Thay đổi và phát triển là những quá trình cần thiết trong tổ chức để giúp tổ chức tồn tại và phát triển bền vững. Tuy nhiên, không phải sự thay đổi nào cũng dẫn đến thành công. Sự thay đổi trong tổ chức có thể gây ra một số thay đổi trong hành vi của những thành viên trong tổ chức.
Trang 1BÀI TẬP LỚN MÔN HÀNH VI TỔ CHỨC
TÊN ĐỀ TÀI:
THAY ĐỔI VÀ PHÁT TRIỂN TỔ CHỨC
Trang 2MỤC LỤC
Chương 1 Lý thuyết về Thay đổi và phát triển tổ chức 1
1.1 Thay đổi tổ chức 1
1.1.1 Khái niệm 1
1.1.2 Khi nào cần thay đổi? 1
1.1.3 Ai là người thay đổi? 1
1.1.4 Nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi 1
1.1.5 Doanh nghiệp cần thay đổi như thế nào? 3
1.2 Sự phát triển trong tổ chức 3
1.2.1 Khái niệm sự phát triển trong tổ chức 3
1.2.2 Tính tất yếu cần phải phát triển tổ chức 4
1.2.2.1 Xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế 4
1.2.2.2 Phát triển bền vững 4
1.2.3 Các phương pháp phát triển tổ chức 5
1.2.3.1 Tái tổ chức cơ cấu 5
1.2.3.2 Thay đổi hệ thống chính sách khen thưởng 5
1.2.3.3 Thay đổi văn hóa của tổ chức 6
1.2.3.4 Tái thiết kế công việc 6
Chương 2: Liên hệ CTCP Vinmart 7
2.1.Giới thiệu về CTCP Vinmart 7
2.1.1 Giới thiệu chung 7
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển 7
2.1.3 Giá trị cốt lõi của hệ thống siêu thị Vinmart 8
2.1.3.1 Hàng hóa chất lượng cao, minh bạch về nguồn gốc 8
2.1.3.2 Thuận tiện mua sắm: 8
2.1.3.3 Một điểm đến, trọn nhu cầu 8
2.1.3.4 Thân thiện và tận tâm: 8
2.1.3.5 Phát triển vì cộng đồng 8
2.2 Phân tích sự thay đổi của Vinmart 8
2.2.1 Thuyên chuyển nhân lực 9
2.2.2 Tạo sự hài lòng trong công việc 9
2.2.3 Năng suất lao động 10
2.2.4 Tỷ lệ vắng mặt 11
Trang 3Chương 1 Lý thuyết về Thay đổi và phát triển tổ chức
1.1 Thay đổi tổ chức
1.1.1 Khái niệm
Thay đổi tổ chức được hiểu là quá trình cải tổ một cách chủ động nhằm mục đích tạo ra sự cạnh tranh lớn hơn cho tổ chức Sự thay đổi có thể từ việc lớn như tái cơ cấu tổ chức, tổ chức lại hoạt động các bộ phận, áp dụng quy trình, công nghệ mới,… đến việc nhỏ như tổ chức lại phong cách hoạt động, thay đổi chất lượng sản phẩm,…
1.1.2 Khi nào cần thay đổi?
- Công ty đang hoạt động tốt, doanh số tăng hàng năm, chất lượng chuyên môn của nhân viên ổn định,… nhưng có một ngày nhà quản trị nhận ra rằng: các phòng ban không gắn kết với nhau, chức năng chồng chéo, nhân sự thừa, báo cáo thiếu, không kiểm soát được chi phí, … Nghiêm trọng hơn, họ còn thấy mất định hướng chiến lược, nhiễu thông tin thị trường hay vô vàn chứng bệnh nan y khác Khi mọi phương thuốc quảng cáo, tiếp thị, kiểm toán đều vô tác dụng, đó chính là những dấu hiệu cho thấy doanh nghiệp của bạn đang cần đến “Tái cấu trúc và đổi mới tổ chức”
- Doanh nghiệp cần thực hiện thay đổi khi có sự thay đổi từ:
Môi trường bên trong: mục tiêu hoạt động, sự thay đổi trong nguồn nhân lực,…
Từ đối thủ cạnh tranh
Từ môi trường bên ngoài: Do có sự thay đổi trong hệ thống pháp lý, thay đổi về phía các nhà đầu tư như áp lực về cổ tức, thay đổi về phía khách hàng như sự trung thành của khách hàng, ý kiến đóng góp của khách hàng, … cũng buộc các nhà quản trị quyết định sự thay đổi cần thiết (PGS.TS Bùi Anh Tuấn & TS Phạm Thúy Hương, 2009) 1.1.3 Ai là người thay đổi?
