1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ giữa phân phối thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

15 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 449,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thành phần, đa sở hữu phải triệt để khắc phục những tàn dư của chế độ phân phối bình quân, “cào bằng”, chia đều các nguồn lực và của cải làm ra, bất chấp chất lượng, hiệ[r]

Trang 1

LỜI GIỚI THIỆU

Theo lý thuyết truyền thống, thực hiện mục tiêu công bằng xã hội, đặc biệt là hướng tới phân phối thu nhập bình đẳng hơn có thể mâu thuẫn với mục tiêu đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động hiệu quả hơn và có tăng trưởng nhanh hơn Tuy nhiên, có nhiều lý do cho thấy sự phân phối thu nhập bình đẳng hơn

ở các nước nghèo như Việt Nam có thể có lợi cho tăng trưởng

Ở Việt Nam, tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập là những chủ đề được các nhà kinh tế đặc biệt quan tâm Tuy nhiên, các bài viết mới chỉ bàn riêng hoặc về tăng trưởng kinh tế hoặc về phân phối thu nhập Cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về mối quan hệ giữa phân phối thu nhập và tăng trưởng kinh tế

Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập là một vấn đề cấp thiết và có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn

Luận văn có bốn mục tiêu chủ yếu sau:

1 Hệ thống hóa lý thuyết về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập

2 Làm rõ thực trạng kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng trong phân phối ở Việt Nam trong thời gian qua

3 Phân tích định lượng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập ở Việt Nam qua số liệu chéo giữa các tỉnh

4 Đề xuất các chính sách cần thực hiện nhằm thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững đi đôi với việc thực hiện công bằng xã hội

Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu mà luận văn sử dụng bao gồm:

o Các phương pháp nghiên cứu chung và đặc thù sẽ được áp dụng (phân tích tổng hợp, lôgíc và lịch sử )

o Phân tích định lượng thông qua việc xây dựng các mô hình kinh tế lượng

để kiểm định mối quan hệ giữa phân phối thu nhập và tăng trưởng kinh tế Các số liệu tổng hợp được lấy từ các cuốn Niên giám thống kê, còn các số liệu theo tỉnh được lấy từ bốn cuộc điều tra mức sống dân cư Việt Nam (ĐTMSDC) 1992-93; 1997-98; 2002; và 2004

Trang 2

Chương 1

Phần đầu của chương này sẽ bàn về đo lường phân phối thu nhập và tăng trưởng kinh tế Sau đó chúng ta sẽ hệ thống hóa các lý thuyết đề cập đến mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập

I KHÁI NIỆM, ĐO LƯỜNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÂN PHỐI THU NHẬP

1 Khái niệm và đo lường:

Khái niệm phân phối thu nhập

Đo lường phân phối, một thước đo được sử dụng rất rộng rãi là Q5/Q1

- tỉ lệ giữa thu nhập bình quân của nhóm 20% hộ gia đình giàu nhất với thu nhập bình quân của nhóm 20% hộ gia đình nghèo nhất Một thước đo khác là

hệ số Gini

2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phân phối thu nhập

Sự khác biệt mang tính đền bù Một số công việc tương đối nhàn hạ,

vui vẻ và an toàn, trong khi đó lại có những công việc nặng nhọc, buồn tẻ và nguy hiểm Do vậy, người lao động cần có một mức lương cao hơn để thực hiện những công việc nặng nhọc, buồn tẻ và nguy hiểm

Vốn nhân lực Vốn nhân lực là sự tích luỹ đầu tư trong mỗi con người, ví

dụ như học vấn và kinh nghiệm làm việc

Năng lực, nỗ lực và cơ hội có thể giúp lý giải cho sự khác biệt về thu

nhập Một số người này thông minh hơn và khỏe mạnh hơn những người khác

và họ được trả lương theo năng lực tự nhiên của họ

Trang 3

II KHÁI NIỆM, ĐO LƯỜNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1 Khái niệm và đo lường

Khái niệm tăng trưởng kinh tế

Có hai cách đo lường: trước tiên, tăng trưởng kinh tế được tính bằng phần trăm thay đổi của mức sản lượng quốc dân

