(2) Khẳng định sự thiếu hụt của kiểm soát nội bộ là nguyên nhân chính dẫn tới gian lận báo cáo tài chính trong các doanh nghiệp của Việt Nam và doanh nghiệp với một hệ thống kiểm soát [r]
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn Đề tài
Tại Việt nam kể từ khi thị trường chứng khoán bắt đầu đi vào hoạt
động từ năm 2000 đã có nhiều vụ bê bối tài chính liên quan đến các
công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán như: Bông bạch Tuyết,
Dược Viễn đông, Vinashin….Đã có nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu,
khám phá bản chất và nguyên nhân dẫn đến những vụ bê bối trên Các
kết quả nghiên cứu đều đi đến kết luận một trong những nguyên nhân
quan trọng của các vụ bê bối là do các hành vi gian lận trong việc
cung cấp thông tin minh bạch tình hình tài chính và đây là một hệ quả
yếu kém của: Cấu trúc bộ máy quản trị, Văn hóa doanh nghiệp - các
giá trị đạo đức, phạm vi hoạt động của kiểm soát nội bộ đối với việc
ngăn ngừa-phát hiện gian lận ( Kristina, 2012) và kinh nghiệm đánh
giá của kiểm toán viên độc lập đối với gian lận và lập kế hoạch
kiểm toán (Beasley et al ; 2000)
Cùng với trách nhiệm thiết lập kiểm soát nội bộ Ban giám đốc
cũng đồng thời chịu trách nhiệm về việc lập và trình bày trung thực
báo cáo tài chính cho đơn vị của mình Tuy nhiên, để đảm bảo được
tính khách quan của số liệu đưa ra trên báo cáo tài chính tới các đối
tương quan tâm thì thông tin và số liệu trên báo cáo tài chính cần phải
được xác minh bởi kiểm toán độc lập Mục đích chính của kiểm toán
báo cáo tài chính của kiểm toán độc lập là làm tăng độ tin cậy của
người sử dụng đối với báo cáo tài chính, thông qua việc kiểm toán
viên đưa ra ý kiến về việc liệu báo cáo tài chính có được lập, trên các
khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo
cáo tài chính được áp dụng hay không Để thực hiện được mục tiêu
này trong quá trình thực hiện kiểm toán các kiểm toán viên cần lập kế
hoạch kiểm toán nhằm hướng tới cuộc kiểm toán có hiệu quả nhất
Căn cứ để lập kế hoạch kiểm toán là việc kiểm toán viên cần tìm hiểu
về tình hình hoạt động kinh doanh của đơn vị trong đó có kiểm soát nội bộ để từ đó thiết kế thời gian, nhân sự và phạm vi các thủ tục kiểm toán nhằm đạt được các mục tiêu kiểm toán đã đặt ra Bên cạnh
đó để có thể xác định được trọng tâm của các rủi ro có thể có gian lận trọng yếu xảy ra trong quá trình thực hiện, kiểm toán viên cần phải xét tới những nhân tố rủi ro có thể dẫn tới gian lận trong doanh nghiệp Xuất phát từ yêu cầu của các Chuẩn mực kiểm toán; tình hình
thực tiễn và lý luận tại Việt nam đề tài: “Mối quan hệ giữa: Kiểm soát nội bộ, rủi ro gian lận và lập kế hoạch kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính” là một đề tài có tính cấp thiết
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích chính của nghiên cứu là kiểm định mối quan hệ giữa việc đánh giá kiểm soát nội bộ, đánh giá các nhân tố rủi ro gian lận, gian lận
và việc lập kế hoạch kiểm toán
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu tổng quát: Có mối quan hệ giữa kiểm soát nội
bộ và gian lận báo cáo tài chính không? Có mối quan hệ giữa các thành phần kiểm soát nội bộ với lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính không? Và kiểm toán viên sửa đổi kế hoạch kiểm toán như thế nào khi đánh giá các nhân tố rủi ro có thể dẫn tới gian lận báo cáo tài chính?