- Người lãnh đạo sự thay đổi có thể bao gồm 2 đối tượng: người dẫn dắt sự thay đổi và nhà quản trị Người dẫn dắt sự thay đổi là người được giao quyền và có toàn quyền trực tiếp điều hành chương trình thực thi sự thay đổi Người này có thể là người trong tổ chức cần thay đổi hoặc là người bên ngoài có kinh nghiệm trong lĩnh vực này Nhà quản trị là người quyết định mục tiêu của chương trình thay đổi, cung cấp các nguồn lực và hỗ trợ cho người dẫn dắt để chương trình được thực thi suôn sẻ và thuận lợi hơn Nhà quản trị có thể đồng thời là người dẫn dắt chương trình
- Người cần thay đổi là nhóm đối tượng có thể là nhà lãnh đạo, quản lý hay nhân viên các bộ phận trong doanh nghiệp Đối tượng cần thay đổi sẽ do người lãnh đạo sự thay đổi quyết định (Luanvan.net, 2007) (Masterskills Blog)
1.1.4 Nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi
- Xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
Mỗi doanh nghiệp kinh doanh trong một môi trường cụ thể – môi trường kinh doanh Môi trường kinh doanh là tổng thể các nhân tố bên trong và bên ngoài vận động tương tác lẫn nhau và tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 4Xu hướng toàn cầu hóa đã trở thành một xu hướng mang tính tất yếu khách quan, các nước phát triển và các nước đang phát triển đều mong muốn hội nhập để tận dụng các lợi thếcạnh tranh của mình Quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới đã tiến được những bước dài Ngày nay, thế giới đã hình thành nhiều khu vực kinh tế như: khối thị trường chung châu Âu, Hiệp hội các nước Đông Nam Á, Tiến trình phát triển này sẽ dẫn đến mở rộng các mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia Các hàng rào thuế quan sẽ dần bị dỡ bỏ, hàng hóa sẽ được tự do di chuyển giữa các quốc gia Xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa này làm môi trường kinh doanh thay đổi, áp lực cạnh tranh tăng cao Các doanh nghiệp không chỉ chịu sự cạnh tranh từ các doanh nghiệp trong nước mà chịu sự cạnh tranh từ các doanh nghiệp trong khu vực và trên thế giới
Trong môi trường cạnh tranh toàn cầu, các doanh nghiệp phát triển ở những mức độ khác nhau, có doanh nghiệp phát triển với tốc độ cao, có doanh nghiệp phát triển với tốc độ thấp hơn Các doanh nghiệp phát triển với tốc độ chậm sẽ bị “yếu đi” và “nhỏ đi” một
cách tương đối so với các doanh nghiệp khác và sẽ trở nên bất lợi trong cạnh tranh Do
đó, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển buộc phải thay đổi để thích ứng với
sự biến động của môi trường
- Sự thay đổi của môi trường và điều kiện kinh doanh
Môi trường kinh doanh càng mở rộng bao nhiêu thì sẽ càng có nhiều thành viên kinh tế tham gia bấy nhiêu Toàn cầu hóa nền kinh tế đã rút ngắn khoảng cách về không gian, các doanh nghiệp ở các quốc gia khác nhau vẫn có thể cạnh tranh trực tiếp với nhau (sản phẩm đầu ra và nguồn lực đầu vào) Các đối thủ ở nhiều nước/khu vực khác nhau với trình độ nhận thức và phản ứng trước thị trường hết sức khác nhau lại cùng cạnh tranh với nhau Điều này, làm cho tính bất ổn của môi trường kinh doanh ngày càng cao Tính bất ổn cao dẫn đến phá vỡ các tính quy luật phổ biến trước đây về hoạt động kinh doanh và quản trị kinh doanh
Điều này đòi hỏi mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển cần phải nỗ lực thay đổi cho phù hợp với sự biến động rất rõ ràng và ngày càng mạnh mẽ của môi trường
Môi trường thay đổi dữ dội, đòi hỏi doanh nghiệp – muốn tồn tại và phát triển phải thay đổi nhanh chóng Trong môi trường kinh doanh biến đổi dữ dội ngày nay, thay đổi và phát triển
là hai vấn đề gắn bó chặt chẽ với nhau: thay đổi là điều kiện để phát triển, phát triển trong môi trường mới lại đòi hỏi doanh nghiệp tiếp tục thay đổi
- Sự phát triển của khoa học công nghệ
Với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của khoa học công nghệ và quá trình quốc tế hóa cũng khiến cho sự phụ thuộc giữa các doanh nghiệp, các quốc gia cũng ngày càng tặng lên
rõ rệt, đồng thời tăng khả năng cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu Và toàn bộ những sự thay đổi đó có ảnh hưởng rất lớn đến doanh nghiệp Do đó nếu không có sự thay đổi thì chắc chắn các doanh nghiệp sẽ rất khó có thể theo kịp được với tốc độ phát triển nhanh chóng của thị trường và không thể duy trì lâu dài
- Tác nhân xã hội và pháp luật:
Những thay đổi do các tác nhân xã hội gây ra có thể là ảnh hưởng thoáng qua hay lâu dài Những xu hướng chung trong xã hội, chính trị và nhân khẩu đều liên quan đến mỗi con người Chúng bột phát trong giới trẻ và thị trường tiêu thụ trong những năm gần đây Sự thay đổi rõ nét nhất là từ cộng đồng đến một xã hội tập trung cá nhân tính và dân số đang biến đổi Các doanh nghiệp chịu sự tác động của các xu hướng mà ảnh hưởng
Trang 5nhu cầu của người tiêu thụ và các ngành kinh tế khác Như trong ngành kinh doanh hàng may mặc các nhà sản xuất và kinh doanh phải luôn ứng phó với sự thay đổi liên tục của thời trang Các kiểu mẫu được yêu thích trong quá khứ không hẳn là những mẫu mà người
ta sẽ mua trong tương lai (Luanvan.net, 2007), (Masterskills Blog)
1.1.5 Doanh nghiệp cần thay đổi như thế nào?
- Có hai phương pháp thay đổi là thay đổi từng bước và thay đổi đột phá Việc chọn phương pháp nào còn tùy thuộc vào phản ứng của đối thủ, trình độ và kỹ năng của người tham gia thay đổi và cả những áp lực từ các bộ phận khác có liên quan
Thay đổi từng bước: là thay đổi xảy ra chậm, trong một thời gian dài với một tốc độ đều đặn hay với những biến động nhỏ về cường độ Phương pháp này thường được sử dụng khi chương trình thay đổi gặp nhiều sự phản kháng hoặc khi trình độ nhân viên không đồng đều
Thay đổi đột phá: là thực hiện một hoặc nhiều thay đổi lớn một cách bất ngờ sau một thời kỳ tương đối ổn định Phương pháp này thường được sử dụng khi chương trình thay đổi gặp ít sự phản kháng nhưng trình độ nhân viên chưa đạt điều kiện và yêu cầu của chương trình thay đổi nên cần thời gian đào tạo, hoặc khi trong tổ chức chưa hội
đủ điều kiện cần thiết để thực hiện chương trình
- Quá trình thay đổi diễn ra qua 3 giai đoạn:
Làm tan băng (unfreezing): Người dẫn dắt sự thay đổi phải tạo ra sự mất cân bằng giữa động lực và trở lực, nhằm mục đích chuyển trạng thái của tổ chức ở điều kiện hiện tại sang điều kiện mong muốn để thực hiện dự án thay đổi Quá trình “làm tan băng” xảy
ra khi động lực tăng hoặc trở lực giảm hoặc kết hợp cả hai