%

100 Y

Y Y

1 t t

t    

trong đó:

gt là tốc độ tăng trưởng của thời kỳ t

Y là GDP thực tế của thời kỳ t

C¸ch kh¸c: tính theo mức sản lượng bình quân đầu người được tính bằng tổng sản lượng hàng hoá và dịch vụ được tạo ra trong năm chia cho dân số

% 100

1

1

t tt

t pc

y

y y g

trong đó:

g pc t là tốc độ tăng trưởng GDP thực tế bình quân đầu người của thời kỳ t

y là GDP thực tế bình quân đầu người

2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu gợi ra bốn nhân tố quan trọng nhất quyết định tăng trưởng kinh tế của một quốc gia bao gồm:

o Sự tăng trưởng của lực lượng lao động xuất hiện do tăng dân số hay tăng tỉ lệ tham gia lực lượng lao động

o Đầu tư vào tư bản con người thông qua đào tạo hay tích luỹ kinh nghiệm từ thực tiễn công tác

o Đầu tư vào tư bản hiện vật như xây dựng nhà máy mới, mua sắm máy móc thiết bị mới cũng như các phương tiện vận tải và viễn thông mới

Trang 4

o Sự đổi mới công nghệ tạo ra những sản phẩm mới, các phương pháp sản xuất mới, và hình thức tổ chức kinh doanh mới

III MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÂN PHỐI THU NHẬP VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1 Tác động của tăng trưởng đến phân phối thu nhập

Tăng trưởng làm tăng sự bất bình đẳng về thu nhập

Công nghiệp hoá làm xuất hiện sự chuyển dịch lao động từ khu vực nông thôn sang khu vực công nghiệp và dịch vụ Quá trình công nghiệp hoá kéo theo việc ứng dụng công nghệ mới và cách thức trong tổ chức sản xuất Chỉ những người lao động được dào tạo và có tay nghề mới đáp ứng những công việc phức tạp và trong thời gian này số lượng lao động có chất lượng chưa nhiều Do có việc làm mới, số người này có thu nhập cao hơn nhiều so với số đông lao động giản đơn và vì thế sự bất bình đẳng tăng lên

Sự ra đời của lớp doanh nhân trực tiếp bỏ vốn ra kinh doanh nhằm mưu cầu lợi nhuận Họ là những người nhìn thấy cơ hội kinh doanh, chấp nhận rủi

ro và biết huy động nguồn lực

Kinh tế ngày càng phát triển thì cơ hội kinh doanh cũng được mở ra nhiều hơn

Phát triển làm giảm sự bất bình đẳng

Mức sống tăng lên, người dân đóng góp cho ngân sách quốc gia nhiều hơn, sự phát triển của công nghệ thông tin, thông tin liên tục thông suốt hơn Những nhân tố trên sẽ tác động làm giảm bớt sự tham nhũng

Công nghệ ngày càng đổi mới và lực lượng sản xuất ngày càng phát triển mạnh, đòi hòi sự mở rộng thị trường trên phạm vi toàn cầu

2 Ảnh hưởng của phân phối thu nhập đến tăng trưởng kinh tế

Một số nhà kinh tế và hoạch định chính sách tin rằng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập là điều kiện cần thiết để tăng tiết kiệm, đầu tư và do đó có

Trang 5

lợi cho tăng trưởng kinh tế Theo họ người giàu thường dành một tỉ lệ lớn hơn trong thu nhập tạo ra cho tiết kiệm so với người nghèo Do đó, một nền kinh

tế có phân phối thu nhập ít bình đẳng hơn sẽ tiết kiệm được nhiều hơn (qua

đó đầu tư nhiều hơn) và tăng trưởng nhanh hơn nền kinh tế có phân phối thu nhập bình đẳng hơn

Tuy nhiên, ở một thái cực khác, nhiều nhà kinh tế cho rằng bất bình đẳng

có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh các nước đang phát triển Họ đưa ra một số luận cứ cơ bản sau đây (24):

