1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số đặc điểm dịch tễ học lâm sàng 69 ca bệnh do cầu khuẩn màng não tại các đơn vị quân đội từ 2014-2020

7 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 363,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày mô tả một số đặc điểm dịch tễ học bệnh do cầu khuẩn màng não xâm nhập (nhiễm khuẩn huyết (NKH)/viêm màng não (VMN) hay Invasive Meningococcal Diseases - IMD) tại các đơn vị quân đội trong toàn quân từ 2014 đến 2020.

Trang 1

M ỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC LÂM SÀNG

69 CA B ỆNH DO CẦU KHUẨN MÀNG NÃO

T ẠI CÁC ĐƠN VỊ QUÂN ĐỘI TỪ 2014 - 2020

Nguy ễn Đăng Mạnh 1

, Ph ạm Văn Chung 1

, Mai Thanh H ải Linh 2

Lê Th ị Quế 3

, Ph ạm Trắc Đông 4

, Tri ệu Phi Long 5

TÓM T ẮT

M ục tiêu: Mô tả một số đặc điểm dịch tễ học bệnh do cầu khuẩn màng não xâm nhập

(nhi ễm khuẩn huyết (NKH)/viêm màng não (VMN) hay Invasive Meningococcal Diseases - IMD)

t ại các đơn vị quân đội trong toàn quân từ 2014 đến 2020 Đối tượng và phương pháp:

Nghiên c ứu tiến cứu kết hợp hồi cứu, mô tả cắt ngang 69 ca bệnh nhiễm IMD theo tiêu chuẩn

xác định ca bệnh do IMD của Bộ Y tế (Quyết định 3897/QĐ-BYT, ngày 12/10/2012) điều trị tại

các bệnh viện quân y trong toàn quân K ết quả: Từ 2014 - 2020: có 69 ca bệnh IMD (66 ca do

nhóm B, 01 ca nhóm W135, 02 ca không xác định nhóm huyết thanh; thể bệnh NKH + VMN:

2,1%, VMN: 36,2%, NKH: 21,7%; t ỷ lệ mắc/100.000 lính/năm từ 0,44 (năm 2020) đến 3,55

(n ăm 2016) Tỷ lệ tử vong: 10,14% Số ca bệnh ở miền Bắc đạt đỉnh cao vào các tháng mùa xuân

trong khi ở miền Nam là các tháng đầu mùa mưa Phân bố ca bệnh theo khu vực: Miền Bắc:

65,21%; mi ền Nam 34,79% Đặc điểm phân bố ca bệnh trên nhóm đối tượng: nhập ngũ

< 1 năm: 72,5%, từ 1 - 2 năm: 26,1%, > 2 năm: 1,4% K ết luận: Tỷ lệ mắc IMD cao 2,18

ca/100.000 lính v ới 95,65% do nhóm huyết thanh B Tỷ lệ tử vong 10,14% Các ca bệnh phân

b ố chủ yếu ở nhóm đối tượng tân binh (72,5%); ở miền Bắc (65,21%) và từ tháng 2 - tháng 6

* T ừ khóa: Màng não cầu khuẩn; Dịch tễ học

Some Clinical Epidemiological Characteristics of 69 Cases of

Meningococcal Disease in Military Units from 2014 to 2020

Summary

Objectives: To describe some epidemiological characteristics of invasive meningococcal

disease (IMD) at military units from 2014 to 2020 Subjects and methods: This was a

cross-sectional study on 69 cases of invasive meningococcal infections according to the Ministry of

Health’s criteria for identifying IMD cases (Decision 3897 / QD-BYT, October 12, 2012) treated

at Military Hospitals in the whole army Results: From 2014 to 2020: there were 69 cases of

IMD (66 cases due to serogroup B, 01 case of serogroup W135, 02 cases of unknown serogroup)

1

B ệnh viện TWQĐ 108

2

Trung tâm Nghiên c ứu Y học Việt - Đức

3

Ban Công tác Xã h ội - Bệnh viện TWQĐ108

4

C ục Quân y

5

Vi ện Y học Dự phòng Quân đội

Ng ười phản hồi: Nguyễn Đăng Mạnh (drmanha4b108@gmail.com)

