1. Trang chủ
  2. » Công Nghệ Thông Tin

Kinh doanh xăng dầu nhập khẩu của Tổng công ty dầu khí Việt Nam

10 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 256,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến kinh doanh xăng dầu nhập khẩu của doanh nghiệp như: Chế độ, chính sách và pháp luật của Nhà nước về kinh doanh xăng dầu nhập khẩu; Luật pháp, môi[r]

Trang 1

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Xăng dầu là mặt hàng đóng vai trò quan trọng và chi phối đối với hầu hết các ngành trong nền kinh tế cũng như đời sống xã hội dân cư Mặc dù từ năm 2009 khi nhà máy Lọc dầu Dung Quất đi vào hoạt động đã chủ động được một phần nguồn cung xăng dầu, tuy nhiên nhà máy này chỉ đáp ứng được 30% nhu cầu toàn quốc, vì vậy vẫn còn 70% lượng xăng dầu phải nhập khẩu từ nước ngoài về tiêu thụ Với đặc thù là mặt hàng chịu tác động trực tiếp từ sự biến động của giá dầu thô thế giới, chính sách nhập khẩu xăng dầu đóng vai trò quan trọng trong chiến lược kinh doanh của các công ty nhập khẩu tại Việt Nam trong đó có Tổng công ty Dầu Việt Nam (PV OIL) Với kinh nghiệm lâu năm trong hoạt động kinh doanh xăng dầu nhập khẩu, PV OIL luôn nỗ lực nâng cao hiệu quả trở thành một trong những hoạt động cốt lõi mang lại doanh thu lớn cho Tổng công

ty

Tuy nhiên, do những biến động khách quan của thị trường dầu mỏ thế giới cũng như những nhân tố chủ quan từ phía Tổng Công ty như đối tác kinh doanh chưa đa dạng

và chịu sự ảnh hưởng của chính sách nhập khẩu của Nhà nước nên việc nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu xăng dầu vẫn còn tồn tại những bất cập, hạn chế Nhằm tháo

gỡ và hoàn thiện hơn nữa hoạt động kinh doanh xăng dầu nhập khẩu của Tổng Công ty Dầu Việt Nam, đòi hỏi phải có những giải pháp thích hợp Vì lý do đó tác giả đã lựa chọn

đề tài “ Kinh doanh xăng dầu nhập khẩu của Tổng Công ty Dầu Việt Nam” để nghiên

cứu

Trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng công tác nhập khẩu của Tổng công ty Dầu Việt Nam, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động kinh doanh xăng dầu nhập khẩu của Công ty

Sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng Các phương pháp nghiên cứu cụ thể trong kinh tế bao gồm phương pháp thống kê, phân tích, so sánh và tổng hợp Các số liệu phục vụ quá trình nghiên cứu được thu thập từ các giáo trình, sách, các văn bản pháp lý, các ấn phẩm, các tài liệu của Tổng Công ty dầu Việt Nam có liên quan đến đề tài

Trang 2

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH XĂNG DẦU NHẬP KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP

Trong chương 1, luận văn tập trung nghiên cứu 3 vấn đề cơ bản gồm: khái niệm, đặc điểm và vai trò của kinh doanh xăng dầu nhập khẩu; nội dung kinh doanh xăng dầu nhập khẩu; các yếu tố ảnh hưởng đến kinh doanh xăng dầu nhập khẩu của doanh nghiệp

Xăng dầu có vai trò vô cùng quan trọng đối với con người cũng như nền kinh tế -

xã hội của các quốc gia trên thế giới Xăng dầu là nguồn năng lượng chủ yếu chiếm trên 90% năng lượng tiêu thụ trong các ngành công nghiệp, vận tải, dân dụng Xăng dầu là một loại chất lỏng dễ bay hơi nên không bảo quản được lâu và là nhiên liệu đốt nên rất dễ gây cháy nổ, có độ rủi ro cao trong quá trình vận chuyển, lưu kho và sử dụng