Thực hiện thay đổi (movement and transition): Thực hiện những nội dung cần thay đổi theo kế hoạch đã đề ra Tuy nhiên, người dẫn dắt cần hiểu rõ sự khác biệt giữa một bên
là lập kế hoạch cho sự thay đổi và một bên là nhu cầu cần thiết để thực thi các kế hoạch,
để từ đó có những điều chỉnh hợp lý và cần thiết cho kế hoạch
Đóng băng trở lại (refreezing): Quá trình này xảy ra khi sự thay đổi đã đi vào trạng thái hoạt động mong muốn Lúc này, nhà quản trị và người dẫn dắt cần củng cố và duy trì các điều kiện hiện có để đảm bảo sự thay đổi được vận hành ổn định cho đến khi thay thế hoàn toàn cái cũ nhằm ngăn chặn tổ chức rơi vào trạng thái hoạt động theo phương thức cũ (Luanvan.net, 2007)
1.2 Sự phát triển trong tổ chức
1.2.1 Khái niệm sự phát triển trong tổ chức
Phát triển tổ chức là một loạt các thay đổi có kế hoạch và có hệ thống đối với một doanh nghiệp đang hoạt động Những thay đổi này – thường được đề cập tới những sự can thiệp – được thiết kế để nâng cao hiệu quả hoạt động hiệu quả hoạt động của tổ chức và giúp tổ chức đáp ứng với những thay đổi của môi trường Phát triển tổ chức bao gồm những hoạt động tạo
ra sự thay đổi rộng lớn mà những hoạt động này có thể nhằm tới cá nhân, nhóm hoặc tổ chức hiện tại Mục đích của phát triển tổ chức là tạo ra sự đổi mới tổ chức, giúp cho doanh nghiệp tránh được sự suy tàn, lỗi thời và xơ cứng (PGS.TS Bùi Anh Tuấn & TS Phạm Thúy Hương, 2009)
Trang 6Do doanh nghiệp tồn tại trong môi trường thay đổi rất nhanh, nó phải luôn đổi mới, sáng tạo
để duy trì sức sống của nó Một số điều kiện phải được thiết lập để cổ vũ mọi người phát huy những ý tưởng sáng tạo đồng thời tổ chức đó phải năng động trong việc điều chỉnh và thích ứng với môi trường mới
1.2.2 Tính tất yếu cần phải phát triển tổ chức
1.2.2.1 Xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
Mỗi doanh nghiệp kinh doanh trong một môi trường cụ thể – môi trường kinh doanh Môi trường kinh doanh là tổng thể các nhân tố bên trong và bên ngoài vận động tương tác lẫn nhau
và tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Xu hướng toàn cầu hóa đã trở thành một xu hướng mang tính tất yếu khách quan, các nước phát triển và các nước đang phát triển đều mong muốn hội nhập để tận dụng các lợi thế cạnh tranh của mình Quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới đã tiến được những bước dài Ngày nay, thế giới đã hình thành nhiều khu vực kinh tế như: khối thị trường chung châu Âu, Hiệp hội các nước Đông Nam Á, Tiến trình phát triển này sẽ dẫn đến mở rộng các mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia Các hàng rào thuế quan sẽ dần bị dỡ bỏ, hàng hóa sẽ được tự do di chuyển giữa các quốc gia Xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa này làm môi trường kinh doanh thay đổi, áp lực cạnh tranh tăng cao Các doanh nghiệp không chỉ chịu sự cạnh tranh từ các doanh nghiệp trong nước mà chịu sự cạnh tranh từ các doanh nghiệp trong khu vực và trên thế giới Trong môi trường cạnh tranh toàn cầu, các doanh nghiệp phát triển ở những mức độ khác nhau, có doanh nghiệp phát triển với tốc độ cao, có doanh nghiệp phát triển với tốc độ thấp hơn Các doanh nghiệp phát triển với tốc độ chậm sẽ bị “yếu đi” và “nhỏ đi” một cách tương đối so với các doanh nghiệp khác và sẽ trở nên bất lợi trong cạnh tranh Do đó, các doanh nghiệp muốn tồn tại lâu dài buộc phải phát triển để thích ứng với sự biến động của môi trường (PGS.TS Bùi Anh Tuấn & TS Phạm Thúy Hương, 2009)
