rà soát để thành lập phòng giao dịch tại các khu công nghiệp lớn tập trung số lượng lớn các khách hàng FDI và xây dựng chính sách mở rộng dịch vụ với khách hàng FDI phù hợp với từng loại khu công nghiệp
Thứ năm là khẩn trương chuyển đổi, nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin: Với
nhu cầu cấp bách như hiện nay, VCB cần gấp rút đầu tư nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin để theo kịp nhu cầu phát triển các sản phẩm/dịch vụ ngân hàng của thị trường, giúp VCB tăng sức cạnh tranh trong việc mở rộng dịch vụ với khách hàng FDI
Bên cạnh những giải pháp nêu trên, nhằm mở rộng dịch vụ với khách hàng FDI tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương, tác giả cũng đề xuất một số kiến nghị:
- Đối với“Chính phủ, Chính phủ cần giữ vững môi trường chính trị ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp FDI.”
- Đối với NHNN, NHNN cần hoàn thiện khung pháp lý hỗ trợ các ngân hàng TMCP tăng vốn điều lệ, nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin quốc gia và xem xét điều chỉnh một số chính sách điều hành như chính sách áp trần lãi suất huy động, chính sách
xử lý các ngân hàng yếu kém
Qua ba chương của luận văn cho thấy“doanh nghiệp FDI đang ngày càng có vai trò quan trọng với nền kinh tế Việt Nam Trong bối cảnh đó, đối với ngành ngân hàng nói chung
và với Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam nói riêng, việc mở rộng dịch vụ với nhóm
Trang 10khách hàng này là rất cần thiết Hiện ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định, điển hình là danh mục khách hàng FDI tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam đang dần được mở rộng, các dịch vụ tiền gửi, tín dụng, thanh toán đều
đã có bước tăng trưởng hơn so với trước đây.”Tuy vậy, bên cạnh những thành tựu đạt được, sự
mở rộng dịch vụ với khách hàng FDI hiện vẫn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc và chưa có tính bền vững Các hạn chế chủ yếu xuất phát từ những thiếu sót của chính ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam trong Phương pháp quản lý; Nguồn nhân lực phụ trách KH FDI; Đặc điểm và“sự đa dạng của sản phẩm; Phát triển mạng lưới; và Trình độ công nghệ Trên cơ sở những nguyên nhân đã được xác định, luận văn đã đề xuất một số giải pháp để mở rộng dịch
vụ ngân hàng đối với doanh nghiệp FDI tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, bao gồm: (i) Điều chỉnh một số điểm trong phương pháp quản lý giao dịch với khách hàng FDI cho phù hợp; (ii) Tăng cường số lượng và chất lượng nhân sự phục vụ giao dịch với khách hàng FDI; (iii) Tăng cường phát triển sản phẩm phù hợp với đặc thù”của khách hàng FDI; (iv)
Rà soát và bố trí lại mạng lưới phù hợp để mở rộng dịch vụ với khách hàng FDI; và (v) Khẩn trương chuyển đổi nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin