Do vậy, việc nghiên cứu đánh giá kết quả thực hiện các dự án hỗ trợ sản xuất nông nghiệp để đúc rút thành những bài học kinh nghiệm sẽ là tài liệu quan trọng và cần thiết cho tỉnh Cao [r]
Trang 1TÓM TẮT LUẬN VĂN
1 Lý do chọn đề tài
Cho đến nay, nền kinh tế tỉnh Cao Bằng vẫn chủ yếu dựa vào nông nghiệp và lâm nghiệp, 79% người dân sống dựa vào khu vực nông nghiệp, nông thôn và Cao Bằng vẫn
là tỉnh còn nhiều xã nghèo so với nhiều địa phương khác trong cả nước Tuy nông nghiệp đạt được những kết quả nhất định, bước đầu đã hình thành được các vùng sản xuất hàng hóa gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm như chè, mía, miến dong, dược liệu, rừng trồng nguyên liệu ; phát triển chăn nuôi tập trung theo hướng trang trại, gia trại, hợp tác xã và ứng dụng khoa học kỹ thuật nhưng thu nhập và đời sống của nông dân và những người làm nông nghiệp tại các xã nghèo còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo cao Thực tế, mô hình tăng trưởng nông nghiệp hiện nay ở Cao Bằng chủ yếu theo chiều rộng thông qua tăng diện tích, tăng vụ và dựa trên mức độ thâm dụng các yếu tố vật chất đầu vào cho sản xuất (lao động, vốn, vật tư) và khai thác nguồn lực tự nhiên Mô hình tăng trưởng này mới chỉ tạo ra được khối lượng nhiều và rẻ nhưng giá trị thấp, hiệu quả
sử dụng đất đai, tài nguyên chưa cao Nguyên nhân chính là do sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, thiếu ổn định, dễ bị tổn thương do thiên tai, dịch bệnh và biến động của thị trường; các hình thức liên kết trong sản xuất và tiêu thụ còn lỏng lẻo, thiếu tính ràng buộc, quy
mô, phạm vi liên kết giữa người nông dân sản xuất - doanh nghiệp còn ở dạng mô hình Thông qua các chính sách phát triển nông nghiệp và xóa đói giảm nghèo tỉnh Cao Bằng đã được hỗ trợ các nguồn lực để phát triển sản xuất nông nghiệp Các dự án được triển khai đã mang lại luồng sinh khí mới cho người dân và cả doanh nghiệp trên địa bàn
về những mô hình phát triển phù hợp và dễ thực hiện để tiến đến mục tiêu xóa đói giảm nghèo cho hộ dân, tạo tiền đề cho doanh nghiệp phát triển Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hỗ trợ sản xuất cho các xã miền núi cũng gặp không ít khó khăn, thách thức cần có những giải pháp khắc phục Do vậy, việc nghiên cứu đánh giá kết quả thực hiện các dự án hỗ trợ sản xuất nông nghiệp để đúc rút thành những bài học kinh nghiệm sẽ là tài liệu quan trọng và cần thiết cho tỉnh Cao Bằng có những điều chỉnh hợp lý, đồng thời
có những bước đi phù hợp trong việc triển khai các chương trình dự án tương tự trong các
giai đoạn phát triển tiếp theo Đó là lý do học viên chọn đề tài "Hoạt động hỗ trợ sản
Trang 2xuất nông nghiệp cho người dân tại các xã nghèo ở tỉnh Cao Bằng thông qua nguồn vốn vay IFAD - Thực trạng và bài học kinh nghiệm" để nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ những vấn đề lý luận về vai trò của sản xuất nông nghiệp trong công tác xóa đói, giảm nghèo; về hỗ trợ sản xuất nông nghiệp cho người dân ở nông thôn vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn
- Phân tích thực trạng hoạt động hỗ trợ sản xuất nông nghiệp cho người dân tại các xã nghèo ở tỉnh Cao Bằng thông qua nguồn vốn vay IFAD để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm về hỗ trợ sản xuất nông nghiệp cho người dân Đồng thời đề xuất một số khuyến nghị về việc hỗ trợ người dân trong sản xuất nông nghiệp tại các xã nghèo để hướng tới xây dựng và phát triển nền sản xuất nông nghiệp bền vững ở Cao Bằng
3 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn
được kết cấu thành 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về hoạt động hỗ trợ sản xuất nông nghiệp cho người dân tại các xã nghèo
Chương 2: Thực trạng hoạt động hỗ trợ sản xuất nông nghiệp cho người dân các xã nghèo ở tỉnh Cao Bằng thông qua nguồn vốn vay IFAD
Chương 3: Bài học kinh nghiệm về hỗ trợ sản xuất nông nghiệp cho người dân tại các xã nghèo tỉnh Cao Bằng bằng nguồn vốn vay IFAD và những khuyến nghị
Chương 1: Luận văn trình bày tổng quan cơ sở lý luận về hoạt động hỗ trợ sản xuất
nông nghiệp cho người dân tại các xã nghèo bao gồm:
Sự cần thiết của công tác xóa đói giảm nghèo (các định nghĩa về đói nghèo và khái niệm nghèo đa chiều; chính sách của Chính phủ về ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020; tiêu chí xã nghèo)
Vai trò của phát triển sản xuất nông nghiệp với xóa đói giảm nghèo (vai trò là hoạt động kinh tế, sinh kế và cung cấp dịch vụ môi trường)
Trọng tâm của chương 1 là lý luận về sự cần thiết của của việc hỗ trợ sản xuất nông nghiệp cho người dân tại các xã nghèo, trong đó cũng đã nêu rõ về đặc điểm sự cần thiết
và nội dung hỗ trợ sản xuất nông nghiệp cho người dân tại các xã nghèo
Trang 3Xuất phát từ nhận định trong quá trình đổi mới ở nước ta xoá đói giảm nghèo không chỉ là vấn đề kinh tế đơn thuần, mà nó còn là vấn đề kinh tế - xã hội quan trọng Nếu không giải quyết thành công các chương trình xoá đói giảm nghèo thì mục tiêu phát triển bền vững sẽ không thể thực hiện được
Để thực hiện các mục tiêu phát triển xã hội nói chung, mục tiêu xóa đói, giảm nghèo nói riêng, ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, chương trình xóa đói giảm nghèo được thể hiện trong các chính sách, kế hoạch cụ thể tập trung vào phát triển nông nghiệp: Chiến lược toàn diện về Tăng trưởng và Xóa đói giảm nghèo (CPRGS), chương trình 135, 30a Nhằm thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo, đặc biệt cho các xã nghèo vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo, chiến lược toàn diện về phát triển “nông nghiệp,
nông dân và nông thôn” (Tam nông) đã được ban hành Nghị quyết này có thể coi là
chương trình khung để phát triển nông nghiệp vì người nghèo trên quy mô rộng cho giai
đoạn 2010-2020 và đặc biệt là chương trình kêu gọi mối quan hệ đối tác giữa Chính phủ,
hệ thống chính trị; người nông dân; nhà khoa học và khu vực tư nhân
Bên cạnh các chương trình, dự án của nhà nước, nhiều tổ chức quốc tế cũng được kêu gọi tài trợ cho các chương trình, dự án nhằm giảm nghèo, phát triển nông nghiệp bền vững mà điển hình là Quỹ phát triển Nông nghiệp Quốc tế (IFAD) Cách tiếp cận của các
dự án IFAD tại Việt Nam là phát triển nông nghiệp và nông thôn một cách toàn diện, với mục tiêu là nhằm tăng sản xuất lương thực, dinh dưỡng góp phần cho chương trình xoá đói giảm nghèo
Bên cạnh đó trong chương 1 còn giới thiệu những bài học kinh nghiệm thành công
về hỗ trợ sản xuất nông nghiệp cho người dân và doanh nghiệp tại tỉnh Bắc Kạn và Bến Tre
Chương 2: Sau khi đã trình bày cơ sở lý luận về hoạt động hỗ trợ sản xuất nông
nghiệp cho người dân tại các xã nghèo tại Chương 1, Chương 2 sẽ đi sâu vào việc phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động hỗ trợ sản xuất nông nghiệp cho người dân các xã nghèo ở tỉnh Cao Bằng thông qua nguồn vốn vay IFAD Luận văn tập trung phân tích đánh giá những nội dung chủ yếu: Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; hỗ trợ các dịch vụ kinh doanh nông thôn và mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường cho người nghèo; lập
Trang 4kế hoạch phát triển kinh tế xã hội có sự tham gia theo định hướng cấp xã và hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng
Qua nhìn nhận thực tế và phân tích các hoạt động hỗ trợ sản xuất nông nghiệp cho người dân tại các xã nghèo cho thấy những kết quả đã đạt được và những vấn đề còn hạn chế, đồng thời chỉ rõ các nguyên nhân của những hạn chế đó
Những kết quả đạt được
- Các chính sách hỗ trợ người nghèo được nghiên cứu, phê duyệt và áp dụng Trung tâm tư vấn và xúc tiến đầu tư được thành lập, một số Công ty Nhà nước kinh doanh nông lâm nghiệp đã được cổ phần hóa
- Nâng cao năng lực cho các cơ quan dịch vụ khuyến nông và các tổ chức quần chúng, thực hiện các mô hình dịch vụ khuyến nông nông thôn tư nhân và nâng cao năng lực chuyển giao khoa học kỹ thuật cho người dân
- Tín dụng VBARD được xây dựng để cấp vốn tín dụng cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh và sản xuất ở nông thôn nhằm tạo điều kiện phát triển sản xuất và kinh doanh
- Hỗ trợ kết nối người nông dân và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh tìm kiếm thị trường, mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường cho người nghèo
- Phân cấp thực hiện và làm chủ Quỹ đầu tư xã, xây dựng cơ sở hạ tầng
Hiệu quả dự án theo mục tiêu tổng quát: "đóng góp vào giảm nghèo đói nông
thôn bền vững và công bằng: sự thay đổi tích cực về chỉ số sở hữu tài sản hộ gia đình, giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng; giảm tỷ lệ hộ nghèo trong vùng dự án; và (v) tăng thu nhập bình quân đầu người
Những hạn chế
- Việc đào tạo nâng cao năng lực chuyển giao khoa học kỹ thuật mới chỉ tập trung vào giai đoạn sản xuất để tăng sản lượng, thực hiện quá nhiều mô hình không phát triển được thành sản xuất hàng hóa gây lãng phí nguồn lực Hơn nữa nhiều công nghệ khi thực hiện đòi hỏi phải có vốn đầu tư nên người dân không có điều kiện áp dụng thực tế Kỹ thuật chế biến hay các công đoạn làm gia tăng giá trị sản phẩm chưa được chú trọng
- Vai trò của Doanh nghiệp chưa được đặt đúng với vị trí và vai trò của nó Chưa thu hút được nhiều doanh nghiệp tham gia, đặc biệt là các doanh nghiệp lớn ngoài tỉnh để đầu
Trang 5tư sản xuất nông nghiệp và thu mua sản phẩm Hoạt động của TT Tư vấn và xúc tiến đầu tư còn mờ nhạt
- Hiệu quả kinh tế chưa bền vững: Với tỷ lệ giảm nghèo đạt được dễ bị rơi vào bẫy
"giảm nghèo" mà bỏ qua những tiêu chí bền vững về mặt hiệu quả kinh tế do thiếu khâu phân tích kinh tế và chưa có nỗ lực bảo đảm tính bền vững tài chính trong quá trình lập
kế hoạch ở tất cả các cấp độ có liên quan Do đó nếu hiệu quả kinh tế đạt được thấp thì kết quả giảm nghèo sẽ không bền vững Mặt khác nguồn vốn được hỗ trợ là nguồn vốn vay ODA, nếu không sử dụng và quản lý hiệu quả thì nguồn vốn vay này sẽ trở thành gánh nặng trong tương lai
- Việc tiếp cận nguồn vốn vay từ IFAD qua VBARD còn nhiều rào cản
- Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn; nhiều nơi còn yếu kém
Nguyên nhân của những hạn chế và vấn đề đặt ra trong việc hỗ trợ hoạt động sản xuất nông nghiệp tại các xã nghèo của tỉnh Cao Bằng
- Nguyên nhân khách quan: Do xuất phát điểm nông nghiệp, nông thôn của tỉnh thấp, trong khi nguồn lực của Nhà nước và nhân dân còn rất hạn hẹp Bên cạnh đó do biến đổi khí hậu nên thời tiết ngày càng diễn biến phức tạp khó lường như; dịch bệnh gia súc và đặc biệt là sự biến động của thị trường
- Nguyên nhân chủ quan: Ý thức sản xuất của người dân một số vùng còn mang tính sản xuất nhỏ, phong tục tập quán còn lạc hậu Cơ chế, chính sách thiếu đột phá, chậm
đư-ợc điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu của sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn, việc tổ chức thực hiện còn nhiều yếu kém Việc phân bổ vốn đầu tư cho hạ tầng cơ bản
có tính chất phi sản xuất hoặc chậm sinh lời chiếm tỷ trọng lớn, trong khi vốn đầu tư trực tiếp cho sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và các chương trình, dự án mang tính chất hỗ trợ sản xuất và sinh lợi còn thấp
- Công tác khuyến nông theo cách truyền thống không hiệu quả Về phía doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực tư nhân, khó khăn lớn nhất chính là việc thiếu vốn, sự quan tâm hỗ trợ của các "nhà" khác, và lại phải chịu rủi ro cao khi ứng vốn cho nông dân Bên cạnh những nguyên nhân từ phía nông dân thì vẫn còn có hạn chế bắt nguồn từ phía
Trang 6doanh nghiệp như: chưa tôn trọng hợp đồng đã ký, không mua hết sản phẩm, chưa thực hiện đúng cam kết về giá mua, tự ý phá vỡ hợp đồng
Chương 3:
Bài học kinh nghiệm về hỗ trợ sản xuất nông nghiệp cho người dân tại các xã nghèo tỉnh Cao Bằng bằng nguồn vốn vay IFAD và những khuyến nghị
Từ những kết quả đạt được cũng như những hạn chế trong thực hiện dự án với nội dung hỗ trợ hoạt động sản xuất nông nghiệp cho người dân tại các xã nghèo tỉnh Cao Bằng có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
Một là, về phương pháp tiếp cận đối tượng hỗ trợ
Để các chương trình, dự án hỗ trợ sản xuất nông nghiệp cho người dân tại các xã nghèo thành công, ngoài việc phải có mục tiêu cụ thể, rõ ràng, thì cần phải hiểu rõ đối tượng hưởng lợi và nguyên nhân nghèo Đồng thời, tiếp cận giảm nghèo cần kết hợp giữa nâng cao năng lực, hỗ trợ thiết lập và củng cố các thể chế kinh tế gắn với thị trường theo các chuỗi giá trị, tạo điều kiện ban đầu để người nghèo tham gia các thể chế này và trở thành các thành tố không thể thiếu được của thị trường Doanh nghiệp cũng cần được đặt đúng chỗ và giữ vai trò quan trọng đầu tàu trong phương pháp tiếp cận thị trường để giảm nghèo bền vững
Hai là, về xây dựng năng lực thể chế cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh
Thực tế cho thấy, việc phát triển các dịch vụ hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, phát triển các tổ nhóm hợp tác liên kết với các doanh nghiệp, và hợp tác công tư (PPP/PPC) đã và đang góp phần làm cho các chính sách của Chính phủ sát với thực tế và hỗ trợ hiệu quả hơn cho các bên tham gia phát triển ngành hàng nông lâm nghiệp Đây cũng là các nội dung liên quan trực tiếp đến việc xây dựng năng lực thể chế cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh tại các xã nghèo
Ba là, trong hoạt động hỗ trợ cần tập trung nguồn lực đầu tư, tránh đầu tư dàn trải
và chồng chéo các chương trình dự án
Bốn là, về phân cấp quản lý thực hiện dự án
Tại cấp xã, việc phân cấp và nâng cao năng lực từ dự án đã giúp tăng cường năng lực làm chủ đầu tư cho các xã dự án, tạo nền tảng để quản lý tốt các chương trình và dự
Trang 7án khác tại xã, như Chương trình xây dựng nông thôn mới, Chương trình-30A, Chương trình 135, v.v
Năm là, về phát triển chuỗi giá trị vì người nghèo