1.2.2.2 Phát triển bền vững
Phát triển bền vững là sự phát triển đảm bảo tính cân bằng cần thiết trong cả ngắn hạn và dài hạn Theo quan niệm này, không thể chỉ xem xét sự phát triển của bất kì đối tượng nào trong thời kì ngắn hạn mà sự phát triển trong ngắn hạn phải là điều kiện tiền đề để đối tượng đó tiếp tục phát triển trong tương lai Đôi khi cái “được” trước mắt lại là điều kiện cho cái “mất” lớn hơn trong tương lai Phát triển bền vững được xem xét cho mọi đối tượng và theo quan điểm
hệ thống Theo quan điểm này, cần xem xét sự phát triển bền vững của doanh nghiệp ở hai góc độ:
- Sự phát triển bền vững của bản thân doanh nghiệp: là sự thay đổi và phát triển đảm bảo cho doanh nghiệp luôn ở trạng thái đã, đang và sẽ tiếp tục phát triển Những thay đổi có thể đem đến cho doanh nghiệp: lợi ích trong cả ngắn hạn và dài hạn; không đem lại lợi ích trước mắt mà chỉ đem lại các lợi ích lâu dài; đem lại lợi ích ngắn hạn mà không đem lại lợi ích dài hạn; đem lại lợi ích ngắn hạn song lại dẫn đến các thiệt hại lâu dài cho doanh nghiệp Trong các thay đổi trên, chỉ những thay đổi đem lại cả lợi ích ngắn hạn và dài hạn hoặc thay đổi chỉ đem lại lợi ích trong dài hạn là những thay đổi đem lại sự phát triển bền vững cho doanh nghiệp
- Sự phát triển bền vững của môi trường sinh thái: môi trường sinh thái là một phần của môi trường kinh doanh Cùng với quá trình phát triển kinh tế, con người cũng hủy hoại môi
Trang 7trường sống của mình một cách vô hình hay hữu ý như: cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, Môi trường không những chỉ cung cấp “đầu vào” mà còn chứa đựng “đầu ra” cho các quá trình sản xuất Do đó, ngày nay các doanh nghiệp ngày càng quan tâm phát triển kinh doanh trên cơ sở đảm bảo tính bền vững của môi trường sinh thái Vì vậy, ngày càng
có nhiều công nghệ thân thiện với môi trường ra đời để thay thế các công nghệ cũ
Sở dĩ phải phát triển bền vững là vì chỉ trên cơ sở phát triển bền vững mới đem lại các lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp, mới thực hiện được mục tiêu đưa doanh nghiệp ngày càng phát triển trong môi trường thường xuyên biến động (PGS.TS Bùi Anh Tuấn & TS Phạm Thúy Hương, 2009)
1.2.3 Các phương pháp phát triển tổ chức
Phát triển tổ chức là sự thay đổi có hệ thống và có kế hoạch Phát triển tổ chức (OD -organizational development ) là tập hợp các phương pháp, các hoạt động can thiệp để thay đổi nguyên trạng của tổ chức Có một vài phương pháp can thiệp mà các nhà quản lý thường sử dụng để phát triển tổ chức (PGS.TS Bùi Anh Tuấn & TS Phạm Thúy Hương, 2009)
1.2.3.1 Tái tổ chức cơ cấu: để giúp tổ chức thích nghi với sự thay đổi của môi trường thì
việc tái tổ chức lại cơ cấu là điều cần thiết Việc tái cơ cấu tổ chức nhằm phục vụ 3 lý do sau:
- Thứ nhất, sự thay đổi tổ chức sẽ đem lại lợi ích về kinh tế Bằng việc mở rộng các kênh kiểm soát và giảm bớt một số vị trí quản lý, tổ chức sẽ giảm được đáng kể chi phí hành chính
- Thứ hai, với số cấp quản lý sẽ cải thiện được việc giao tiếp, tiếp xúc giữa nhân viên với các nhà quản lý trong tổ chức