Việc kinh doanh xăng dầu nhập khẩu có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với nền kinh tế

vì nó có mặt trong tất cả mọi lĩnh vực của cuộc sống Trong công nghiệp, xăng dầu là nhiên liệu chủ yếu cho các ngành sản xuất gạch men, gốm sứ, kính… Còn đối với các lĩnh vực dân dụng, dịch vụ và vận tải xăng dầu là mặt hàng thiết yếu giúp các doanh nghiệp phát triển từ đó giúp nền kinh tế phát triển Kinh doanh xăng dầu nhập khẩu giúp thị trường được đảm bảo nguồn cung ổn định, cũng như mọi doanh nghiệp, người dân được tiếp cận mặt hàng hữu dụng này để phục vụ sản xuất cũng như nhiều nhu cầu cần thiết khác

Kinh doanh xăng dầu nhập khẩu là cầu nối quan trọng giúp doanh nghiệp được tiếp cận và sử dụng các mặt hàng xăng dầu để phục vụ sản xuất, kinh doanh Doanh nghiệp càng phát triển, nhu cầu về xăng dầu càng lớn đặc biệt với các doanh nghiệp dùng mặt hàng này làm nhiên liệu sản xuất hoặc các doanh nghiệp vận tải Với trình độ phát triển hiện nay, việc sử dụng một loại nhiên liệu mới thay thế cho xăng dầu vẫn còn khá

xa vời đối với các doanh nghiệp nhỏ và đặc biệt là các doanh nghiệp tại các nước đang phát triển như Việt Nam

Quy trình nhập khẩu mặt hàng xăng dầu cũng giống như nhập khẩu các mặt hàng thông thường khác bao gồm các bước: Thống kê nhu cầu; Thông báo nhu cầu nguồn hàng nhập khẩu; Đề xuất phê duyệt phương án nhập khẩu; Kế hoạch mời, nhận và đánh giá

Trang 3

chào hàng; Phương án nhập khẩu; Hồ sơ mời cung cấp; Danh sách nhà cung cấp; Phê duyệt phương án nhập khẩu; Kế hoạch mời và xét chào hàng; Gửi hồ sơ mời cung cấp; Nhận hồ sơ chào hàng; Mở phong bì chào hàng; Mở phong bì chào hàng; Báo cáo kết quả đánh giá chào hàng và đề nghị phê duyệt kết quả đánh giá chào hàng; Đàm phán các điều khoản phụ của Hợp đồng và ký kết Hợp đồng; Thực hiện, thanh quyết toán và giải quyết các vấn đề liên quan đến Hợp đồng nhập khẩu; Báo cáo kết quả thực hiện nhập khẩu

Các hình thức kinh doanh xăng dầu nhập khẩu bao gồm: Nhập khẩu trực tiếp; Nhập khẩu ủy thác; Nhập khẩu hàng đổi hàng; Nhập khẩu liên doanh; Tạm nhập tái xuất

Bán hàng nhập khẩu là một quá trình đưa hàng hóa từ nhà kinh doanh hàng hóa đến người tiêu dùng cuối cùng, thể hiện qua nhiều phương thức và hoạt động khác nhau Phân phối trong Marketing làm thay đổi sở hữu hàng hóa từ nhà kinh doanh đến người tiêu dùng thông qua các thành viên trung gian

Kênh bán hàng kết hợp tất cả các thành viên tham gia vào tiến trình bán hàng gồm nhà kinh doanh, nhà cung cấp dịch vụ, nhà bán sỉ, nhà bán lẻ, đại lý và người tiêu dùng Chức năng của kênh bán hàng như sau: Thông tin; Kích thích tiêu thụ; Tiếp xúc thiết lập quan hệ; Thích ứng, hoàn thiện sản phẩm; Thương lượng; Lưu thông hàng hóa; Tài chính, trang trải chi phí

Các thành viên trong kênh bán hàng bao gồm: Người kinh doanh; Người trung gian; Người tiêu dùng cuối cùng; Các tổ chức bổ trợ; Đại lý, người môi giới, bán buôn hàng hóa ăn huê hồng; Nhà bán lẻ; Nhà bán buôn

Hàng năm, căn cứ nhu cầu xăng dầu của nền kinh tế quốc dân và nguồn xăng dầu sản xuất trong nước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương xác định nhu cầu định hướng về xăng dầu nhập khẩu của năm tiếp theo Nhu cầu xăng dầu phục vụ cho quốc phòng được xác định riêng Trên cơ sở nhu cầu định hướng về xăng dầu nhập khẩu, Bộ Công Thương giao hạn mức nhập khẩu tối thiểu cả năm theo cơ cấu chủng loại cho từng thương nhân có Giấy phép kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu để làm thủ tục nhập khẩu với cơ quan hải quan

Thương nhân kinh doanh xăng dầu phải thực hiện các quy định hiện hành về quản lý chất lượng xăng dầu trong quá trình nhập khẩu, sản xuất, pha chế, tồn trữ, vận chuyển và bán

Trang 4

cho người tiêu dùng; chịu trách nhiệm về chất lượng xăng dầu trong hệ thống phân phối thuộc mình quản lý Phải bảo đảm độ chính xác của dụng cụ đo lượng xăng dầu bán cho các đối tượng sử dụng; bán đủ số lượng, đúng chất lượng

Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến kinh doanh xăng dầu nhập khẩu của doanh nghiệp như: Chế độ, chính sách và pháp luật của Nhà nước về kinh doanh xăng dầu nhập khẩu; Luật pháp, môi trường kinh doanh của nước xuất khẩu và quốc tế; Sự biến động của tỷ giá hối đoái; Sự biến động của thị trường trong nước và quốc tế; Sự phát triển của

hệ thống tài chính ngân hàng

Các yếu tố bên trong ảnh hưởng đến kinh doanh xăng dầu nhập khẩu của doanh nghiệp như: Cơ cấu bộ máy quản lý; Đội ngũ cán bộ làm công tác kinh doanh xăng dầu nhập khẩu; Vốn, Tài chính; Công nghệ

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KINH DOANH XĂNG DẦU NHẬP KHẨU CỦA TỔNG CÔNG TY DẦU VIỆT NAM

Trong chương 2 luận văn nghiên cứu năm vấn đề chính gồm: đặc điểm Tổng Công

ty Dầu Việt Nam ảnh hưởng đến kinh doanh xăng dầu nhập khẩu, những quy định của nhà nước về kinh doanh xăng dầu nhập khẩu, thực trạng kinh doanh xăng dầu nhập khẩu của Tổng công ty Dầu Việt Nam, tình hình nhập khẩu và bán hàng xăng dầu nhập khẩu của Tổng công ty Dầu Việt Nam, đánh giá chung về kết quả kinh doanh xăng dầu nhập khẩu của Tổng công ty Dầu Việt Nam

PV OIL được thành lập với chức năng là kết hợp và kế thừa các lợi thế, các thành quả của PETECHIM và PDC trong việc xuất khẩu, nhập khẩu và kinh doanh dầu thô, sản xuất và kinh doanh các sản phẩm dầu, xuất nhập khẩu kinh doanh các vật tư thiết bị dầu khí Với các lĩnh vực kinh doanh chính của Công ty bao gồm: Xuất nhập khẩu kinh doanh dầu thô, Kinh doanh sản phẩm dầu, Chế biến sản phẩm dầu và nhiên liệu sinh học, Kinh doanh thiết bị vật tư dầu khí Các phòng ban trực thuộc Ban Sản phẩm Dầu: Phòng xuất nhập khẩu sản phẩm dầu, Phòng điều độ hậu cần, Phòng kinh doanh hệ thống, Phòng quản

lý hệ thống, Phòng bán hàng công nghiệp

Nghị định 84/2009/NĐ-CP chính thức có hiệu lực kể từ ngày 15/12/2009 So với Nghị định 55 CP và những văn bản pháp quy đã được ban hành trước đây về hoạt động

Trang 5

kinh doanh xăng dầu, Nghị định 84/2009/NĐ-CP có một bước chuyển biến rất tích cực trong việc cụ thể hóa quan điểm điều hành xăng dầu theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Năm 2014 chính phủ đã ban hành Nghị định 83/2014/NĐ-CP thay thế và hoàn thiện hơn so với Nghị định 84

Những điểm mới trong nghị định 83/2014/NĐ-CP bao gồm: Quy định tần suất điều chỉnh giá là 15 ngày/một lần (Khoản 1 Điều 38) thay vì 10 ngày/một lần như Nghị định số 84/2009/NĐ-CP quy định; Biên độ điều chỉnh giá bán lẻ xăng dầu được sửa đổi

để phù hợp với khả năng chấp nhận của nền kinh tế nước ta hiện nay và công khai rõ ràng

để mọi người quan tâm đều nắm bắt được; Nghị định 83 đã quy định rõ nguyên tắc trích lập, sử dụng và quản lý Quỹ Bình ổn giá xăng dầu: “Việc sử dụng Quỹ bình ổn được thực hiện khi giá cơ sở cao hơn giá bán lẻ hiện hành hoặc việc tăng giá ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân…”; Nghị định 83 bổ sung thêm 2 phương thức phân phối xăng dầu mới là phương thức mua đứt bán đoạn và nhượng quyền thương mại; Quy định riêng một Điều 39 về công khai, minh bạch trong điều hành giá và kinh doanh xăng dầu

Hàng năm PV OIL nhập khẩu khối lượng xăng dầu chiếm hơn 20% tổng khối lượng nhập khẩu xăng dầu cả nước, quy trình được PV OIL xây dựng gồm: Lập và gửi kế hoạch mua hàng, nhu cầu nguồn hàng; Thông báo nhu cầu nguồn hàng nhập khẩu; Đề xuất phê duyệt phương án nhập khẩu, kế hoạch mời, nhận và đánh giá chào hàng; Hồ sơ mời cung cấp; Danh sách nhà cung cấp; Phê duyệt phương án nhập khẩu, kế hoạch mời

và xét chào hàng; Gửi hồ sơ mời cung cấp; Nhận hồ sơ chào hàng; Mở phong bì chào hàng; Đánh giá chào hàng; Báo cáo kết quả đánh giá chào hàng và đề nghị phê duyệt kết quả đánh giá chào hàng; Đàm phán các điều khoản phụ của Hợp đồng và ký kết Hợp đồng; Thực hiện, thanh quyết toán và giải quyết các vấn đề liên quan đến Hợp đồng nhập khẩu; Báo cáo kết quả thực hiện nhập khẩu

Hệ thống kênh phân phối của Tổng Công ty Dầu Việt Nam: Hệ thống cửa hàng xăng dầu của PV OIL có hơn 500 cửa hàng xăng dầu của Tổng công ty và hơn 2.500 cửa hàng của hệ thống phân phối Tổng đại lý, đại lý trải dài từ Bắc xuống Nam, Hệ thống kho xăng dầu; Đến năm 2014, hệ thống kho xăng dầu của PV OIL có tổng cộng 16 kho và

Trang 6

tổng kho với tổng quy mô sức chứa 1,17 triệu m3; PV OIL có 12 cảng chuyên dụng xuất nhập khẩu xăng dầu

Mặc dù được thành lập từ năm 2008, tuy nhiên đến năm 2011 PV OIL mới chú trọng công tác kinh doanh xăng dầu nhập khẩu, trước đó chủ yếu tập trung vào hoạt động pha chế và sản xuất Trong giai đoạn từ năm 2011 đến 2014 khối lượng nhập khẩu xăng dầu của PV OIL đã liên tục sụt giảm từ mức xấp xỉ 1,2 triệu tấn năm 2011 xuống mức

725 nghìn tấn năm 2014 Sự sụt giảm về khối lượng nhập khẩu xăng dầu có các nguyên nhân từ trong và ngoài nước