Đối với dự án DBRP, phương pháp tiếp cận theo chuỗi giá trị hàng hóa vì người nghèo đã trở thành “tâm điểm” quan trọng nhất Để hỗ trợ cho việc chuyển đổi từ phương thức truyền thống “chủ yếu tập trung vào sản xuất hoặc chuỗi cung” sang “sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường” ở Cao Bằng là cực kỳ quan trọng Việc hỗ trợ này phải dựa trên một cam kết chính trị cao của tỉnh cùng với sự đồng thuận cao về một lộ trình và kế hoạch nâng cao năng lực cụ thể để thay đổi nhận thức, thái độ, thể chế, và năng lực cho các cơ quan này
Sáu là, về các hoạt động hỗ trợ đối với doanh nghiệp
Để hoạt động hỗ trợ có hiệu quả hơn, các dự án và các cơ quan trong tỉnh cũng cần chú trọng hỗ trợ nhiều hơn cho các doanh nghiệp về: Xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm có lợi thế so sánh với các địa phương khác; tiếp cận vay vốn qua VBARD với lãi suất ưu đãi để giảm thiểu rủi ro và hỗ trợ tốt hơn cho các nhóm;
Quy hoạch vùng nguyên liệu và có chính sách hỗ trợ để đảm bảo các nhà máy hoạt động theo công suất được thiết kế và cung cấp thông tin về các chương trình và chính sách hỗ trợ của tỉnh và Trung ương, đối thoại chính sách, và giúp tháo gỡ các khó khăn Trong hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp cần tham khảo và vận dụng những bài học thành
công từ mô hình hợp tác PPP của tỉnh Bến Tre và mô hình Quỹ APIF Bắc Kạn
Bẩy là, về phát triển dịch vụ kinh doanh nông thôn theo các chuỗi giá trị
Để phát triển các chuỗi giá trị vì người nghèo thì không chỉ nên nhìn nhận theo quan điểm “sản phẩm chuỗi” mà phải tập trung vào các tác nhân tại các công đoạn của chuỗi có cơ hội
Tám là, về lập KH PTKT-XH cấp xã có sự tham gia định hướng thị trường
Đây là hoạt động lớn được đông đảo người dân đồng tình ủng hộ Bài học thành công chính của dự án là: Có sự kế thừa các thành công và phát triển quan hệ đối tác tốt với dự án PSARD để áp dụng cho các xã dự án; tăng cường sự tham gia của người hưởng lợi, phụ nữ và cộng đồng vào trong toàn bộ quy trình là một đột phá về cách làm, giúp tạo
Trang 8ra sự đồng thuận cao trong xã hội; có sự chỉ đạo kịp thời của UBND tỉnh trong việc phân công các cơ quan tham gia và thể chế hóa quy trình để nhân rộng ra toàn tỉnh
Chín là, về hỗ trợ các nhóm nông dân sản xuất kinh doanh hiệu quả
Mười là, hỗ trợ CIG kết nối với doanh nghiệp đầu tàu
Để thúc đẩy liên kết kinh doanh giữa các CIG và doanh nghiệp, dự án cần hỗ trợ đồng thời vào 3 đối tượng: doanh nghiệp; các Nhóm cùng sở thích và nhóm Tư vấn địa phương
* Bài học kinh nghiệm về hỗ trợ hoạt động sản xuất nông nghiệp cho người dân tại các xã nghèo
Một là, cần chú trọng hoạt động đánh giá sự đổi mới và nhân rộng mô hình
hỗ trợ thành công
Quá trình thực hiện hỗ trợ hoạt động sản xuất nông nghiệp cho người dân tại các
xã nghèo cũng là quá trình thử nghiệm và nhân rộng các cách làm mới có tính sáng tạo nhằm tạo ra tác động nhiều hơn cho các đối tượng hưởng lợi và đảm bảo tính bền vững khi kết thúc dự án Những nội dung đổi mới chính gồm: quy trình lập KHPTKT-XH có
sự tham gia theo định hướng thị trường, hạ tầng quy mô nhỏ do cộng đồng tự thực hiện, hợp tác công tư theo chuỗi giá trị, lồng ghép hoạt động tiết kiệm và tín dụng trong các CIG, và phân loại các tổ nhóm để có chiến lược hỗ trợ phù hợp
Đây là phương pháp hoàn toàn có thể áp dụng cho các chương trình khác đang thực hiện tại Cao Bằng như Chương trình xây dựng nông thôn mới, 135 pha 3, CT-30A UBND đang chỉ đạo xây dựng hướng dẫn để nhân rộng cách làm này
Hai là, về quan hệ đối tác
IFAD: Đối với Cao Bằng, DBRP là một dự án với nhiều tiếp cận mới, đòi hỏi sự quyết tâm cao của tỉnh để thay đổi thể chế và năng lực hiện tại để áp dụng và phần lớn các thay đổi đó không dễ gì thay đổi nhanh trong một chu kỳ dự án Trong những năm đầu triển khai thực hiện dự án IFAD đã có những khuyến nghị và hỗ trợ rất hiệu quả về tiến độ thực hiện dự án và quản lý dự án