1.4 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: KSNB yếu kém không phải là nguyên nhân chính dẫn tới các gian lận trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp
Giả thuyết 2: Doanh nghiệp với hệ thống kiểm soát nội bộ của mình không thể ngăn chặn được nguy cơ xảy ra gian lận trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp
Giả thuyết 3: Kiểm toán viên không thực hiện đánh giá kiểm soát nội bộ trong quá trình kiểm toán
Trang 2Giả thuyết 4: Có mối quan hệ giữa đánh giá các thành phần kiểm
soát nội bộ với việc lập kế hoạch chương trình kiểm toán
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là “ Mối quan hệ giữa : kiểm
soát nội bộ, rủi ro gian lận ( Bao gồm gian lận và các nhân tố rủi ro
có thể dẫn tới gian lận) và lập kế hoạch kiểm toán trong kiểm toán
báo cáo tài chính
Phạm vi nghiên cứu của luận án là các kiểm toán viên đang hành
nghề kiểm toán tại Việt nam bao gồm: Các kiểm toán viên hành nghề
trong các công ty kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam, các công ty của
Việt Nam thuộc hãng kiểm toán quốc tế và các công ty kiểm toán của
Việt nam
1.6 Những đóng góp mới của Luận án
Về mặt lý luận: (1) Luận án làm rõ mối quan hệ giữa việc đánh giá
các thành phần của kiểm soát nội bội với việc lập kế hoạch kiểm toán
(2) Nghiên cứu đã đưa ra thang đo của 06 biến số phù hợp với bối cảnh
nghiên cứu tại Việt nam thông qua nghiên cứu định tính và đánh giá qua
02 bước nghiên cứu định lượng
Về mặt thực tiễn: (1) Kết quả kiểm định của nghiên cứu tác giả
nhận thấy rằng việc đánh giá kiểm soát nội bộ của các kiểm toán viên
hiện nay chưa thực sự được coi là cơ sở quan trọng trong việc lập kế
hoạch kiểm toán (2) Khẳng định sự thiếu hụt của kiểm soát nội bộ là
nguyên nhân chính dẫn tới gian lận báo cáo tài chính trong các doanh
nghiệp của Việt Nam và doanh nghiệp với một hệ thống kiểm soát nội
bộ tốt có thể ngăn chặn được các nguy cơ xảy ra gian lận và sai sót
trong quá trình lập và trình bày báo cáo tài chính; (3) Khám phá mối
quan hệ giữa việc đánh giá các nhân tố rủi ro có thể dẫn tới gian lận
và lập kế hoạch kiểm toán
1.7 Kết cấu của Luận án: Luận án gồm 5 chương:
Chương 1: Lý luận chung về kiểm soát nội bộ, rủi ro gian lận và
lập kế hoạch kiểm toán
Chương 2: Tổng quan nghiên cứu và phát triển giả thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và kiểm định giả thuyết Chương 5: Phân tích Kết quả nghiên cứu và khuyến nghị
Trang 3CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ,
RỦI RO GIAN LẬN VÀ LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN
1.1 Kiểm soát và kiểm soát nội bộ
1.1.1 Khái niệm kiểm soát
Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu định nghĩa và nghiên cứu về kiểm
soát Theo Merchant ( 1985, tr4) thì “Kiểm soát được coi như là một chức
năng của quản lý, ảnh hưởng liên quan đến hành vi của con người, bởi vì
con người tạo ra mọi thứ trong tổ chức Hay nói cách khác, kiểm soát liên
quan đến các nhà quản lý thực hiện một loạt các bước để đảm bảo rằng
những người trong tổ chức sẽ làm những việc tốt nhất cho tổ chức”
1.1.2 Phân loại kiểm soát:
Theo cách phân loại giữa các chủ thể với khách thể thì kiểm soát
bao gồm: Kiểm soát bên ngoài và kiểm soát nội bộ
1.2 Kiểm soát nội bộ và cơ sở cho việc thiết lập kiểm soát nội bộ
1.2.1 Khái niệm Kiểm soát nội bộ:
Theo Coso thì: “KSNB Là một quá trình được thiết kế và chịu sự
chi phối của các nhà quản lý và các nhân viên trong một tổ chức nhằm
cung cấp sự đảm bảo hợp lý về việc đạt được các mục tiêu liên quan đến
độ tin cậy của báo cáo tài chính, hữu hiệu trong hoạt động, quản lý và
tuân thủ các quy định, luật lệ liên quan” Và kiểm soát nội bộ bao gồm
05 thành phần: Môi trường kiểm soát; đánh giá rủi ro; Các hoạt động
kiểm soát; giám sát và thông tin truyền thông
1.2.2 Cơ sở thiết lập kiểm soát nội bộ
Trong những năm gần đây các kiểm toán viên, các nhà quản lý, kế
toán viên và các nhà hành pháp dành rất nhiều sự quan tâm tới việc xây
dựng, thiết kế hệ thống kiểm soát nội bộ Cho đến nay có 05 tài liệu quan trọng làm cơ sở cho việc thiết kế và vận hành kiểm soát nội bộ bao gồm: Khuôn khổ kiểm soát và kiểm tra hệ thống thông tin- Cobit (Controls objectives for information and related Technology); Khuôn khổ kiểm tra, kiểm soát của Ủy ban kiểm toán nội bộ (IIA); Khuôn khổ hợp nhất kiểm soát nội bộ của Coso; Quản lý rủi ro – Một khuôn khổ hợp nhất Coso (ERM) Và các chuẩn mực xem xét kiểm soát nội bộ trong thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính ( SAS 55; SAS 78; SAS 94 ) của AICPA
1.3 Các thành phần của kiểm soát nội bộ|
1.3.1 Môi trường kiểm soát 1.3.2 Đánh giá rủi ro 1.3.3 Các hoạt động kiểm soát 1.3.4 Thông tin và truyền thông 1.3.5 Giám sát
1.4 Gian lận và các yếu tố rủi ro có thể dẫn tới gian lận báo cáo tài chính
1.4.1 Gian lận báo cáo tài chính
Theo Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hòa kỳ ( ACFE) thì gian
lận báo cáo tài chính là: “là sự chủ ý, có tính toán, trình bày sai hoặc bỏ
sót các sự kiện quan trọng, hoặc dữ liệu kế toán có thể đưa đến sự hiểu lầm khi người đọc xem xét các thông tin được sử dụng và có thể là lý do
để thay đổi việc xét đoán và ra quyết định của mình”
1.4.2 Các nhân tố rủi ro dẫn đến hành vi gian lận - tam giác gian lận
Nhân tố dẫn tới rủi ro có gian lận “Là các sự kiện hoặc điều kiện
phản ánh một động cơ hoặc áp lực phải thực hiện hành vi gian lận hoặc tạo cơ hội thực hiện hành vi gian lận” ( Chuẩn mực VSA 240)
Trang 41.4.3 Trách nhiệm của Ban Giám đốc và kiểm toán viên với gian lận
Việc ngăn ngừa và phát hiện gian lận trước hết thuộc về trách
nhiệm của Ban quản trị và Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán Đối với
các kiểm toán viên khi thực hiện kiểm toán theo các chuẩn mực kiểm
toán Việt Nam, kiểm toán viên chịu trách nhiệm đạt được sự đảm bảo
hợp lý rằng liệu báo cáo tài chính, xét trên phương diện tổng thể, có còn
sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn hay không
1.5 Lập kế hoạch kiểm toán
Trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu về lập kế hoạch chương trình
kiểm toán và các quy định từ các Chuẩn mực kiểm toán có rút ra được
bản chất của lập kế hoạch kiểm toán là: Quá trình các kiểm toán viên
thiết lập nội dung, thời gian, phạm vi các thủ tục kiểm toán và nhân sự
thực hiện các cuộc kiểm toán đó nhằm thu thập các bằng thích hợp và
đầy đủ cho các mục tiêu đặt ra làm cơ sở đưa ra ý kiến của mình về báo
cáo tài chính
1.6 Mối quan hệ giữa đánh giá kiểm soát nội bộ, rủi ro gian lận và
lập kế hoạch kiểm toán
1.6.1 Bản chất của xét đoán trong kiểm toán
Thực tế việc xét đoán của các kiểm toán viên (KTV) trong quá
trình kiểm toán là một dạng hành vi ra quyết định (Ken T Trotman
1998) Theo VAS 200 xét đoán là “Là sự vận dụng các kỹ năng, kiến
thức và kinh nghiệm phù hợp về tài chính, kế toán, kiểm toán, chuẩn mực
và các quy định về đạo đức nghề nghiệp để đưa ra quyết định về các
hành động phù hợp trong hoàn cảnh cụ thể của cuộc kiểm toán”
1.6.2 Lý thuyết về ra quyết định chủ quan
Nhìn chung, các tác giả trên kết luận rằng việc xét đoán và ra quyết định dựa trên kinh nghiệm về cơ bản là rất hữu ích, tuy nhiên đôi khi chúng lại dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng và có hệ thống Theo Tvesky và Kahneman thì việc xét đoán và ra quyết định dựa trên kinh nghiệm có 03 dạng: Tính tương tự của các sự kiện sẵn có (Representative); Tính sẵn có để dùng (Availability); Neo tham chiếu và điều chỉnh (Anchoring and adjustment)
1.6.3 Mối quan hệ giữa đánh giá kiểm soát nội bộ, rủi ro gian lận và lập kế hoạch chương trình kiểm toán
(*) Mối quan hệ giữa đánh giá kiểm soát nội bộ và gian lận báo cáo tài chính
Một kiểm soát được thiết kế luôn hướng tới mục tiêu làm giảm khả năng xảy ra rủi ro đối với các mục tiêu đã được xác định Doanh nghiệp sau khi thiết lập các mục tiêu của mình thì cần phải nhận biết và đánh giá rủi ro có thể xảy ra cản trở việc đạt được các mục tiêu, từ những thông tin thích hợp của việc nhận biết và đánh giá rủi ro, các thủ tục kiểm soát nội bộ sẽ được thiết lập tương ứng
(*) Mối quan hệ giữa kiểm soát nội bộ và lập kế hoạch kiểm toán
Nếu một doanh nghiệp được kiểm toán có kiểm soát nội bộ tốt, có hiệu lực và hiệu quả thì sẽ tác động đến phạm vi công việc của các kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán bởi vì: Khi kiểm soát nội bộ có hiệu quả kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán có thể sẽ tăng cường các thử nghiệm kiểm soát để đánh giá mức độ rủi ro kiểm soát của doanh nghiệp từ đó thu hẹp phạm vi kiểm tra các thử nghiệm cơ bản Và ngược lại nếu kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp yếu kém kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán có thể phải mở rộng phạm vi các thử nghiệm cơ bản để có được những bằng chứng đầy đủ và thích hợp làm cơ sở để đưa
Trang 5ra ý kiến kiểm toán điều này có thể sẽ làm tăng chi phí làm giảm hiệu
quả chung của cuộc kiểm toán
(*) Mối quan hệ giữa đánh giá các nhân tố rủi ro có thể dẫn tới
gian lận và lập kế hoạch kiểm toán
Hành vi gian lận trong thực tế thường rất khó phát hiện các
kiểm toán viên có thể phát hiện các sự kiện hoặc tình huống cho thấy
có động cơ, áp lực hoặc cơ hội dẫn đến gian lận Các yếu tố dẫn đến
rủi ro có gian lận khó có thể phân loại theo mức độ quan trọng Tầm
quan trọng của các yếu tố dẫn đến rủi ro có gian lận là rất khác nhau
Tại một số đơn vị với những điều kiện cụ thể, một số yếu tố này có
thể có nhưng không nhất thiết cho thấy rủi ro có sai sót trọng yếu Do
đó, việc xác định yếu tố dẫn đến rủi ro có gian lận có tồn tại hay
không và nó có được xem xét khi đánh giá rủi ro báo cáo tài chính có
sai sót trọng yếu do gian lận hay không đòi hỏi kiểm toán viên phải
thực hiện các xét đoán chuyên môn
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN GIẢ THUYẾT
2.1 Mối quan hệ giữa kiểm soát nội bộ và lập kế hoạch kiểm toán
Từ các công trình nghiên cứu của Gaumnitz, Nunamaker, Surdick, and Thomas (1982) [49]; R.K Mautz và Donald L Mini (1984) [68]; Richard H.Tabor (1983) [83]; Fawzi AL Sawalqa và Atala Qtish (2012)
về mối quan hệ giữa kiểm soát nội bộ và lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính cho thấy Trong quá trình kiểm toán kiểm toán viên và công ty kiểm toán luôn cần phải thực hiện đánh giá chất lượng kiểm soát nội bộ của đơn vị từ đó làm cơ sở cho việc lập kế hoạch kiểm toán
Ở Việt nam rất ít các nghiên cứu tìm hiểu xem liệu trong quá trình thực hiện kiểm toán các kiểm toán viên có đánh giá kiểm soát nội bộ của đơn
vị được kiểm toán hay không và có mối quan hệ giữa viêc đánh giá kiểm soát nội bộ với việc lập kế hoạch kiểm toán tại Việt nam hay không? Trên cơ sở đó Luận án đặt ra các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết tương ứng như sau:
Câu hỏi nghiên cứu:
1 Kiểm toán viên có thực hiện đánh giá kiểm soát nội bộ trong quá trình thực hiện kiểm toán không?
2 Việc đánh giá các thành phần của kiểm soát nội bộ có tác động tới lập kế hoạch chương trình kiểm toán không?
Các giả thuyết nghiên cứu cần kiểm định để trả lời câu hỏi nghiên cứu
Giả thuyết 1: Kiểm toán viên không thực hiện đánh giá kiểm soát nội bộ trong quá trình kiểm toán
Giả thuyết 2: Có mối quan hệ giữa đánh giá các thành phần kiểm soát nội bộ với việc lập kế hoạch chương trình kiểm toán
2.2 Mối quan hệ giữa kiểm soát nội bộ và gian lận báo cáo tài chính
Trang 6Trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu về mối quan hệ giữa kiểm
soát nội bộ và gian lận báo cáo tài chính của các nghiên cứu trong và
ngoài nước NCS nhận thấy: Có mối quan hệ rõ nét giữa kiểm soát nội
bộ và các hành vi gian lận Một hệ thống kiểm soát nội bộ tốt sẽ trợ
giúp đắc lực cho các nhà quản lý trong việc ngăn ngừa và phát hiện
gian lận và đảm bảo đạt được các mục tiêu đặt ra Các nghiên cứu đều
khuyến nghị cần thiết phải xây dựng một môi trường kiểm soát, đặc
biệt chú ý đến các yếu tố lãnh đạo trong thành phần này của kiểm soát
nội bộ Từ kết quả của tổng quan nghiên cứu NCS đặt ra các câu hỏi
nghiên cứu và các giả thuyết tương ứng trong bối cảnh của Việt nam
như sau:
Câu hỏi nghiên cứu:
3 KSNB yếu kém là nguyên nhân chính dẫn tới các gian lận trong
báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp trong thời gian qua?