Tổng Công ty dầu Việt Nam nhập khẩu chủ yếu 3 loại sản phẩm của quá trình chưng cất dầu thô gồm xăng (Mogas 92,95), Dầu diesel (Dầu DO) và dầu hỏa (Dầu FO) Trong đó dầu DO là mặt hàng chiếm tỷ trọng cao nhất với tổng khối lượng nhập khẩu trong năm 2014 là 513.851 tấn, chiếm xấp xỉ 70% tổng khối lượng nhập khẩu Mặt hàng xăng xếp thứ hai với khối lượng đạt xấp xỉ 25% và dầu FO chỉ được nhập một lượng khá nhỏ bằng khoảng 0,03% tổng khối lượng nhập khẩu

Trong giai đoạn 2011-2014, Tổng Công ty Dầu Việt Nam tiến hành nhập khẩu mặt hàng xăng dầu từ 9 nước bao gồm Singapore, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Nga, Malaysia và Thái Lan Trong đó, các thị trường nhập khẩu chính chiếm từ 85% đến 95% tổng khối lượng nhập khẩu là Singapore, Trung Quốc, Đài Loan và Nga

Trong giai đoạn từ năm 2011 đến 2014, sản lượng tiêu thụ các mặt hàng xăng dầu của PV OIL biến động khá mạnh Năm 2011, tổng sản lượng tiêu thụ đạt gần 2,9 triệu tấn

đã giảm mạnh xuống mức 2,56 triệu tấn năm 2012 sau đó tăng lên mức 2,96 triệu tấn trong năm 2013 Năm 2014, tổng sản lượng tiêu thụ của PV OIL đạt 2,81 triệu tấn, cao hơn năm 2012 nhưng thấp hơn tổng sản lượng năm 2011

Về sản lượng tiêu thụ qua các kênh phân phối chính của PV OIL, sản lượng tiêu thụ từ Tổng Đại lý đã giảm mạnh trong giai đoạn vừa qua, thay thế bằng các Đại lý và các kênh bán hàng trực tiếp Tới năm 2014, sản lượng bán hàng từ các kênh Tổng Đại lý chỉ chiếm khoảng 17% tổng sản lượng tiêu thụ của Tổng công ty Kênh phân phối qua Đại lý từ năm 2012 đã vượt qua Tổng Đại lý thành kênh phân phối lớn nhất của PV OIL với tỷ trọng năm 2014 chiếm xấp xỉ 44% Với các kênh trực tiếp đến khách hàng công

Trang 7

nghiệp và bán lẻ qua chuỗi cửa hàng xăng dầu cũng cho thấy mức tăng trưởng đều qua các năm và lần lượt chiếm tỷ trọng xấp xỉ 21% và 18% tổng sản lượng tiêu thụ

Trong giai đoạn từ năm 2011 đến 2014, lợi nhuận mảng kinh doanh sản phẩm dầu của PV OIL luôn âm, đặc biệt năm 2014 đã âm 1.479 tỷ đồng do ảnh hưởng nặng nề từ việc giá dầu thô giảm mạnh dẫn tới các mặt hàng xăng dầu giảm theo nhanh chóng

Doanh thu trong mảng kinh doanh xăng dầu của Tổng Công ty Dầu Việt Nam đến

từ bốn nguồn chính gồm: kinh doanh xăng dầu nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu nhập từ Nhà máy lọc dầu Dung Quất, hoạt động sản xuất & pha chế và hoạt động tạm nhập tái xuất xăng dầu Trong 4 lĩnh vực kinh doanh trên, kinh doanh từ xăng dầu nhập khẩu và nhập từ nhà máy Lọc dầu Dung Quất chiếm tỷ trọng hàng năm trên 85% tổng doanh thu trong mảng

Từ năm 2011 đến 2013, tỷ suất lợi nhuận tuy âm những đã tăng, cho thấy hiệu quả kinh doanh xăng dầu nhập khẩu được cải thiện hơn, tuy nhiên trước sức ép khủng hoảng giá dầu nửa cuối năm 2014, tỷ suất lợi nhuận đã giảm mạnh xuống – 0,046, thấp hơn năm