Một số khuyến nghị về giải pháp hỗ trợ sản xuất nông nghiệp cho người dân
Trang 9Để góp phần thực hiện các mục tiêu xóa đói giảm nghèo đề ra, Cao Bằng vẫn xác định hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân có vai trò rất quan trọng Tỉnh đã xác định phương hướng phát triển chung ngành nông nghiệp tỉnh Cao Bằng là: Phát triển nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa
- Về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh
Tỉnh cần cụ thể hóa các chính sách thúc đẩy kinh doanh nông nghiệp Bên cạnh đó cần tiếp tục nghiên cứu, rà soát sửa đổi, bổ sung các chính sách phát triển nông nghiệp của tỉnh để định hướng và phát triển sản xuất Rà soát để loại bỏ chính sách có tác động bất lợi với người nghèo hoặc ngăn trở họ nhận được nhiều nhất nguồn lợi từ sản phẩm nông nghiệp, chế biến, dự trữ, vận tải hoặc tiếp thị
- Thực hiện quy hoạch vùng sản xuất, chế biến và xác định các lĩnh vực ưu tiên trong hỗ trợ đầu tư
- Tăng cường hợp tác công tư trong phát triển nông nghiệp
- Khuyến khích, thu hút nguồn lực đầu tư vào phát triển nông nghiệp, nông thôn
- Tăng cường liên kết kinh doanh giữa nhóm cùng sở thích (CIG) - Doanh nghiệp
- Khuyến khích đầu tư cho hệ thống nông nghiệp vùng sâu, vùng xa
KẾT LUẬN
Nhìn chung, với những hạn chế trong sản xuất nông nghiệp vẫn là những thách thức to lớn với tỉnh Cao Bằng trong thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo
Cách tiếp cận của dự án DBRP bằng nguồn vốn vay IFAD là phát triển nông nghiệp và nông thôn một cách toàn diện Đặc biệt, dự án DBRP đã đi đầu trong việc đưa
ra những sáng kiến và mô hình mới trong phát triển nông nghiệp và nông thôn như: phân cấp cho cấp xã làm chủ đầu tư với Quỹ đầu tư xã; Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng gắn với phát triển chuỗi giá trị,
Các mô hình áp dụng khoa học kỹ thuật mang lại hiệu quả kinh tế tăng thu nhập cho người dân, mô hình liên kết giữa nhóm nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất tiêu thụ sản phẩm Đây là những phương pháp phù hợp với các chính sách phát triển nông
Trang 10nghiệp và giảm nghèo, hoàn toàn có thể áp dụng cho các chương trình khác đang thực hiện tại Cao Bằng như CT-NTM, CT-135 pha 3, CT-30A
Đề tài “Hoạt động hỗ trợ sản xuất nông nghiệp cho người dân tại các xã nghèo ở tỉnh Cao Bằng thông qua nguồn vốn vay IFAD - Thực trạng và bài học kinh nghiệm” đã hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu đề ra và có những đóng góp chủ yếu sau:
Thứ nhất, đã hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận về vai trò của phát triển sản xuất nông nghiệp với xóa đói giảm nghèo; sự cần thiết và nội dung hỗ trợ sản xuất nông nghiệp cho người dân tại các xã nghèo nông thôn vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn
Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động hỗ trợ sản xuất nông nghiệp cho người dân tại các xã nghèo ở tỉnh Cao Bằng thông qua nguồn vốn vay IFAD trong giai đoạn 2008 – 2014, chỉ rõ những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân
Thứ ba, rút ra những bài học kinh nghiệm về hoạt động hỗ trợ sản xuất nông nghiệp cho người dân Đồng thời đề xuất một số khuyến nghị về việc hỗ trợ người dân trong sản xuất nông nghiệp tại các xã nghèo để hướng tới xây dựng và phát triển nền sản xuất
nông nghiệp bền vững ở Cao Bằng