- Thứ ba, các kênh kiểm soát được mở rộng hơn sẽ tăng tính tự chủ của nhân viên trong quá trình thực hiện công việc Tuy nhiên, việc tái cơ cấu tổ chức có thể gây ra sự xáo trộn lớn trong tổ chức và là mối đe dọa đối với những người thuộc các bộ phận phải tổ chức sắp xếp lại
Do đó, các người đại diện cho việc thay đổi cơ cấu tổ chức cần phải ủng hộ và tăng cường sự tham gia tích cực của người lao động trong quá trình tái tổ chức lại cơ cấu (PGS.TS Bùi Anh Tuấn & TS Phạm Thúy Hương, 2009)
1.2.3.2 Thay đổi hệ thống chính sách khen thưởng: Những người đại diện cho thay đổi tổ
chức thì rất nhiệt tình ủng hộ quan điểm cho rằng, hành vi có chức năng biểu lộ kết quả của chính nó Do đó, đã khiến các nhà quản lý thường tập trung vào hệ thống khen thưởng của tổ chức
Xu hướng thay đổi hệ thống chính sách khen thưởng hiện nay là hướng vào nhóm thay vì hướng vào cá nhân như trước đây Nghĩa là các chính sách khen thưởng sẽ nhấn mạnh tới thành tích lao động của nhóm nhằm thúc đẩy hoạt động làm việc theo nhóm và tăng cường sự phối hợp giữa những người lao động trong quá trình thực hiện công việc (PGS.TS Bùi Anh Tuấn & TS Phạm Thúy Hương, 2009)
Trang 81.2.3.3 Thay đổi văn hóa của tổ chức: Việc thay đổi văn hóa tổ chức là tích cực, song rõ ràng là, sự thay đổi văn hóa tổ chức là một quá trình lâu dài
Điều đáng chú ý là, để phù hợp với các giá trị của việc phát triển tổ chức, các thay đổi hầu hết đã tạo ra các văn hóa mới ủng hộ việc: giảm sự kiểm sát của các nhà quản lý; tăng sự chấp nhận rủi ro và xung đột; tăng cường sự giao tiếp giữa cán bộ quản lý và người lao động Việc nhấn mạnh thay đổi văn hóa tổ chức ở đây là nhằm làm cho văn hóa tổ chức trở nên năng động hơn, dễ thích ứng hơn và tập trung hơn vào nhu cầu của khách hàng cũng như chất lượng hàng hóa và dịch vụ (PGS.TS Bùi Anh Tuấn & TS Phạm Thúy Hương, 2009)
1.2.3.4 Tái thiết kế công việc: Tái thiết kế lại công việc giống như tái tổ chức lại cơ cấu, chỉ
có điều thay vì tập trung những cố gắng để thay đổi tổ chức, thì chúng ta tập trung cố gắng
để thay đổi công việc Kết quả là, trái với việc tái thiết kế lại tổ chức, trong thực tế việc thiết
kế lại công việc có phạm vi rộng hơn và có thể được thực hiện bởi các nhà quản lý cấp cao Trên thực tế, những tác nhân thay đổi và phát triển tổ chức đã tích cực thúc đẩy việc thiết kế lại công việc theo các mô hình, đặc thù của từng công việc đã được đề xuất Điều này có nghĩa
là người ta muốn đa dạng hóa các kỹ năng làm việc, tăng khả năng nhận biết được công việc, tăng cường thông tin phản hồi về công việc, đẩy mạnh quyền tự chủ trong công việc
Cải thiện chất lượng của cuộc sống lao động Khái niệm chất lượng của cuộc sống lao động (QWL – Quality of worklife) là mô tả một quá trình mà ở đó tổ chức có thể đáp ứng được các nhu cầu của người lao động thông qua việc hình thành và phát triển một cơ chế cho phép người công nhân tham gia một cách đầy đủ vào việc đưa ra quyết định thiết kế cuộc sống của họ tại nơi làm việc Sau đây là một số biện pháp can thiệp nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống cho người lao động:
- Chế độ tạo ra sự đãi ngộ công bằng và đầy đủ của công ty đối với công nhân