2011

Từ phân tích kết quả và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh xăng dầu nhập khẩu của PV OIL có một số thành tựu như sau: Đứng thứ 2 về thị phần kinh doanh xăng dầu với tỷ trọng 20-22% tổng thị phần xăng dầu cả nước; Doanh thu mảng kinh doanh xăng dầu nhập khẩu luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng doanh thu trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu của Tổng Công ty; Xây dựng được mô hình phân phối tương đối hoàn chỉnh, cho thấy được sự hiệu quả trong khâu quản lý cũng như vận hành; Có nhiều khách hàng lớn, trung thành

Bên cạnh những thành tựu đạt được, hoạt động kinh doanh xăng dầu nhập khẩu của PV OIL cũng có những tồn tại trong quá trình hoạt động như sau: Chi phí kinh doanh còn cao nên chưa thu được lãi sau 4 năm kinh doanh, tỷ suất lợi nhuận và hiệu quả sử dụng vốn còn thấp; Chưa đa dạng về đối tác nhập khẩu; Mức độ phân phối cửa hàng xăng dầu bán lẻ bao phủ chưa nhiều; Năng lực cạnh tranh của PV OIL chưa đạt kỳ vọng, chi phí kinh doanh xăng dầu còn ở mức cao; Chất lượng dịch vụ khách hàng tại một số kho

Trang 8

chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa có công cụ hỗ trợ quản lý điều hành hệ thống một cách kịp thời và hiệu quả

Nguyên nhân của những tồn tại: Công tác quản trị hệ thống trong toàn Tổng Công

ty vẫn còn những bất cập chưa giải quyết dứt điểm, dẫn đến một số đơn vị thành viên của Tổng Công ty vẫn chưa hiện triệt để các chỉ đạo và công tác giám sát của Tổng Công ty với các đơn vị thành viên vẫn chưa đạt yêu cầu đề ra; Trình độ quản lý của các cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo tại các đơn vị thành viên vẫn còn hạn chế; Công tác phát triển hệ thống cửa hàng xăng dầu còn chậm do chưa được phê duyệt chủ trương tăng vốn vào các công

ty con để phát triển hệ thống phân phối; Chất lượng dịch vụ khách hàng tại các Kho xăng dầu và cửa hàng xăng dầu đã được cải thiện nhưng vẫn chưa đáp ứng được kỳ vọng; Việc kiểm soát các nguồn chi phí về trả lương thưởng và thuê dịch vụ ngoài vẫn chưa được kiểm soát chặt chẽ gây lãng phí dẫn tới chi phí hoạt động tăng cao; Công tác triển khai các công cụ quản trị doanh nghiệp còn chậm; PV OIL còn hạn chế trong công tác dự báo thị trường, chưa có giải pháp quyết liệt để xử lý tồn kho xăng dầu khi giá xuống

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XĂNG DẦU NHẬP KHẨU CỦA TỔNG CÔNG TY DẦU VIỆT NAM

Trong chương 3, luận văn tập chung nghiên cứu ba vấn đề chính: định hướng và mục tiêu phát triển kinh doanh xăng dầu của Tổng công ty Dầu Việt Nam giai đoạn

2016-2020, một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động kinh doanh xăng dầu nhập khẩu của Tổng công ty Dầu Việt Nam

Định hướng phát triển của Tổng Công ty Dầu Việt Nam: Tiếp tục hoàn thiện cơ cấu tổ chức, nhân sự toàn hệ thống sau tái cơ cấu giai đoạn 2015-2020; Tiếp tục hoàn thiện cơ sở hạ tầng; từng bước đồng bộ hóa và hiện đại hóa hệ thống kho cảng để giảm hao hụt, tiết kiệm chi phí; Xây dựng và phát triển kênh bán lẻ trực tiếp của Tổng công ty với hệ thống CHXD đồng bộ, hiện đại, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh; Phát triển các kênh bán hàng; Hệ thống CHXD đồng bộ, hiện đại, với nhiều ứng dụng công nghệ và dịch vụ đi kèm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của khách hàng