Ngày nh ận bài: 22/9/2020

Ngày bài báo được đăng: 07/10/2020

Trang 2

Among them, meningitis with accompanying meningococcemia accounted for 42.1%, meningitis: 36.2%, meningococcemia 21.7%; The incidence rate per 100,000 soldiers per year was from 0.44 (2020) to 3.55 (2016) Mortality rate: 10.14% The highest number of cases in the northern areas occurs in the spring months meanwhile it reaches a peak in the first months of the rainy season Regarding the distribution by region: The north: 65.21%, the south 34.79% Distribution of cases among target groups: enlistment < 1 year (72.5 %), 1 - 2 years (26.1%),

> 2 years (1.4%) Conclusion: The incidence of IMD was high at 2.18 cases/100,000 soldiers

with 95.65% due to the serogroup B Mortality rate was 10.14% The cases were mainly distributed among new recruits (72.5%), in the north (65.21%) and from February to June

* Keywords: Neisseria meningitidis; Epidemiological features

ĐẶT VẤN ĐỀ

Neisseria meningitidis (màng não cầu

khuẩn) thuộc chi vi khuẩn Neisseria là

một song cầu khuẩn Gram âm, khó nuôi

cấy Bệnh do màng não cầu khuẩn đặc

biệt viêm màng não/nhiễm khuẩn huyết

do cầu khuẩn màng não (gọi chung là

bệnh do cầu khuẩn màng não xâm nhập -

Invasive meningococcal diseases IMD) là

một bệnh truyền nhiễm tối nguy hiểm, lây

qua đường hô hấp, tỷ lệ tử vong và biến

chứng cao, có thể thành dịch đe dọa sức

khỏe cộng đồng nói chung và các đơn vị

quân đội nói riêng [1] Con người là vật

chủ duy nhất của vi khuẩn màng não cầu,

chúng cư trú bình thường trên niêm mạc

hầu họng của con người với tỷ lệ phát

hiện vi khuẩn khoảng 10% dân số Điều

kiện sống tập trung đông đúc (ở ký túc xá

các trường đại học hay trong các đơn vị

bộ đội) là nơi thuận lợi cho việc bùng phát

và lây lan dịch bệnh Tỷ lệ nhiễm vi khuẩn

màng não cầu trong dịch nhày họng tại

đây lên tới 39% theo số liệu nghiên cứu

của Triệu Phi Long - Viện Y học Dự phòng

Quân đội [2] Tỷ lệ nhiễm màng não cầu

cao trong quần thể các đơn vị tân binh

chính là một yếu tố nguy cơ quan trọng

dẫn đến bùng phát dịch, cần nghiên cứu,

giám sát chặt chẽ Nghiên cứu của chúng

tôi nhằm mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm

d ịch tễ học bệnh do cầu khuẩn màng não xâm nhập (IMD) tại các đơn vị quân đội trong toàn quân t ừ 2014 đến 2020

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN C ỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

Ca bệnh lâm sàng: 69 ca bệnh lâm sàng thu dung điều trị tại các bệnh viện quân y toàn quân trong thời gian 2014 - 2020; chọn mẫu toàn bộ, tiêu chuẩn lựa

chọn theo Quyết định 3897/QĐ-BYT [3]

* Tiêu chu ẩn lựa chọn:

- Tiêu chuẩn lâm sàng (ca bệnh nghi ngờ)

Là những trường hợp có sốt, đau đầu,

buồn nôn, nôn, gáy, lơ mơ, nhạy cảm với ánh sáng, có thể xuất hiện ban xuất huyết hình sao hoặc biểu hiện sốc nhiễm khuẩn

và trên lâm sàng hướng tới bệnh do cầu khuẩn màng não

- Tiêu chuẩn xét nghiệm (xác định

ca bệnh): sử dụng một trong các xét nghiệm sau:

+ Soi thấy song cầu Gram (-), cấy phân lập được NMC trong dịch não tủy;

+ Cấy máu phân lập được NMC;

+ Soi và cấy phân lập được NMC trong

tử ban;

+ PCR (+) với NMC trong dịch não tủy, máu, tử ban

Trang 3

*Tiêu chuẩn loại trừ:

Bệnh nhân từ chối tham gia nghiên

cứu; có kết quả nuôi cấy, xét nghiệm

PCR máu/dịch não tủy/tử ban dương tính

với ≥ 2 mầm bệnh

2 Ph ương pháp nghiên cứu

* Thi ết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô

tả cắt ngang, kết hợp hồi cứu và tiến cứu

* C ỡ mẫu nghiên cứu: Chọn mẫu

thuận tiện, tất cả bệnh nhân có đủ tiêu

chuẩn đều được chọn vào nghiên cứu

* Ph ương pháp thu thập số liệu: Thông

tin về bệnh nhân được thu thập bằng

bệnh án nghiên cứu qua việc tra cứu

bệnh án lưu trữ, các báo cáo về ca bệnh

của Cục Quân y

* Các ch ỉ tiêu đánh giá:

- Số ca bệnh theo năm;

- Số ca mắc/100.000 lính/năm;

- Cơ cấu nhóm huyết thanh gây bệnh;

- Các thể bệnh lâm sàng; tỷ lệ tử vong;

- Phân bố ca bệnh theo tháng, khu vực

địa lý và thời gian nhập ngũ

* K ỹ thuật dùng trong nghiên cứu:

- Phát hiện cầu khuẩn màng não: Kỹ thuật nhuộm soi, nuôi cấy và PCR

- Phát hiện serogroups: Kỹ thuật multiplex PCR

* Xử lý số liệu:

- Số liệu được nhập và xử lý bằng

phần mềm SPSS 22.0 Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05

- Sử dụng các thuật toán: Tính tỷ lệ phần trăm, tính giá trị trung bình, so sánh hai tỷ lệ, so sánh hai giá trị trung bình, test kiểm định χ2

K ẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 T ỷ lệ mắc, cơ cấu nhóm huyết thanh và tỷ lệ tử vong

B ảng 1: Phân bố ca bệnh IMD từ 2014 - 2020

(* Quân s ố thường trực khoảng 450.000 Nguồn: Viện Chiến lược Quốc phòng Việt Nam)

Số ca mắc cao nhất năm 2016 (23%), thấp nhất năm 2020 (2,9%) Chủ yếu do màng não cầu týp B (95,65%) với tỷ lệ tử vong 10,14%

Trang 4

2 Các th ể bệnh lâm sàng

B ảng 2: Các thể bệnh lâm sàng

Thể bệnh

0,038

Thể bệnh NKH + VMN chiếm 42,1% VMN đơn thuần chiếm 36,2% NKH đơn thuần 21,7% Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ tử vong giữa các thể bệnh lâm sàng với p = 0,038

3 Phân b ố các ca bệnh theo tuổi quân

Bảng 3: Phân bố ca bệnh IMD từ 2014 - 2020 theo tuổi nhập ngũ

Đa số ca bệnh là tân binh nhập ngũ < 1 năm (72,5%); 1,4% số ca bệnh có tuổi quân

> 2 năm Tỷ lệ sốc và tử vong giữa các nhóm tuổi quân khác nhau không có ý nghĩa

thống kê

4 Phân b ố các ca bệnh theo tháng

Bi ểu đồ 1: Phân bố ca bệnh theo tháng ở 2 miền Nam - Bắc

Số ca bệnh phân bố chính tại khu vực miền Bắc (45 ca chiếm 65,7%) Ở miền Bắc số

ca bệnh cao nhất vào các tháng mùa xuân trong khi ở miền Nam là các tháng đầu mùa mưa

Trang 5

BÀN LU ẬN

1 V ề tỷ lệ mắc bệnh

Trong giai đoạn 2014 - 2020, có 69 ca

IMD được ghi nhận trong toàn quân Với

quân số thường trực khoảng 450.000

quân (Nguồn: Cục Chiến lược Quốc

phòng Việt Nam), tỷ lệ mắc trung bình

trên 100.000 lính giai đoạn qua là 2,18 ca

Tỷ lệ mắc/100.000 lính được ghi nhận

thấp nhất năm 2020 (tính đến thời điểm

hiện tại) là 0,44, cao nhất năm 2016 với tỷ

lệ 3,55 ca bệnh/100.000 lính Đây là tỷ lệ

mắc khá cao khi so sánh với tỷ lệ mắc ở

các quốc gia châu Âu; Hoa Kỳ và Canada

(với tỷ lệ tương ứng 0,7; 0,12 và 0,3) và

một số nước khác Trung Quốc, Đài Loan,

Nhật Bản, Hàn Quốc… (tương ứng là

0,05; 0,03; 0,08; 0,028) [4] Khi so sánh

tương quan cùng độ tuổi giai đoạn 2006 -

2016 ở Mỹ, tỷ lệ mắc/100.000 dân ở lứa

tuổi 16 - 20 và 21 - 25 tương ứng là 0,42

và 0,29% Tỷ lệ mắc IMD trong toàn quân

cao hơn quân đội Mỹ giai đoạn 2006 -

2010 (tỷ lệ tương ứng 0,38) [5] Tuy

nhiên, tỷ lệ mắc ở lứa tuổi 17 - 19 trong

quân đội Mỹ ở nghiên cứu trên là 2.343

tương đương với số liệu trong nghiên cứu

của chúng tôi [5]

Ở Việt Nam, ít có nghiên cứu tổng hợp

đánh giá tỷ lệ mắc IMD trong toàn dân

Tuy nhiên, qua so sánh tương quan với tỷ

lệ mắc trong dân số cũng như quân đội

Hoa Kỳ có thể thấy tỷ lệ mắc IMD nói

chung trong quân đội, đặc biệt là trong

nhóm đối tượng nghiên cứu của chúng tôi

cao hơn đáng kể so với dân thường Con

người là vật chủ duy nhất của vi khuẩn

màng não cầu, chúng cư trú bình thường

trên niêm mạc hầu họng của con người

với tỷ lệ phát hiện vi khuẩn tại đây khoảng

10% dân số [1] Điều kiện sống tập trung đông đúc (ký túc xá các trường đại học hay trong các đơn vị bộ đội) đã được biết đến như một điều kiện điều kiện thuận lợi cho việc lây lan vi khuẩn màng não cầu trong cộng đồng Tỷ lệ nhiễm vi khuẩn màng não cầu trong dịch nhày họng tại đây lên tới 39% theo số liệu của Triệu Phi Long - Viện Y học Dự phòng Quân đội [2]

Tỷ lệ nhiễm màng não cầu cao trong quần thể các đơn vị tân binh chính là một yếu tố nguy cơ quan trọng dẫn đến bùng phát các ca bệnh IMD, dẫn đến tỷ lệ mắc IMD cao hơn trong cộng đồng

Đáng chú ý rằng, trong nghiên cứu của chúng tôi: Miền Bắc có đỉnh số ca bệnh vào các tháng mùa xuân Miền Nam có đỉnh các ca bệnh vào các tháng đầu mùa mưa Kết quả nghiên cứu trên “Vành đai màng não cầu” ở châu Phi cho thấy mối liên quan giữa điều kiện môi trường nhiều

bụi, khói, độ ẩm và tỷ lệ mắc bệnh cao [6] Hơn nữa, 72,5% số ca bệnh xảy ra ở đối tượng là chiến sỹ nhập ngũ < 1 năm, đây là đối tượng chủ yếu của công tác dự phòng bệnh