- Can thiệp để bảo đảm một môi trường lành mạnh và an toàn cho người công nhân
- Can thiệp sắp xếp công việc cho phù hợp để phát triển khả năng của con người
- Can thiệp để tạo ra cơ hội cho việc phát triển của mỗi cá nhân và đảm bảo an toàn cho người lao động
- Can thiệp vào một môi trường xã hội để tạo ra khả năng nhận biết về mỗi cá nhân, quyền tự
do định kiến, phát triển tình cảm cộng đồng và hướng tới sự thay đổi
- Can thiệp sự bất đồng chính kiến vào các quyền riêng của mỗi cá nhân
- Làm rõ vai trò, ý nghĩa của công việc đối với các nhu cầu của gia đình và để giảm thiểu sự
vi phạm của mỗi cá nhân trong thời gian nhàn rỗi
- Can thiệp vào các hoạt động của tổ chức để có trách nhiệm đối với xã hội
Bên cạnh những biện pháp can thiệp vào hệ thống tổ chức, các nhà quản lý còn quan tâm đến các biện pháp tác động làm thay đổi thái độ và hành vi của các cá nhân trong tổ chức Cụ thể
là thực hiện các chương trình khảo sát, thu thập thông tin phản hồi, chương trình tư vấn
về phương pháp làm việc, chương trình hình thành nhóm người lao động, chương trình và
Trang 9phát triển sự liên kết giữa các nhóm, lao động với nhau (PGS.TS Bùi Anh Tuấn & TS Phạm Thúy Hương, 2009)
Chương 2: Liên hệ Công ty cổ phần Vinmart
2.1.Giới thiệu về CTCP Vinmart
2.1.1 Giới thiệu chung
VinMart và VinMart+ là 2 thương hiệu chuỗi bán lẻ do tập đoàn Vingroup thành lập, thuộc công ty Vincommerce Trên tinh thần phát triển bền vững, chuyên nghiệp, với phương châm
“Vì chất lượng cuộc sống của mọi nhà”, hệ thống VinMart & VinMart+ mang đến cho người tiêu dùng sự lựa chọn đa dạng về hàng hoá và dịch vụ, tính tiện ích, đáp ứng nhu cầu mua sắm
từ bình dân đến cao cấp của khách hàng Đặc biệt, khi mua sắm tại hệ thống VinMart và VinMart+, khách hàng còn nhận được nhiều giá trị vượt trội thông qua các hình thức khuyến mại, ưu đãi hấp dẫn
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển
o 20/11/2014: Hệ thống siêu thị bán lẻ Vinmart được thành lập
o 2/2015: Trải qua gần 1 năm hoạt động, số lượng siêu thị Vinmart đã tăng lên gấp 3 lần (27 siêu thị) và chuỗi cửa hàng bán lẻ Vinmart+ đã lên tới 200 cửa hàng Điều này đã dập tắt mọi lo ngại trước đây của các nhà kinh tế về việc Vinmart & Vinmart+ sẽ bị vùi dập khi phải cạnh tranh với các thương hiệu lớn khác
o 6/2016: Tính đến tháng 6/2016 thì trên thị trường đã có 50 siêu thị và 830 cửa hàng tiện ích Vinmart+
o 11/2017: Với những phản hồi tích cực từ phía người tiêu dùng, Vingroup tiếp tục mở rộng thị trường Đến cuối năm 2017 thì Vinmart đã có hơn 60 siêu thị và 1000 cửa hàng Vinmart+ trải khắp 30 tỉnh thành trên cả nước và số lượng nhân viên khoảng 11.000 người
o 10/2018: Tập đoàn Vingroup mua lại toàn bộ chuỗi siêu thị Fivimart, một trong những đơn vị bán lẻ có hơn 10 năm hoạt động trên thị trường và sở hữu những địa điểm kinh doanh ở các khu phố trung tâm Sau khi sáp nhập thì VinCommerce đã sở hữu hệ thống bán lẻ quy mô lớn nhất Việt Nam với khoảng 100 siêu thị Vinmart và 1.400 cửa hàng tiện lợi Vinmart+
o 11/2019: Sau 5 hoạt động, Vinmart & Vinmart+ đã có những bước phát triển vượt bậc, trở thành chuỗi bán lẻ có quy mô lớn nhất trên thị trường với gần 2.600 siêu thị và cửa hàng tại 50 tỉnh trên cả nước
o 12/2019: Sát nhập vào Massan
(Wikipedia, n.d.)