4 Doanh nghiệp với hệ thống kiểm soát nội bộ của mình có thể ngăn
chặn được nguy cơ xảy ra gian lận trong báo cáo tài chính hay không?
Các giả thuyết nghiên cứu tương ứng:
Giả thuyết 3: KSNB yếu kém không phải là nguyên nhân chính dẫn
tới các gian lận trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp
Giả thuyết 4: Doanh nghiệp với hệ thống kiểm soát nội bộ của
mình không thể ngăn chặn được nguy cơ xảy ra gian lận trong báo cáo
tài chính của doanh nghiệp
2.3 Các nhân tố rủi ro có thể dẫn tới gian lận và lập kế hoạch kiểm toán
Trên thực tế hành vi gian lận thường được che dấu và rất khó phát
hiện Vì vậy, trong quá trình thực hiện kiểm toán các kiểm toán viên và
công ty kiểm toán cần phải chú ý đến các nhân tố rủi ro có thể dẫn tới
hành vi gian lận để từ đó xác định được rõ nét và có cơ sở trọng tâm thời
gian, nhân sự và các thủ tục kiểm toán phù hợp nhằm đảm bảo đạt được
mục tiêu kiểm toán đặt ra
Trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu về mối quan hệ giữa các nhân
tố rủi ro có thể dẫn tới gian lận và lập kế hoạch kiểm toán NCS đặt ra câu hỏi nghiên cứu tại bối cảnh của Việt nam :
Câu hỏi nghiên cứu
5 Các kiểm toán viên đang đánh giá mức độ quan trọng của các nhân tố rủi ro có thể dẫn tới gian lận như thế nào?
6 Kiểm toán viên có sửa đổi chương trình kiểm toán tương ứng với các nhân tố rủi ro có thể dẫn tới gian lận được đánh giá không?
Các giả thuyết tương ứng
Giả thuyết 5:Kiểm toán viên đánh giá mức độ quan trọng của các nhân tố rủi ro có thể dẫn tới gian lận là khác nhau
Giả thuyết 6: Kiểm toán viên có sửa đổi chương trình kiểm toán tương ứng với việc đánh giá tầm quan trọng của các nhân tố rủi ro có thể dẫn tới gian lận
TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu về mối quan hệ giữa : Kiểm soát nội bộ và gian lận, Kiểm soát nội bộ và lập kế hoạch kiểm toán và các nhân tố rủi ro có thể dẫn tới gian lận và lập kế hoạch kiểm toán Chương 2
đã đặt ra các câu hỏi nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu tương ứng Trong quá trình tổng quan các nghiên cứu tác giả cũng đã cố gắng làm rõ các khái niệm liên quan đến các biến trong các giả thuyết đặt ra để làm cơ
sở cho việc xây dựng thang đo và được kiểm định ở Chương 3
Trang 7CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu định tính: được sử dụng bao gồm kỹ thuật thảo luận
nhóm tập trung và phỏng vấn sâu một số chuyên gia trong lĩnh vực kế
toán kiểm toán
Nghiên cứu định lượng: được thực hiện qua hai giai đoạn nghiên cứu
định lượng sơ bộ và nghiên cứu định lượng chính thức Phương pháp phân tích
tương quan, kiểm định trung bình của một tổng thể, và phân tích hồi quy đa biến
được sử dụng để kiểm định các giả thuyết với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 20
3.2 Nghiên cứu định tính
3.2.1 Các bước nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định tính được sử dụng là kỹ thuật thảo luận nhóm tập
trung và phỏng vấn sâu một số chuyên gia trong lĩnh vực kế toán, kiểm
toán Việc thảo luận nhóm tập trung được thực hiện trên hai nhóm: nhóm
một là 07 các kiểm toán viên hành nghề tại Big 4 (2 kiểm toán viên) và tại
3 công ty kiểm toán là thành viên của hãng quốc tế có mặt tại Việt Nam (
05 kiểm toán viên các kiểm toán viên này bao gồm những người trực tiếp
tham gia các cuộc kiểm toán và một số người thực hiện công việc soát xét
trong các công ty kiểm toán này nhóm hai là 05 các kiểm toán viên đang
hành nghề tại những công ty kiểm toán của Việt nam ( 05 người)
3.2.2 Kết quả nghiên cứu định tính
3.2.2.1 Kết quả thảo luận nhóm nghiên cứu định tính:
Dựa trên cơ sở các tài liệu NCS đã tổng quan từ các nghiên cứu
trước ở trong và ngoài nước dàn bài thảo luận nhóm và phỏng vấn
chuyên gia được hình thành Các cuộc phỏng vấn và trao đổi đều được
ghi nhận lại cẩn thận và phân tích từ đó làm cơ sở đưa ra thang đo sơ bộ
cho các khái niệm trong luận án
3.2.2.2 Kết quả phát triển thang đo từ nghiên cứu định tính
Trên cơ sở phân tích kết quả phỏng vấn và thảo luận nhóm, cùng với kết quả tổng quan tài liệu ở Chương 2 NCS đã đưa ra thang đo nháp cho các khái niệm nghiên cứu trong luận án của mình Thang đo này sẽ được kiểm định bước đầu thông qua nghiên cứu định lượng sơ bộ ( Phụ lục 1)
3.3 Nghiên cứu định lượng sơ bộ
3.3.1 Phương pháp đánh giá độ tin cậy thang đo
Việc đánh giá độ tin cậy của thang đo nháp được thực hiện thông qua hai phương pháp sử dụng hệ số Cronbach’Alpha và phân tích nhân
tố khám phá
3.3.2 Kiểm định One T-test kiểm định trung bình của một tổng thể
Để kiểm định giả thuyết xem kiểm toán viên có thực hiện đánh giá các thành phần kiểm soát nội bộ hay không tác giả sử dụng phép kiểm định trung bình của một tổng thể T-test ( One sample T test) Kiểm định One-sample T test là phép kiểm định giả thuyết về trung bình của tổng thể được dùng trong trường hợp ta muốn phân tích mối liên hệ giữa giá trị trung bình của một tổng thể với một giá trị cụ thể được xác định
3.3.3 Kiểm định Chi square về sự tồn tại mối quan hệ giữa hai biến
Để kiểm định giả thuyết về mối liên hệ giữa kiểm soát nội bộ và gian lận báo cáo tài chính, Kiểm định Chi- square được sử dụng với mục đích cho chúng ta biết có tồn tại hay không mối liên hệ giữa kiểm soát nội bộ và gian lận và báo cáo tài chính trong các doanh nghiệp hiện nay
3.3.4 Kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ: Kết quả nghiên cứu định
lượng sơ bộ được thể hiện trong phụ lục 01
TÓM TẮT CHƯƠNG 3
Trong chương 3 tác giả đã trình bày chi tiết về cách thức, quy trình tiến hành nghiên cứu nhằm kiểm định mô hình và giả thuyết đặt ra Chương này cũng đã thực hiện nghiên cứu sơ bộ định lượng nhằm đánh giá sơ bộ độ tin cậy của các thang đo được xây dựng từ kết quả của nghiên cứu định tính
Trang 8CHƯƠNG 4 KIỂM ĐỊNH GIẢ THUYẾT VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Nghiên cứu định lượng chính thức
4.1.1 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu
Trên cơ sở thang đo định lượng chính thức đã được kiểm định 680
bảng câu hỏi được gửi tới các kiểm toán viên đang hành nghề tại các công ty
kiểm toán tại Việt nam Kết quả thu về được 492 phiếu câu hỏi trong đó có:
476 phiếu hợp lệ ( Chiếm 70%) và 16 phiếu không hợp lệ ( chiếm 2%)
4.2 Kiểm định giả thuyết
4.2.1 Mối quan hệ giữa kiểm soát nội bộ và lập kế hoạch kiểm toán
Giả thuyết 1: Kiểm toán viên không đánh giá kiểm soát nội bộ
trong quá trình thực hiện kiểm toán
H1a: Kiểm toán viên không đánh giá môi trường kiểm
soát như là một thành phần của kiểm soát nội bộ trong
quá trình kiểm toán
Không chấp nhận
H1b: Kiểm toán viên không đánh giá thành phần đánh giá rủi
ro của kiểm soát nội bộ trong quá trình thực hiện kiểm toán
Không chấp nhận
H1c: Kiểm toán viên không đánh giá thành phần thông tin
truyền thông của kiểm soát nội bộ trong quá trình thực
hiện kiểm toán
Không chấp nhận
H1d: Kiểm toán viên không thực hiện đánh giá thành
phần hoạt động kiểm soát của kiểm soát nội bộ trong quá
trình thực hiện kiểm toán
Không chấp nhận
H1e: Kiểm toán viên không thực hiện đánh giá thành phần
giám sát của kiểm soát nội bộ trong quá trình thực hiện
kiểm toán
Chấp nhận
