Nó có tác dụng đánh giá khả năng ngân hàng có thể chống đỡ khủng hoảng có thể xảy ra, cũng như giúp ngân hàng quản trị rủi ro trong “thời bình”: (i) kiểm định tính chính xác của các mô[r]
Trang 1-
VŨ TRUNG THÀNH
KIỂM TRA SỨC CHỊU ĐỰNG RỦI RO TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH NGÂN HÀNG TMCP
CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng
Mã số : 62340201
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
HÀ NỘI - 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp
Trường Đại học kinh tế quốc dân Vào hồi: 14h00 ngày 09 tháng 04 năm 2018
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Đại học kinh tế quốc dân
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận án
Trong thực tiễn, có rất nhiều ngân hàng đã bị phá sản hoặc bị buộc phải sáp nhập do không đủ vốn để bù đắp những khoản lỗ do khách hàng không trả được nợ Sau hệ quả nghiêm trọng và kéo dài của cuộc khủng khoảng 2007-
2008, các quan điểm về quản trị rủi ro ngân hàng đã phải thay đổi Ngày nay, các NHTM cần chủ động đánh giá khả năng chống đỡ được rủi ro trong những kịch bản tiêu cực, xác suất cực thấp nhưng vẫn có thể xảy ra Đây là tiền đề để
“Kiểm tra sức chịu đựng” (Stress Testing) trở thành một yêu cầu bắt buộc tại Trụ Cột 2 của Basel II trong khuôn khổ Quy trình nội bộ ngân hàng nhằm đánh giá mức độ an toàn vốn (ICAAP) Theo đó, Kiểm tra sức chịu đựng là một công cụ đo lường, đánh giá và quản lý RRTD hữu hiệu, linh hoạt, có tính ứng dụng cao, phục vụ cho các mục đích sử dụng khác nhau
Đối với một nước có hệ thống ngân hàng mới đang ở giai đoạn phát triển ban đầu như Việt Nam, việc áp dụng Stress Testing, sẽ gặp nhiều khó khăn, thách thức và mất nhiều thời gian do việc tiếp cận tiêu chuẩn này đòi hỏi kỹ thuật phức tạp, chi phí khá cao, kinh nghiệm trong việc xử lý các mâu thuẫn xung đột giữa các bên liên quan Tuy nhiên, trước xu thế hội nhập, mở cửa thị trường dịch vụ tài chính - ngân hàng với nhiều loại hình dịch vụ mới, và nhất là sau cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, việc thực hiện Stress Testing tại các NHTM Việt Nam là yêu cầu cấp thiết
Là một trong ba trụ cột của hệ thống ngân hàng Việt Nam với quy mô tổng dư nợ tín dụng 720 nghìn tỷ đồng tại 31/12/2016, đứng thứ hai toàn hệ thống, cơ cấu danh mục đa dạng theo đối tượng khách hàng và ngành nghề kinh
tế, Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam (Vietinbank) xác định tín dụng vẫn là hoạt động kinh doanh chủ lực (chiếm trên 80% doanh thu) Công tác quản trị RRTD, đảm bảo tỷ lệ nợ xấu dưới 3% được ngân hàng hết sức coi trọng Vietinbank cũng là một trong mười NHTM được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ định triển khai thực hiện Hiệp ước vốn Basel II theo phương pháp chuẩn từ cuối 2015 và theo phương pháp sử dụng xếp hạng tín
Trang 4dụng nội bộ từ cuối 2018 Vietinbank là một trong số ít các ngân hàng đầu tư nguồn lực để thực hiện chuyển đổi toàn diện, đáp ứng yêu cầu về quy trình thực hiện Stress Testing của Ủy ban Basel Chính vì vậy, việc nghiên cứu áp dụng công cụ Kiểm tra sức chịu đựng để quản lý RRTD tại Vietinbank là cần thiết
để Điều này giúp cho bản thân ngân hàng phát triển được bền vững, và cũng là bài học để các NHTM khác tại Việt Nam áp dụng
Xuất phát từ tính mới, sự cấp thiết và khoảng trống nêu trên, đề tài luận án
“Kiểm tra sức chịu đựng rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam – nghiên cứu điển hình Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam” là
rất cần thiết
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát là hoàn thiện mô hình Kiểm tra sức chịu đựng vi mô (Micro-prudential Stress Testing) đối với RRTD tại Vietinbank, từ đó, áp dụng cho các NHTM khác tại Việt Nam
- Phân tích thực trạng triển khai Micro-prudential Stress Testing RRTD tại Vietinbank;
- Hoàn thiện mô hình Kiểm tra sức chịu đựng vi mô Micro-prudential Stress Testing RRTD tại Vietinbank;
- Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường ứng dụng Micro-prudential Stress Testing RRTD tại các NHTM Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Mô hình Kiểm tra sức chịu đựng vi mô (Micro-prudential Stress Testing) đối với RRTD
Trang 54.2 Phạm vi nghiên cứu
a Luận án tập trung nghiên cứu Micro-prudential Stress Testing ứng dụng trong quản trị RRTD nội bộ của các NHTM Ngoài Micro-prudenial Stress Testing, còn có Macro-prudential Stress Testing kiểm tra sức chịu đựng vĩ mô được các cơ quan quản lý sử dụng để đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng
b Luận án chỉ nghiên cứu Stress Testing đối với RRTD, mà không đề cập tới các loại rủi ro khác như rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động Do thu nhập lãi từ hoạt động cho vay vẫn chiếm đa số trong cơ cấu thu nhập của các ngân hàng Việt Nam (70-90%), và danh mục dư nợ tín dụng chiếm trên 50% tổng tài sản ngân hàng, RRTD vẫn là loại rủi ro lớn nhất
c Luận án nghiên cứu về ứng dụng mô hình Stress Testing trong quản trị RRTD cho mục đích nội bộ ngân hàng, nên việc lựa chọn một ngân hàng làm điển hình nghiên cứu là phù hợp Vietinbank là một trong những ngân hàng lớn nhất tại Việt Nam, đang bước đầu triển khai Stress Testing với những thành công và hạn chế nhất định Việc hoàn thiện mô hình Micro-prudential Stress Testing sẽ giúp Vietinbank quản trị tốt hơn nữa RRTD, cũng như triển khai ứng dựng Stress Testing tại các NHTM Việt Nam khác
d Luận án hoàn thiện mô hình Micro-prudential Stress Testing trên cơ sở
số liệu thứ cấp theo quý giai đoạn 2009-2015 Giới hạn phạm vi thời gian này được giải thích bởi các ngân hàng lớn như Vietcombank và Vietinbank chỉ được niêm yết từ năm 2009, với số liệu từ báo cáo tài chính có kiểm toán theo quý đầy đủ, liên tục Điều này rất quan trọng để phân tích số liệu cho mô hình định lượng trong Chương 4
4 Câu hỏi nghiên cứu
Luận án nghiên cứu trả lời 5 câu hỏi chính:
- Cơ sở lý luận của Micro-prudential Stress Testing RRTD là gì?
- Bối cảnh môi trường hoạt động của các NHTM Việt Nam có đặc điểm gì? Các yếu tố kinh tế vĩ mô có tác động ra sao đến RRTD các ngân hàng?
- Thực trạng ứng dụng Stress Testing tại Vietinbank đã đạt được những thành công, hạn chế gì? Nguyên nhân?
Trang 6- Mô hình Micro-prudential Stress Testing nào phù hợp cho Vietinbank và các NHTMViệt Nam?
- Làm thế nào để tăng cường ứng dụng Stress Testing tại các NHTM Việt Nam?
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng cả phương pháp định tính và định lượng để đạt mục tiêu nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp định tính để nghiên cứu tổng thể lý thuyết, xây dựng mô hình và hệ thống các giả thuyết cần điểm định, các điều kiện cần có để ứng dụng Stress Testing tại Việt Nam Stress Testing là một lĩnh vực được quan tâm nghiên cứu trên thế giới, và bắt đầu thu hút giới học giả Việt Nam Vì vậy, việc luận án nghiên cứu tổng hợp, kế thừa kết quả nghiên cứu đi trước là hoàn toàn hợp lý Luận án so sánh các phương pháp xây dựng
mô hình, cách thức lựa chọn yếu tố kinh tế vĩ mô có tác động tới chất lượng tín dụng vào mô hình sao cho phù hợp với đặc điểm của các NHTM Việt Nam Ngoài ra, luận án tiến hành đánh giá thực trạng ứng dụng Stress Testing tại Vietinbank so với các nguyên tắc khuyến nghị bởi Ủy bán Basel để từ đó, đưa
ra những đề xuất đối với các NHTM và cơ quan quản lý nhà nước nhằm tăng cường ứng dụng Stress Testing tại Việt Nam
Luận án đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng nhằm đánh giá khả năng chịu đựng RRTD của Vietinbank Luận án đã đánh giá tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô Việt Nam đối với tỷ lệ nợ xấu của Vietinbank dựa trên
dữ liệu của chín NHTM cổ phần niêm yết tại Việt Nam trong 28 quý, từ quý 1/2009 đến quý 4/2015 Phương pháp thu thập số liệu là phương pháp thu thập thứ cấp từ báo cáo tài chính kiểm toán của NHTM và số liệu kinh tế vĩ mô do các cơ quan nhà nước công bố
Sau khi xây dựng phương trình mô tả tác động của các yếu tố vĩ mô đến tỷ
lệ nợ xấu ngân hàng, luận án đã dự phóng giá trị của các biến kinh tế vĩ mô được lựa chọn cho thời gian 7 quý và đánh giá giá trị nợ xấu của Vietinbank trong ba kịch bản chuẩn, xấu và căng thẳng
Trang 76 Những đóng góp của luận án
Thứ nhất, luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về Kiểm tra sức chịu đựng
vi mô (Micro-level Stress Testing), bao gồm đưa ra khái niệm, phân loại, các bước thực hiện Stress Testing, các mô hình Stress Testing và khả năng ứng dụng tại các NHTM Việt Nam Ngoài ra, luận án sẽ phân tích vai trò của Micro-prudential Stress Testing trong quản trị RRTD và lập kế hoạch tài chính tại các NHTM, cũng như các điều kiện cần có để tăng cường ứng dụng Stress Testing theo tiêu chuẩn quốc tế của Ủy ban Basel Luận án cũng phân tích thực trạng, điểm được và chưa được, nguyên nhân trong quá trình ứng dụng công cụ này tại các NHTM Điều này rất cần thiết vì để tăng cường ứng dụng Stress Testing và tích hợp một cách nghiêm túc vào quá trình ra quyết định của ngân hàng Từ đó, luận án đưa ra những đề xuất thực tiễn đối với lãnh đạo các NHTM và các cấp quản lý ngân hàng
Thứ hai, luận án đã hoàn thiện mô hình Micro-prudential Stress Testing tại Vietinbank theo tiêu chuẩn quốc tế Basel II, theo đó, RRTD phải được đo lường bằng PD, LGD và EAD, chứ không phải là thước đo truyền thống tỷ lệ
nợ xấu NPL như tại Việt Nam Do đó, luận án đã tiến thêm một bước so với những nghiên cứu tương tự tại Việt Nam bằng cách ước tính tác động của cú sốc lên PD, LGD và RWA từ kết quả cú sốc lên NPL Mô hình này rất hữu ích cho các ngân hàng Việt Nam trong quá trình chuyển đổi cách đánh giá RRTD
từ NPL sang PD, LGD, từ đó, chủ động hơn trong các kế hoạch phát triển và tăng vốn / chia cổ tức trong các năm sau
Thứ ba, trong quy trình Micro-prudential Stress Testing, luận án đã tiến hành đánh giá tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô tới tỷ lệ nợ xấu của các NHTM niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2009-2015 Mặc dù có không ít các nghiên cứu về chủ đề này, nhưng điểm khác biệt của luận án là đã phân tích tác động của Công ty TNHH quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) đối với tỷ lệ nợ xấu của các NHTM Kết quả của mô hình đánh giá kinh tế vĩ mô sẽ giúp kiểm định lần nữa những yếu tố ảnh hưởng tới RRTD tại các NHTM, rút ra những vấn đề cần giải quyết nhằm nâng cao mức độ bền vững của Vietinbank và các NHTM khác tại Việt Nam trong thời gian tới
7 Kết cấu của luận án
Trang 8CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Trong chương 1, đề tài đã tổng hợp các tài liệu nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển, các loại mô hình và hiệu quả ứng dụng Stress Testing trên thế giới và Việt Nam Từ đó, tác giả đã đưa ra ba khoảng trống nghiên cứu
sẽ được phân tích làm rõ trong khuôn khổ đề tài
1.1 Các nghiên cứu về Stress Testing ở nước ngoài
Phần 1.1.1 đã trình bày quá trình hình thành và phát triển lý thuyết về Stress Testing, xuất phát từ nhu cầu đánh giá tổn thất có thể xảy ra ở phân đuôi bên trái của đường cong phân bổ xác suất tổn thất, còn gọi là hiệu ứng “đuôi chuông” hay “thiên nga đen”, sau đó được phát triển và hoàn thiện cùng với Chương trình đánh giá Khu vực Tài chính (FSAP) của IMF và WB, cũng như trong quá trình xây dựng các chuẩn về vốn an toàn tối thiểu của Ủy ban Basel Sau hệ quả của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới 2007 -2008, các nhà nghiên cứu được phát triển trọng tâm nhằm tích hợp Stress Testing vào hệ thống quản trị rủi ro và ra quyết định của ngân hàng, hay còn gọi là Micro-prudential Stress Testing Nó có tác dụng đánh giá khả năng ngân hàng có thể chống đỡ khủng hoảng có thể xảy ra, cũng như giúp ngân hàng quản trị rủi ro trong “thời bình”: (i) kiểm định tính chính xác của các mô hình quản trị RRTD khác; (ii) là cơ sở ra quyết định tăng trưởng, mở rộng kinh doanh để có phân bổ hợp lý nguồn lực tài chính, hạn mức tín dụng vào các sản phẩm mới, có cấu trúc rủi ro phức tạp (iii) kết quả micro-prudential Stress Testing có thể là cơ sở quyết định ngân hàng có chia cổ tức hay không, cần phát hành thêm bao nhiêu vốn cổ phần để đảm bảo kế hoạch phát triển trung dài hạn bền vững
Trên cơ sở những nghiên cứu này, Ủy ban Basel đã đưa ra những quy định
về Stress Testing trong khuôn khổ Basel II (năm 2006) và Basel III (năm 2011), cũng như 21 nguyên tắc trong thực hiện Stress Testing nội bộ đối với lãnh đạo ngân hàng và cơ quan quản lý nhà nước vào năm 2009
Phần 1.1.2 đã tổng hợp các nghiên cứu về sự tác động của kinh tế vĩ mô đối với RRTD trong xây dựng kịch bản Stress Testing, theo 6 nhóm:
Trang 91.1.2.1 Chỉ số đại diện cho chu kỳ kinh tế
1.2 Các nghiên cứu về Micro-prudential Stress Testing tại Việt Nam
Trong lĩnh vực Stress Testing, tính tới thời điểm hiện nay, tất cả các nghiên cứu được công bố về Stress Testing đều phân tích macro-prudential Stress Testing, chưa có nghiên cứu về micro-prudential Stress Testing
Hạn chế của hai công trình nghiên cứu này là vẫn sử dụng chỉ số nợ xấu làm thước đo RRTD Hiện nay, thước đo truyền thống tại Việt Nam và một số nước đang phát triển trên thế giới vẫn là NPL và LLP, ví dụ các nghiên cứu Phùng Đức Quyền (2013), Nguyễn Hoàng Thụy Bích Trâm (2014)
1.3 Khoảng trống nghiên cứu
Thứ nhất, luận án đi sâu nghiên cứu về lý luận về Kiểm tra sức chịu đựng
vi mô (Micro-prudential Stress Testing) đối với RRTD tại các NHTM Việt Nam Luận án sẽ tập trung nghiên cứu vai trò của Microprudential Stress Testing trong quản trị RRTD tại các NHTM Việt Nam theo Basel II
Thứ hai, luận án nghiên cứu hoàn thiện mô hình Stress Testing phù hợp với đặc thù của Vietinbank và các ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi từ NPL sang EL, PD, LGD, EAD
Thứ ba, luận án bổ sung thêm một nghiên cứu định lượng về mối quan hệ giữa yếu tố vĩ mô với rủi ro ngân hàng, bóc tách tác động của việc các ngân hàng được chuyển nợ xấu sang VAMC đổi lấy trái phiếu đặc biệt trong giai đoạn 2013-2015
Trang 10CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MICRO-PRUDENTIAL STRESS
TESTING RRTD TẠI CÁC NHTM 2.1 Khái niệm Micro-prudential Stress Testing
Luận án xem xét Stress Testing từ góc độ vi mô (Micro-prudential Stress Testing), theo tiêu chuẩn quốc tế Basel II, với những đặc trưng sau:
- Stress Testing là một công cụ quản trị rủi ro quan trọng tại mỗi ngân hàng, và được các cơ quan quản lý khuyến khích sử dụng trong khuôn khổ về
an toàn vốn của Basel II
- Stress Testing được xây dựng phù hợp với quy mô danh mục tín dụng của một trong những NHTM lớn, có sự phân bổ rủi ro đa dạng, nhưng chịu sự tác động lớn của chu kỳ kinh tế như Vietinbank Do vậy, Stress Testing cần đánh giá được khả năng duy trì được tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo quy định khi xảy ra những cú sốc kinh tế vĩ mô rất bất lợi, hiếm gặp, nhưng vẫn có khả
năng xảy ra tại Việt Nam
- Stress Testing có tính toàn diện, được tích hợp và có tính dự báo, phục
vụ cho quá trình ra quyết định của ngân hàng Nó bao gồm (1) mục tiêu xác định rõ ràng; (2) kịch bản xây dựng phù hợp với đặc thù kinh doanh và rủi ro của ngân hàng; (3) các giả định và phương pháp, mô hình phải được văn bản hóa, có thể đánh giá được tác động đối với tình hình tài chính của tổ chức; (4)
có các báo cáo quản trị có giá trị thông tin; (5) có quy trình thực hiện hiệu quả
và được đánh giá lại; (6) có những khuyến nghị hành động cần thiết dựa trên kết quả Stress Testing
2.2 Phân loại Stress Testing
2.3 Mô hình Micro-prudential Stress Testing
Stress Testing bao gồm các bước thực hiện mô hình:
2.3.1 Các mô hình kinh tế vĩ mô (Macroeconomic Modeling)
2.3.1.1 Các mô hình hồi quy chuỗi thời gian phi cấu trúc
2.3.1.2 Các mô hình cân bằng tổng thể động
2.3.1.3 Các mô hình dữ liệu bảng
Mô hình dữ liệu bảng phù hợp với nghiên cứu dữ liệu của các ngân hàng trong hệ thống theo chuỗi thời gian, với điểm ưu việt là tăng số liệu quan sát,
Trang 11giúp tăng độ chính xác vè dự báo, cũng như đánh giá được tác động của cú sốc trong cùng một thời điểm đối với các ngân hàng có khác nhau không
2.3.2 Xây dựng kịch bản Stress Testing
Để xây dựng kịch bản Stress Testing, cần lưu ý hai vấn đề:
2.3.2.1 Lựa chọn yếu tố gây sốc cho ngân hàng
Xác định yếu tố nào có tác động đến chất lượng tín dụng ngân hàng
Mô hình đánh giá mức độ an toàn vốn trên cơ sở xếp hạng tín dụng nội bộ (IRB) của Basel II dựa trên mô hình giả định một nhân tố rủi ro (Asymptotic Risk Factor Model) của Gordy (Michael B Gordy, 2002), chỉ sử dụng mô hình kinh tế vĩ mô để đánh giá xem yếu tố nào đóng vai trò quan trọng nhất đối với
hệ thống ngân hàng
2.3.2.2 Đo lường quy mô cú sốc
Có hai cách xây dựng kịch bản và đo lường quy mô cú sốc:
- Kịch bản cú sốc dự phóng theo mô hình (Structural stress scenario)
- Kịch bản xây dựng trên số liệu quá khứ (Reduced-form stress scenario hay Historical-based stress scenario)
Về thời gian dự phóng cú sốc, 1 năm thời gian được yêu cầu bởi Ủy ban Basel, 2 năm bởi SCAP, 3 năm bởi Cơ quan quản lý châu Âu, 5 năm bởi Ngân hàng Trung ương Anh hoặc 9 quý bởi Cục dự trữ liên bang Mỹ cho CCAR Các NHTM thường lựa chọn độ dài thời gian kiểm định là 2 đến 3 năm
2.3.3 Mô hình đánh giá RRTD (Credit risk Satellite Modeling)
Dựa trên bảng cân đối tài sản để đánh giá tác động của cú sốc vĩ mô đối với các chỉ tiêu như NPL, LLP, sau đó liên kết với sự suy giảm của biên lãi suất thuần (NIM) và lợi nhuận do phải tăng trích lập dự phòng rủi ro
Tuy nhiên, RWA, thay vì cố định, sẽ tăng nếu kịch bản xấu xảy ra (Basel
II và Basel III theo phương pháp xếp hạng nội bộ) Vì vậy, Schmeider, Puhr và Hasan (2011) đã đưa ra công thức điều chỉnh RWA theo PD như sau:
∆RWA = 0.006 – 0.050 * ∆PD +0.120 * ∆PD* ∆PD Biến số
đo lường RRTD
Biến số đo lường RRTD truyền thống là hệ số như tỷ lệ nợ xấu Tuy có ưu điểm trực quan, dễ sử dụng và tính toán, tuy nhiên có nhiều hạn chế
Trang 12Tại Basel II, các phương pháp dựa trên xếp hạng nội bộ (IRB), đo lường tổn thất RRTD theo ba yếu tố: PD, LGD và EAD Tuy nhiên, mô hình này chưa
áp dụng được cho Việt Nam vì hầu hết các NHTM Việt Nam mới trong giai đoạn xây dựng thử nghiệm hệ số PD, chưa có đủ độ dài chuỗi thời gian quan sát cần thiết Trong giai đoạn chưa có PD chính xác, các NHTM Việt Nam có thể dự phóng sự thay đổi của NPL trước tác động của kịch bản căng thẳng, sau
đó ước tính sự thay đổi của PD, LGD, và sau cùng là CAR của ngân hàng Điển hình là Daniel Buncic, Martin Melecky (2012)
2.4 Điều kiện ứng dụng Micro-prudential Stress Testing RRTD
Theo ICAAP của Basel II, Stress Testing được tích hợp với cấu thành quản trị và quản lý rủi ro, thể hiện mối quan hệ khăng khít giữa ba khái niệm: công tác tài chính kế hoạch – xác định đúng khẩu vị rủi ro – kiểm tra khả năng chịu đựng rủi ro trước các cú sốc Muốn vậy, các điều kiện ứng dụng Micro-prudential Stress Testing là:
2.1.1 Nhận thức về vai trò của Stress Testing
2.1.2 Xác định đúng mục tiêu thực hiện Stress Testing
2.1.3 Phối hợp giữa các đơn vị chức năng
2.1.4 Xây dựng và văn bản hóa quy trình
2.1.5 Yếu tố hạ tầng công nghệ thông tin
2.1.6 Đánh giá định kỳ việc thực hiện Stress Testing
Trang 13CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ TRIỂN KHAI MICRO-PRUDENTIAL STRESS TESTING RRTD TẠI
VIETINBANK Hoạt động tín dụng của Vietinbank có quy mô lớn và là hoạt động mang
lại lợi nhuận chính cho ngân hàng Do đó, ngay cả khi chất lượng tín dụng của Vietinbank cũng được đánh giá là tốt trong hệ thống các NHTM Việt Nam, Vietinbank vẫn cần có những biện pháp dự đoán và phòng ngừa rủi ro
Vietinbank đã bước đầu triển khai Stress Testing RRTD trong quản trị ngân hàng Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số hạn chế, đặc biệt là chưa có mô hình phù hợp Các yếu tố vĩ mô trong thời gian sắp tới sẽ có nhiều chuyển biến rất khó để có thể dự báo Vì vậy, ngân hàng cần xây dựng một mô hình Kiểm tra sức chịu đựng RRTD hoàn chỉnh, giúp cho ngân hàng có thể sẵn sàng ứng phó với những cú sốc của thị trường
Chương 3 gồm các phần:
3.1 Tình hình kinh tế và chính sách của NHNN giai đoạn 2009-2015
3.1.1 Tình hình kinh tế vĩ mô
3.1.2 Nợ xấu và các chính sách điều hành tín dụng của NHNN
3.2 Thực trạng hoạt động tín dụng của Vietinbank
3.2.1 Quá trình hình thành và vai trò của Vietinbank
3.2.2 Kết quả hoạt động tín dụng của Vietinbank 2009 - 2015
3.3 Đánh giá thực trạng triển khai Stress Testing đối với RRTD tại Vietinbank
3.3.1 Thực trạng triển khai Stress Testing RRTD tại Vietinbank
3.3.2 Thành công và hạn chế trong triển khai Stress Testing RRTD tại
Bước 1: Đánh giá tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô Việt Nam đối với
tỷ lệ nợ xấu của Vietinbank Để khắc phục hạn chế về số lượng quan sát (28