Thứ nhất, người giàu ở các nước đang phát triển chưa thực sự muốn

tiết kiệm để đầu tư vào nền kinh tế trong nước

Thứ hai, về phía người nghèo, do thu nhập và mức sống thấp nên chế độ

dinh dưỡng, tình trạng sức khoẻ và giáo dục kém Điều này làm giảm cơ hội tham gia hoạt động kinh tế và năng suất lao động của họ, và vì thế trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng xấu tới quá trình tăng trưởng

Thứ ba, thu nhập của người nghèo tăng nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ

sản xuất trong nước, trong khi người giàu có xu hướng dành phần thu nhập tăng thêm của họ để mua hàng nhập khẩu xa xỉ nhiều hơn

Thứ tư, chênh lệch thu nhập lớn và nghèo đói tuyệt đối phổ biến có thể

dẫn đến bất ổn về xã hội

Mối quan hệ giữa phân phối thu nhập và tăng trưởng kinh tế là mối quan

hệ đa chiều, hết sức phức tạp Có quá nhiều khác biệt giữa các quốc gia đến mức chúng ta không thể khái quát hóa tác động của tăng trưởng đến phân phối và tác động của phân phối đến tăng trưởng cho tất cả các quốc gia Điều này chỉ ra rằng chúng ta cần hết sức cẩn trọng trong quá trình phân tích và rút

ra các hàm ý chính sách

Trang 6

Chương 2

THỰC TRẠNG PHÂN PHỐI THU NHẬP VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM

Trong những năm 1980, có rất nhiều người Việt Nam sống trong nghèo khó Cho đến nay, mặc dù những người nghèo thường rất nỗ lực, song thoát khỏi đói nghèo vẫn còn là ước mơ đối với hàng triệu người dân, đặc biệt là ở những vùng nông thôn của Việt nam

I THỰC TRẠNG PHÂN PHỐI THU NHẬP

1 Đánh giá chung

Số liệu thống kê của bốn cuộc điều tra mức sống các hộ gia đình Việt Nam ĐTMSDC 1993, ĐTMSDC 1998, ĐTMSDC 2002 và ĐTMSDC 2004 cho thấy Việt Nam đã đạt được những thành tích rất ấn tượng về giảm nghèo trong thời gian qua Tỉ lệ nghèo tính theo tiêu dùng đã giảm từ 58,1% năm

1993 xuống chỉ còn 19,5% năm 2004, một sự cắt giảm 39 điểm phần trăm

trong vòng mười một năm

Nếu quan sát mức độ chênh lệch thu nhập giữa nhóm thu nhập cao nhất với nhóm thu nhập thấp nhất thì khoảng cách chênh lệch ngày càng có xu hướng doãng ra, từ 7,0 lần năm 1995 tăng lên 8,1 lần năm 2001-2002 và 8,3 lần năm 2003-2004 (29) Ngoài ra, hệ số Gini dựa trên chi tiêu bình quân đầu người tăng từ 0,34 năm 1993 lên tới 0,35 năm 1998 và 0,37 trong năm 2004

2 Nghèo đói và bất bình đẳng theo các nhóm xã hội

2.1 Sự khác biệt giữa nông thôn và thành thị

Tỉ lệ nghèo nông thôn đã giảm từ 66,4% trong năm 1993 xuống 25% trong năm 2004 Điều này tương phản với tỉ lệ dân nghèo thành thị giảm từ mức 25,1% năm 1993 xuống chỉ còn mức rất nhỏ là 3,6% vào năm 2004 Nói tóm lại khoảng cách nông thôn - thành thị đã và đang bị nới rộng cho

Trang 7

dù được đo bằng tiêu dùng hay các chỉ số xã hội và ngày càng lớn so với mức

độ bất bình đẳng chung Điều này cho thấy rằng đây là lĩnh vực cần phải có

sự quan tâm, can thiệp của chính phủ

2.2 Khác biệt giữa các vùng

Bắc Trung bộ là nơi có nhiều người nghèo nhất, tiếp theo là Đông Bắc, đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng Tây Nguyên, Tây Bắc và Nam Trung Bộ có số người nghèo tương đối giống nhau và chiếm tỉ lệ khoảng dưới 10% tổng số người nghèo ở Việt nam, trong khi đó Đông Nam Bộ chiếm chưa tới 5% tổng số nggười nghèo mặc dù chiếm trên 15 % tổng số dân

II THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM

Trong 5 năm 1976-1980, GDP chỉ tăng khoảng 0,4%/năm, thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng dân số 2,3%, làm cho thu nhập đầu người và mức sống của dân cư bị giảm mạnh và nền kinh tế mất cân đối nghiêm trọng Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 3,9% một năm trong giai đoạn 1981-1985, tăng lên 4,9% năm trong giai đoạn 1986-1990

Từ năm 1991, nền kinh tế Việt Nam bước vào một giai đoạn mới, Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam liên tục được cải thiện và đạt đỉnh cao vào năm 1995 (9,5%)

Tăng trưởng kinh tế nhanh ở Việt Nam trong thời gian qua đã đi cùng với những chuyển dịch tích cực về cơ cấu kinh tế giữa các ngành cũng như

trong nội bộ từng ngành Trong nông nghiệp đã có sự chuyển dịch đáng kể về

cơ cấu sản xuất, cơ cấu sản phẩm Trong công nghiệp, đã bước đầu chuyển dịch được cơ cấu sản xuất theo hướng gắn sản xuất với thị trường Cơ cấu các

ngành dịch vụ tiếp tục chuyển dịch theo hướng đáp ứng ngày càng tốt hơn các

nhu cầu đa dạng về sản xuất, kinh doanh và phục vụ đời sống dân cư

Trong suốt quá trình đổi mới, nền kinh tế luôn hướng mạnh vào mở rộng mối quan hệ hợp tác quốc tế, tăng kim ngạch xuất khẩu Nếu năm 2000, kim ngạch ngoại thương đạt 30 tỉ USD, trong đó xuất khẩu 14,4 tỉ USD, thì đến

Trang 8

năm 2006 chỉ tiêu này đã tăng lên đến 80 tỉ USD, trong đó xuất khẩu đạt 39,6

tỉ USD, tăng hơn gấp đôi so với năm 2000

III THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÂN PHỐI THU NHẬP VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1 Các chủ trương, chính sách và giải pháp trong việc giải quyết mối quan hệ giữa phân phối thu nhập và tăng trưởng kinh tế

Các Đại hội đã khẳng định phương châm chung là “tăng trưởng kinh tế

phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển”

1.1 Các chính sách tăng trưởng góp phần thực hiện công bằng xã hội

- Thứ nhất, đối với các thành phần kinh tế: đưa ra chủ trương và chính

sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu Chủ trương và chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, bao quát một phạm vi khá rộng, trong đó chủ yếu là:

- Thứ hai, đối với các tầng lớp xã hội: Cơ chế kinh tế thị trường đã

khắc phục cơ bản tình trạng phân phối bình quân, cào bằng trong mô hình kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp

- Thứ ba, đối với thành thị và nông thôn: Hình thành các trung tâm

kinh tế lớn gắn với quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ Bên cạnh đó, Nhà nước thực hiện các chính sách đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và kinh tế nông thôn

- Thứ tư, đối với các vùng, miền trong cả nước: vấn đề quy hoạch phát

triển kinh tế - xã hội vùng và lãnh thổ đã đặc biệt được coi trọng, một mặt nhằm khai thác những lợi thế so sánh của các vùng, mặt khác góp phần tạo ra

sự phát triển cân đối giữa các vùng

1.2 Các chính sách xã hội góp phần tích cực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

- Thứ nhất, chính sách giải quyết việc làm:

Tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị và tỉ lệ lao động thiếu việc làm ở nông thôn đã giảm đáng kể

Trang 9

- Thứ hai, chính sách xoá đói giảm nghèo: Chính sách xoá đói giảm

nghèo cũng đã góp phần làm giảm đáng kể sự bất bình đẳng xã hội giữa thành thị và nông thôn

- Thứ ba, chính sách phát triển giáo dục- đào tạo: Thực hiện quan điểm

của Đảng coi “giáo dục- đào tạo là quốc sách hàng đầu” nhằm phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,