Trang 102.1.3 Giá trị cốt lõi của hệ thống siêu thị Vinmart
2.1.3.1 Hàng hóa chất lượng cao, minh bạch về nguồn gốc
Khách hàng hoàn toàn an tâm về chất lượng và xuất xứ của hàng hoá tại đây bởi thương hiệu này có quy trình kiểm soát chặt chẽ do vậy khi mua hàng tại đây chất lượng và xuất xứ của hàng hoá luôn được đảm bảo Rất nhiều nhãn hàng riêng của thương hiệu này như: như Vineco, Vinmart Cook, Vinmart Home… được Vingroup sản xuất / chế biến với quy mô lớn, bài bản
và chuyên nghiệp lại góp thêm sự phong phú cho các mặt hàng tại đây
2.1.3.2 Thuận tiện mua sắm:
Đây là một trong những lợi thế khác biệt khó có thương hiệu trong ngành nào thực hiện được Vinmart đầu tư số lượng cửa hàng lớn và độ phủ trên toàn quốc, gắn bó mật thiết với các cộng đồng dân cư, giúp khách hàng dễ dàng tiếp cận mua sắm và sử dụng dịch vụ
2.1.3.3 Một điểm đến, trọn nhu cầu
Vinmart đem đến giải pháp tổng thể cũng như tối ưu nhất về hàng hoá và dịch vụ tiện ích phục
vụ cuộc sống Việc luôn đặt nhu cầu và lợi ích của khách hàng lên hàng đầu cũng như không ngừng cải thiện chất lượng sản phẩm dịch vụ để đáp ứng tốt nhất nhu cầu khách hàng giúp cho thương hiệu này càng được lòng người tiêu dùng
2.1.3.4 Thân thiện và tận tâm:
Với việc thiết kế và bố trí thân thiện, chỉ dẫn rõ ràng cùng với một đội ngũ nhân viên thân thiện tận tâm đã nâng cao chất lượng dịch vụ tại đây
2.1.3.5 Phát triển vì cộng đồng
Bền vững, có trách nhiệm vì môi trường, vì cộng đồng và vì sự phát triển của xã hội chính là tôn chỉ hoạt động của thương hiệu này và cũng là điều giúp thương hiệu này càng ngày càng phát triển, chiếm lĩnh thị trường
Không chỉ có vậy, Vinmart còn chú trọng xây dựng môi trường làm việc chuyên nghiệp, năng động, sáng tạo và nhân văn
Có thể thấy rằng: việc đề ra được và thực hiện tốt 5 tôn chỉ hoạt động này đã giúp cho hệ thống siêu thị Vinmart ngày càng trở thành một điểm đến tin cậy của rất nhiều khách hàng
Sự phát triển nhanh chóng và vững chắc của thương hiệu này cũng là thách thức vô cùng lớn cho các thương hiệu khác trong ngành
(Tin doanh nghiệp, 2019)
2.1 Phân tích sự thay đổi của Vinmart
Dịch Covid-19 diễn biến phức tạp tại một số quốc gia, gây tác động, ảnh hưởng không nhỏ tới nhiều ngành, lĩnh vực của nền kinh tế nước ta, trong đó có ngành bán lẻ Nhưng với nhóm hàng thực phẩm thiết yếu, nhu cầu lại tăng đột biến do tâm lý tích trữ của người tiêu dùng (NTD) Đây cũng là lúc các nhà bán lẻ cần hoàn thiện mô hình bán hàng đa kênh, cập nhật xu hướng tiêu dùng để có những giải pháp ứng phó trong tình hình mới