Trang 9

Giải pháp về hoàn thiện tổ chức quản lý hoàn chỉnh và ổn định mô hình hoạt động

của các công ty con trong lĩnh vực sản xuất, chế biến và kinh doanh xăng dầu Tránh thành lập nhiều công ty con có chức năng và nhiệm vụ chồng chéo gây khó quản lý và tốn chi phí duy trì hoạt động Triển khai các giải pháp đồng bộ nâng cao năng lực cạnh tranh của PV OIL và các đơn vị thành viên; tối ưu hóa phân vùng thị trường, sắp xếp lại, tinh giản bộ máy, nâng cao năng lực quản trị của các công ty con

Giải pháp về đa dạng hóa sản phẩm, thị trường hoạt động kinh doanh dầu quốc tế:

Đẩy mạnh công tác tìm kiếm, mở rộng thị trường đối với hoạt động kinh doanh dầu quốc

tế Đa dạng hóa chủng loại sản phẩm, phát triển loại hình kinh doanh, xây dựng và triển khai áp dụng hệ thống quản trị rủi ro và các nghiệp vụ phái sinh trong từng lĩnh vực hoạt động và theo tiến độ cụ thể

Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực đào tạo nâng cao năng lực, kỹ năng quản

lý điều hành doanh nghiệp cho các cán bộ lãnh đạo của Cơ quan Tổng Công ty, các công

ty thành viên; nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng quản lý bộ phận cho 100% cán bộ quản lý cấp trung Đặc biệt chú trong công tác đào tại nội bộ Đào tạo nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng quản lý bộ phận, khả năng lãnh đạo cho các cán bộ lãnh đạo kế cận, cán bộ nguồn

Giải pháp về phát triển khoa học công nghệ khai thác và tận dụng tối đa năng lực

hiện có, nghiên cứu, lựa chọn, ứng dụng, làm chủ và phát triển các công nghệ tiên tiến của nước ngoài trong công tác quản lý, vận hành hệ thống và vận chuyển, phân phối sản phẩm dầu, nhiên liệu sinh học đối với các Tổng kho và kho trung chuyển xăng dầu PV OIL

Giải pháp về tiết kiệm, chống lãng phí kiểm soát chặt chẽ chi phí của cơ quan

Tổng công ty và các công ty thành viên Giao kế hoạch chi phí chi tiết cho các Ban tại văn phòng Tổng công ty và các đơn vị thành viên với định mức giảm dần, tiến tới mức hợp lý nhất.Rà soát, tối ưu hóa các khoản chi phí chiếm tỷ trọng lớn, thiết kế cơ chế chi trả lương phù hợp với kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Giải pháp về nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong kinh doanh nhập khẩu Giải

quyết tốt mối quan hệ với ngân hàng trong kinh doanh nói chung và kinh doanh hàng

Trang 10

nhập khẩu nói riêng, yêu cầu về vốn kinh doanh là rất lớn và phải huy động trong thời gian ngắn, nên việc vay vốn các tổ chức tín dụng là điều tất yếu Quan hệ của Công ty với các ngân hàng là một bộ phận quan trọng trong chiến lược huy động và sử dụng vốn của Công ty

Giải pháp về kiểm soát tồn kho và hao hụt PV OIL cần tiếp tục nâng cấp, hoàn

thiện hệ thống công nghệ các kho xăng dầu để nâng cao hiệu quả vận hành và kiểm soát hao hụt Kiểm soát hàng tồn kho xăng dầu thường xuyên, tránh tình trạng thiếu hụt khi cần hoặc tồn kho quá nhiều trong thời gian dài gây tốn chi phí và tăng lượng hao hụt

Giải pháp về tổ chức thực hiện kinh doanh nhập khẩu và hợp lý hóa cơ cấu mặt

hàng nhập khẩu lựa chọn phương án kinh doanh hợp lý hoạt động trong cơ chế thị trường

với mức độ ngày càng cạnh tranh khốc liệt đòi hỏi các doanh nghiệp phải xây dựng một chiến lược kinh doanh đúng đắn phù hợp, kết hợp chặt chẽ cả mục tiêu trung, ngắn hạn

và dài hạn, giảm sự phụ thuộc vào sự biến động của thị trường đồng thời thích ứng nhanh với sự biến động của môi trường kinh doanh

Ngày đăng: 15/01/2021, 08:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w