- Thứ tư, chính sách y tế và chăm lo sức khoẻ nhân dân: Hệ thống bệnh

viện, cơ sở y tế đã được trang bị mới máy móc, thiết bị khám, chữa bệnh, tăng cường nguồn lực sản xuất thuốc chữa bệnh và mạng lưới y tế được tổ chức khắp cả nước tạo điều kiện nâng cao tính bình đẳng trong chăm sóc sức khoẻ của các tầng lớp dân cư

Ngoài những chính sách kể trên, một số chính sách khác như dân số và kế

hoạch hoá gia đình, bảo hiểm xã hội, phòng chống các tệ nạn xã hội, các biện pháp trợ cấp, v.v cùng với tăng trưởng kinh tế

2 Đánh giá chung (kết quả đạt được, những hạn chế và các nguyên nhân)

Tuy đã đạt được những thành quả quan trọng như đánh giá trên đây, song vẫn còn không ít yếu kém và khuyết điểm về tăng trưởng kinh tế, công bằng

xã hội cũng như sự kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội ở Việt Nam Tăng trưởng kinh tế tuy đạt cao và tương đối ổn định nhưng chưa bền vững và chất lượng tăng trưởng còn thấp Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các nhân tố tăng trưởng theo chiều rộng, chưa đi vào chiều sâu, còn phụ thuộc nhiều vào đầu tư và bảo hộ của nhà nước Về cơ cấu kinh tế, sự chuyển dịch chậm thể hiện rõ nét ở chỗ kém năng động của khu vực dịch vụ

Nguyên nhân, áp dụng mô hình tăng trưởng và định hướng phân bổ nguồn lực Việt Nam tuyên bố theo đuổi mô hình tăng trưởng “thị trường- hướng về xuất khẩu” Tuy nhiên, mô hình được triển khai trên thực tế lại lệch sang xu hướng “thị trường- thay thế nhập khẩu”

Cơ chế xin-cho, bao cấp, bảo hộ nhà nước, cộng thêm vào đó là môi trường kinh doanh không bình đẳng, cơ hội phát triển của khu vực tư nhân bị hạn chế, hình thành các nhóm lợi ích mạnh, làm méo mó quy hoạch và định hướng phát triển

Trang 10

Chương 3

MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG VỀ TÁC ĐỘNG CỦA PHÂN PHỐI

THU NHẬP ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Ở VIỆTNAM

Để thấy được một cách cụ thể sự tác động của bất bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong chương này chúng ta sử dụng mô hình kinh

tế lượng

2 KẾT QUẢ HỒI QUY: Trong phần này dùng song song 2 phương

pháp OLS và 2SLS, để so sánh và đối chiếu kết quả

2.1 Tác động trực tiếp của Bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng:

REALGROWTHi =-15,383+ 1,06*INIQUALITY99i + 0,145*INVEST

_GGDPi+0,1124*EDUi + ei

Kết quả cho thấy là nếu bất bình đẳng thu nhập tăng 1 đơn vị (nghĩa là chênh lệch giữa nhóm 20% giàu nhất và nhóm 20% nghèo nhất tăng thêm 1 lần) thì tăng trưởng kinh tế sẽ tăng thêm 1,06 điểm phần trăm với mức ý nghĩa có thể chấp nhận được là 5%; còn tác động của tỉ lệ đầu tư/GDP thì thấp hơn, nếu tỉ lệ này tăng 1 điểm phần trăm thì tăng trưởng tăng thêm 0,14 điểm phần trăm Kết quả này hàm ý, tại các địa phương mà khoảng cách giàu nghèo cao và/hoặc có tỉ lệ đầu tư/GDP cao thì tăng trưởng sẽ cao hơn

4.2 Tác động gián tiếp của Bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng:

a.Bất bình đẳng và đầu tư:

REALGROWTHi =-4,9854+ 0,017*IN_INVESTi - 8,84*10-8 *

GGDPi+0,076*EDUi+0,006*INCOME99 + ei

hỗn hợp biến INEQUALITY và INVEST có tác động rõ nét đến tăng trưởng (mức ý nghĩa 5%) Điều này cho thấy, khi cả bất bình đẳng thu nhập

và tỉ lệ đầu tư cho phát triển/GDP cùng tăng thì sẽ kích thích tăng trưởng kinh

Ngày đăng: 15/01/2021, 10:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w