Giả thuyết 2: Có mối quan hệ giữa các thành phần của kiểm soát nội bộ và lập kế hoạch chương trình kiểm toán
(1) Đánh giá độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach Alpha Đối với thang đo thông tin – truyền thông Có hai chỉ báo IC4 và
IC6 có hệ số tương quan biến tổng < 0,3 do đó hai chỉ báo này bị loại ra
và sau khi bị loại hệ số cronbach Alpha đạt 0.82>0.5 do đó thang đo này đạt yêu cầu
Đối với thang đo các hoạt động kiểm soát chỉ báo AC2 có hệ số
tương quan biến tổng <0,3 do đó chỉ báo này bị loại ra khỏi thang đo và sau khi bỏ chỉ báo này ra thì thang đo đạt yêu cầu về độ tin cậy với Cronbach Alpha = 0.86>0.5
Đối với thang đo giám sát Chỉ báo MO5 có hệ số tương quan biến
tổng <0,3 do đó chỉ báo này bị loại khỏi thang đo lương Sau khi bỏ chỉ báo MO5 thì hệ số cronbach Alpha là 0.81 giá trị này đạt yêu cầu về đo lường biến giám sát
Biến lập kế hoạch chương trình kiểm toán được đo lường bằng
04 chỉ báo , khi phân tích Cronbach alpha thì 04 chỉ báo này đều có hệ số tương quan biến tổng > 0,3 và Cronbach Alpha là 0.81> 0.5 đạt yêu cầu
về giá trị đo lường
(2) Đánh giá độ tin cậy của thang đo thông qua phân tích nhân
tố khám phá
Kết quả phân tích nhân tố khám phá cho thấy, các biến đo lường đểu có chỉ số KMO > 0.5 ; sig = 000; Chỉ số rút trích nhân tố Eigenvalue >1 và Tổng phương sai trích >50% ( Điều này chứng tỏ các chỉ báo đo lường giải thích khá tốt cho các khái niệm nghiên cứu đưa ra) Thông qua việc đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA cho thấy sau khi loại bỏ các chỉ báo không phù hợp thì các thang đo đều đạt yêu cầu và phù hợp để
Trang 9đưa vào phân tích tương quan và hồi quy nhằm kiểm định giả thuyết đặt
ra trong luận án
(3) Kết quả kiểm định giả thuyết 2
H2a: Có mối quan hệ giữa đánh giá môi trường kiểm soát
với Lập kế hoạch chương trình kiểm toán
Không chấp nhận
H2b: Có mối quan hệ giữa đánh giá rủi ro với lập kế
hoạch chương trình kiểm toán
Không chấp nhận
H2c: Có mối quan hệ giữa đánh giá thông tin – truyền
thông với lập kế hoạch chương trình kiểm toán
Chấp nhận
H2d: Có mối quan hệ giữa đánh giá hoạt động kiểm soát
với lập kế hoạch chương trình kiểm toán
Chấp nhận
H2e: Có mối quan hệ giữa đánh giá giám sát với lập kế
hoạch chương trình kiểm toán
Không chấp nhận
4.2.2 Kiểm soát nội bộ và gian lận báo cáo tài chính
Giả thuyết 3: KSNB yếu kém không phải là nguyên nhân chính dẫn
tới các gian lận báo cáo tài chính trong doanh nghiệp
H3a: kiểm soát nội bộ yếu kém không là nguyên nhân chính
dẫn tới các gian lận báo cáo tài chính trong doanh nghiệp
Không chấp nhận
H3b: kiểm soát nội bộ yếu kém là nguyên nhân chính dẫn
tới các gian lận báo cáo tài chính trong doanh nghiệp
Chấp nhận
Giả thuyết 4: Doanh nghiệp với hệ thống kiểm soát nội bộ của mình
không thể ngăn chặn được nguy cơ xảy ra gian lận báo cáo tài chính
trong doanh nghiệp
H4a: Doanh nghiệp với hệ thống kiểm soát nội bộ của
mình không thể ngăn chặn được nguy cơ xảy ra gian lận
báo cáo tài chính trong doanh nghiệp
Không chấp nhận
H4b: Doanh nghiệp với hệ thống kiểm soát nội bộ của
mình có thể ngăn chặn được nguy cơ xảy ra gian lận báo
cáo tài chính trong doanh nghiệp
Chấp nhận
4.2.3 Kiểm toán viên có thực hiện đánh giá các nhân tố rủi ro có thể dẫn tới gian lận không và có thực hiện sửa đổi kế hoạch kiểm toán đối với các nhân tố rủi ro gian lận được đánh giá không
Qua kết quả khảo sát cho thấy kiểm toán viên về cơ bản kiểm toán viên đánh giá thấp tầm quan trọng của các nhân tố rủi ro có thể dẫn tới gian lận, thậm chí có những nhân tố được đánh giá là không quan trọng
Cụ thể:
- Đối với nhóm nhân tố thuộc về Ban quản lý: Nhân tố được đánh