2 V ề cơ cấu nhóm huyết thanh

Đại đa số các ca bệnh IMD trong nhóm nghiên cứu là vi khuẩn màng não cầu týp

B (95,65%); nhóm huyết thanh W135 và nhóm không xác định chiếm 1,45% và 2,9% tương ứng Hiện tại, não mô cầu nhóm B (MenB) là nguyên nhân chính của IMD ở Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Úc, Bắc Phi

và châu Âu [4] Cơ cấu nhóm huyết thanh

của MenB gây bệnh ở Việt Nam hiện tại

cũng không nằm ngoài xu hướng chung của thế giới Điều này có vai trò quan trọng của sự thành công đối với các loại vaccine kháng vi khuẩn màng não cầu

Trang 6

các nhóm huyết thanh không B Hiện tại

đã có một số loại vaccine kháng MenB

(Bexsero và Trumenba) được chấp thuận

và sử dụng ở châu Âu và Hoa Kỳ dẫn đến

xu hướng giảm tỷ lệ mắc IMD nói chung

và giảm tỷ lệ mắc IMD do MenB nói riêng

trong cơ cấu huyết thanh các ca bệnh

Hiệu lực của MenB vaccine đang là vấn

đề khoa học cần được làm sáng tỏ nhất

là đối với các khu vực địa lý ngoài châu

Âu và Hoa Kỳ Báo cáo từ Trung Quốc

cho thấy vaccine kháng MenB không đạt

như mong muốn [7] Chiến lược dự

phòng IMD do MenB sử dụng vaccine,

chưa được thực hiện ở Việt Nam

3 Các th ể bệnh lâm sàng và tỷ lệ tử

vong

Số liệu bảng 3 cho thấy: Thể bệnh

NKH + VMN chiếm 42,1% VMN đơn

thuần chiếm 36,2%, NKH đơn thuần

21,7% Tỷ lệ tử vong khác biệt có ý nghĩa

thống kê giữa các thể bệnh lâm sàng với

p = 0,038 Bệnh do IMD tuy không phổ

biến (tỷ lệ mắc/100.000 dân trung bình

trên toàn thế giới) không cao, tuy nhiên

đây là căn bệnh nguy hiểm, tạo gánh

nặng bệnh tật lớn trên toàn cầu không chỉ

do tỷ lệ tử vong khá cao mà còn do sự

tiến triển nhanh chóng và khả năng lây

lan thành dịch Nghiên cứu phân tích đa

trung tâm trên tổng số 163.758 ca IMD

được khẳng định bằng bằng chứng vi

khuẩn học cho thấy: Tỷ lệ tử vong giảm

từ 9,0% ở trẻ sơ sinh xuống còn 7,0% ở

trẻ 7 tuổi, ổn định ở trẻ 7 - 10 tuổi, tăng

dần lên 10,4% ở thanh thiếu niên 16 tuổi,

đạt đỉnh 15,0% ở người lớn 28 tuổi Sau

đó tỷ lệ tử vong ổn định ở người lớn từ

28 - 45 tuổi, tăng nhanh sau đó và đạt

32,8% ở người 80 tuổi [8] Như vậy, tỷ lệ

tử vong trong số 69 ca bệnh được ghi

nhận trong nghiên cứu của chúng tôi là 10,14%, giảm so với giai đoạn 2008 -

2014 trong nghiên cứu của Triệu Phi Long ở các đơn vị quân đội phía Bắc (5/25 ca = 20%) [2] cũng như báo cáo tử vong trong số các ca bệnh ở quân đội Mỹ giai đoạn 2006 - 2010 là 19% (5/26 ca) và

tỷ lệ tử vong ở cùng độ tuổi (10,4% đến 15,0%) trong phân tích đa trung tâm kể trên [5] Một phần lý do của sự giảm này

là do công tác dự phòng tốt của các bác

sĩ quân y Bệnh nhân có thể được chẩn đoán và điều trị kịp thời hạn chế tỷ lệ tử vong Ngoài ra với sự tiến bộ của y học nói chung, những ca bệnh sốc nhiễm khuẩn do màng não cầu khuẩn được điều

trị hỗ trợ suy đa cơ quan tốt hơn nên tỷ lệ

tử vong giảm Hơn nữa, qua khảo sát

thực tế, một số đơn vị áp dụng biện pháp hóa trị liệu dự phòng cho nhóm tân binh

mới đến đơn vị, một phần giảm tỷ lệ viêm màng não cầu khuẩn không triệu chứng trên hầu họng và hạn chế lây lan trong đơn vị, dẫn đến giảm nguy cơ mắc bệnh

K ẾT LUẬN

- Tỷ lệ mắc IMD cao 2,18 ca/100.000 lính (0,44 năm 2020 đến 3,55 năm 2016)

- Nhiễm khuẩn cầu màng não do huyết thanh B chiếm tỷ lệ cao (95,65%)

- Thể bệnh NKH + VMN: 42,1%, VMN đơn thuần: 36,2%, NKH đơn thuần: 21,7%

- Tỷ lệ tử vong 10,14%

- Các ca bệnh phân bố chủ yếu ở nhóm đối tượng chiến sĩ tuổi quân < 1 năm (72,5%) ở các đơn vị quân đội miền Bắc (65.21%) Miền Bắc có đỉnh số ca

bệnh vào các tháng mùa xuân Miền Nam

có đỉnh các ca bệnh vào các tháng đầu mùa mưa

Trang 7

TÀI LI ỆU THAM KHẢO

1 Tri ệu Phi Long Đặc điểm dịch tễ học

b ệnh do não mô cầu tại các đơn vị quân đội

phía b ắc Tạp chí Y học Dự phòng 2016;

7(2):34-44

2 Quy ết định 3897/QĐ-BYT, ngày 12/10/2012

c ủa Bộ Y tế về việc Hướng dẫn giám sát và

phòng, ch ống bệnh do não mô cầu

3 Kaplan SL, Schutze GE, Leake JA,

et al Multicenter surveillance of invasive

meningococcal infections in children Pediatrics

2006; 118(4):e979-e984

4 Purmohamad A, Abasi E, Azimi T, et al

Global estimate of Neisseria meningitidis

serogroups proportion in invasive meningococcal

disease: A systematic review and meta-analysis

Microbial pathogenesis 2019; 134:103571

5 Broderick MP, Faix DJ, Hansen CJ, et al Trends in meningococcal disease in the United States Military, 1971-2010 Emerging Infectious Diseases 2012; 18(9):1430

6 Agier L, Martiny N, Thiongane O, et al Towards understanding the epidemiology

of Neisseria meningitidis in the African meningitis belt: a multi-disciplinary overview International Journal of Infectious Diseases 2017; 54:103-112

7 Chen M, Rodrigues CM, Harrison OB, et al Invasive meningococcal disease in Shanghai, China from 1950 to 2016: Implications for serogroup B vaccine implementation Scientific reports 2018; 8(1):1-9

8 Wang B, Santoreneos R, Giles L, et al Case fatality rates of invasive meningococcal disease by serogroup and age: A systematic review and meta-analysis Vaccine 2019; 37(21):2768-278.

Ngày đăng: 15/01/2021, 09:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Phân bố ca bệnh IMD từ 201 4- 2020. - Một số đặc điểm dịch tễ học lâm sàng 69 ca bệnh do cầu khuẩn màng não tại các đơn vị quân đội từ 2014-2020
Bảng 1 Phân bố ca bệnh IMD từ 201 4- 2020 (Trang 3)
Bảng 3: Phân bố ca bệnh IMD từ 2014 -2020 theo tuổi nhập ngũ. - Một số đặc điểm dịch tễ học lâm sàng 69 ca bệnh do cầu khuẩn màng não tại các đơn vị quân đội từ 2014-2020
Bảng 3 Phân bố ca bệnh IMD từ 2014 -2020 theo tuổi nhập ngũ (Trang 4)
Bảng 2: Các thể bệnh lâm sàng. - Một số đặc điểm dịch tễ học lâm sàng 69 ca bệnh do cầu khuẩn màng não tại các đơn vị quân đội từ 2014-2020
Bảng 2 Các thể bệnh lâm sàng (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w