giá quan trọng nhất là nhân tố F1 ( mean = 4.054), tiếp theo là các nhân
tố F2, F3, F4, F5, F6, F7, F8 Nhân tố được đánh giá thấp nhất là nhân tố F9 ( Mean = 2.043)
- Đối với nhóm nhân tố thuộc báo cáo tài chính và kiểm soát nội bộ: Thì kiểm toán viên đánh giá nhân tố F10 “Doanh nghiệp được kiểm
toán có Hệ thống thông tin kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ là yếu kém và không hiệu quả” là quan trọng hơn nhân tố F11 “Báo cáo tài chính của doanh nghiệp được kiểm toán sử dụng nhiều nghiệp vụ ước tính và xét đoán kế toán”
- Đối với nhóm nhân tố thuộc về đặc điểm hoạt động của ngành nghề: Nhân tố được kiểm toán viên đánh giá tầm quan trọng cao nhất là
nhân tố F12 ( mean= 3.345) Nhân tố được đánh giá thấp nhất là nhân tố F20 ( Mean = 2.235)
- Việc sửa đổi các nội dung của kế hoạch kiểm toán: Khi thực
hiện xem xét các nhân tối rủi ro có thể dẫn tới gian lận kiểm toán viên và các công ty kiểm toán thay đổi nhiều nhất là nhóm nhân tố thuộc về số lượng các thủ tục kiểm toán, nhóm nhân tố tiếp theo là nhân tố thuộc về nội dung các thủ tục kiểm toán cuối cùng là đến thời gian và nhân sự của cuộc kiểm toán
Trang 10- Tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết
H5 Kiểm toán viên đánh giá mức độ quan trọng của các
nhân tố rủi ro có thể dẫn tới gian lận là khác nhau
Chấp nhận H6
Kiểm toán viên có sửa đổi chương trình kiểm toán
tương ứng với việc đánh giá tầm quan trọng của
các nhân tố rủi ro có thể dẫn tới gian lận
Chấp nhận
TÓM TẮT CHƯƠNG 4
Chương 4 đã thực hiện kiểm định giả thuyết về các mối quan hệ
giữa kiểm soát nội bộ và gian lận báo cáo tài chính trong các doanh
nghiệp hiện nay ( Giả thuyết 1 và 2) Kết quả kiểm định giả thuyết 3 cho
thấy trong quá trình thực hiện kiểm toán kiểm toán viên đã thực hiện
đánh giá kiểm soát nội bộ trong quá trình kiểm toán Tuy nhiên, kết quả
kiểm định giả thuyết 4 lại cho thấy không có mối quan hệ giữa các thành
phần môi trường kiểm soát; đánh giá rủi ro; giám sát kiểm soát nội bộ
với lập kế hoạch chương trình kiểm toán
CHƯƠNG 5 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ KHUYẾN NGHỊ
5.1 Những hạn chế của kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp
5.1.1 Hạn chế về môi trường kiểm soát
Hầu hết các doanh nghiệp chưa chú trọng đến việc quy định, truyền thông về tính chính trực và các giá trị đạo đức ( Mean = 3.3478 < 4) Cơ cấu tổ chức và xác định trách nhiệm của các thành viên chưa thực sự rõ ràng và hiệu quả, uy tín và hình ảnh của Ban điều hành chưa được nâng cao Kiểm soát nội bộ chưa thực sự được ban giám đốc quan tâm xây dựng và phát triển
5.1.2 Hạn chế trong đánh giá rủi ro:
Các doanh nghiệp đều phải đối diện với các rủi ro trong quá trình hoạt động Tuy nhiên, hiện nay các doanh nghiệp chưa thực sự tiến hành đánh giá, nhận diện cũng như phân tích các rủi ro có thể xảy đến với doanh nghiệp của mình Các doanh nghiệp cũng chưa xây dựng những công cụ như kiểm toán nội bộ, ban kiểm soát để trợ giúp trong quá trình đánh giá rủi ro
5.1.3 Hạn chế trong hệ thống thông tin truyền thông
Thông tin thông suốt đóng vai trò quan trọng trong quá trình điều hành của doanh nghiệp Tuy nhiên, hệ thống thông tin cũng như truyền thông trong các doanh nghiệp hiện nay còn yếu Ban điều hành chưa thực
sự có được những thông tin kịp thời, đầy đủ về các hoạt động trong doanh nghiệp của mình để từ đó đưa ra những quyết định điều chỉnh
5.1.4 Hạn chế trong các hoạt động kiểm soát
Các doanh nghiệp hiện nay còn thiếu các quy định, quy chế để đảm bảo cho các chỉ đạo của nhà quản lý được thực hiện