Từ những kết quả nghiên cứu bên trên, để chẩn đoán bệnh sán lá sinh sản ở vịt cần dựa vào triệu chứng lâm sàng, kết hợp xét nghiệm phát hiện trứng sán trong phân hoặc mổ khám ki[r]
Trang 1DOI:10.22144/ctu.jvn.2019.072
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN BỆNH SÁN LÁ SINH SẢN Ở VỊT
Nguyễn Đức Tân, Huỳnh Vũ Vỹ*, Nguyễn Văn Thoại và Lê Hứa Ngọc Lực
Bộ môn Nghiên cứu Ký sinh trùng, Phân viện Thú y miền Trung
*Người chịu trách nhiệm về bài viết: Huỳnh Vũ Vỹ (email: huynhvuvy@gmail.com)
Thông tin chung:
Ngày nhận bài: 08/11/2018
Ngày nhận bài sửa: 07/12/2018
Ngày duyệt đăng: 28/06/2019
Title:
Study on diagnosis method of
oviduct fluke disease in duck
Từ khóa:
Bệnh tích, chẩn đoán, sán lá
sinh sản, vịt
Keywords:
Diagnosis, duck, lesion,
oviduct fluke
ABSTRACT
The cause of oviduct fluke disease in duck is due to Prosthogonimus sp., disease considerable affect to efficiency of duck breeding Diagnosis of this disease should be based on clinical symptoms, combined with detection of egg
in the feces or surgery to detect oviduct fluke in the Fabricius or in the oviduct
Clinical symptoms of oviduct fluke disease in duck included: eating less, modeful, weak, unbalanced, eyes closed, lying down and reducing prey; duck reduced laying, egg shell was thin or without shell; in some cases, anus had a lot of fluid, duck-laying was suffering from pilets Mortality was high but sporadic and extending In feces, egg of oviduct fluke was oval shape, two covers, brown, small capped head, embryonated egg Duck necropsy found pink-red oviduct fluke in the Fabricius and in the oviduct Gross lesion: Ovary was inflammation or inflam-sticky with abdominal sinus; the oviduct and Fabricius inflammation, swelling, congestion and hemorrhage; inside the oviduct there was a lot of mucus with grayish white colour Histopathological examination: The epithelial cells of oviduct were inflammation, necrosis and exfoliation The epithelial cells of Fabricius were degeneration, infiltration of inflammation cells, lots of polyps
TÓM TẮT
Bệnh sán lá sinh sản ở vịt do loài Prosthogonimus sp gây ra Bệnh ảnh hưởng khá lớn đến hiệu quả chăn nuôi vịt Để chẩn đoán bệnh này, cần dựa vào triệu chứng lâm sàng, kết hợp xét nghiệm phát hiện trứng sán trong phân hoặc mổ khám phát hiện sán ký sinh trong túi Fabricius hoặc ống dẫn trứng Vịt bị bệnh sán lá sinh sản thường có một số biểu hiện như: ăn ít, ủ rũ, gầy yếu, đi đứng không thăng bằng, mắt nhắm, hay nằm và giảm bắt mồi; vịt giảm đẻ, trứng vỏ mỏng, trứng không có vỏ vôi; một số trường hợp lỗ huyệt có nhiều chất dịch, vịt đẻ có hiện tượng lòi dom Tỷ lệ chết khá cao, nhưng vịt chết lẻ tẻ và kéo dài Xét nghiệm phân tìm trứng sán, trứng có hình bầu dục, hai lớp vỏ, màu nâu, đầu nhỏ có nắp, phôi bào phân bố đều bên trong Mổ khám vịt thấy sán màu hồng đỏ trong ống dẫn trứng và túi Fabricius Bệnh tích đại thể: Buồng trứng bị viêm hoặc viêm dính xoang bụng; ống dẫn trứng và túi Fabricius viêm, sưng, xung huyết và xuất huyết; bên trong ống dẫn trứng có nhiều dịch
và cặn bã đặc, màu trắng xám Bệnh tích vi thể: Bong lốc, hoại tử tế bào biểu
mô và thâm nhiễm tế bào viêm ở ống dẫn trứng Thoái hóa tế bào, thâm nhiễm
Trang 21 GIỚI THIỆU
Bệnh sán lá sinh sản ở vịt do loài
Prosthogonimus sp gây ra Đến nay, đã phát hiện ít
nhất 10 loài thường gây bệnh trên vịt Bệnh sán lá
sinh sản phân bố rộng ở các nước Châu Âu, Châu
Mỹ, Châu Phi và Châu Á (Macy, 1965; Naem and
Golpayegani, 2003; Taylor et al., 2007) Vòng đời
phải qua 2 vật chủ trung gian: vật chủ trung gian thứ
nhất là ốc nước ngọt (Bithynia sp.), vật chủ trung
gian thứ 2 là ấu trùng chuồn chuồn và chuồn chuồn
ngô Vịt nhiễm sán do ăn phải ấu trùng chuồn chuồn
hoặc chuồn chuồn chứa nang kén sán (Nguyễn Đức
Tân và ctv., 2018a)
Ở nước ta, bệnh sán lá sinh sản ở vịt phân bố
khắp các vùng miền: Từ miền núi, đến trung du và
đồng bằng, nhất là những nơi có nhiều ao, hồ, sông,
suối, đầm, phá, ruộng nước -Tỷ lệ nhiễm sán ở vịt
tại khu vực Nam Trung Bộ từ 29,06-30,18%
(Nguyễn Đức Tân và ctv., 2018b); ở Thanh Trì, Hà
Nội là 21% (Nguyễn Thị Lê, 1971); Đồng bằng sông
Cửu Long là 9,51% (Nguyễn Hữu Hưng, 2007);
Đồng bằng sông Hồng là 6,97% (Nguyễn Xuân
Dương, 2008) Mặc dù bệnh sán lá sinh sản ở vịt là
khá phổ biến, làm ảnh hưởng khá lớn đến hiệu quả
chăn nuôi, nhưng vẫn chưa có công trình nào nghiên
cứu về phương pháp chẩn đoán riêng cho bệnh sán
lá sinh sản Vì vậy, nghiên cứu này với mục tiêu đưa
ra các phương pháp chẩn đoán bệnh sán lá sinh sản
ở vịt, nhằm phát hiện bệnh nhanh, chính xác, kịp
thời đưa ra các biện pháp phòng trị bệnh, góp phần
phát triển chăn nuôi theo hướng bền vững
2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Nguyên, vật liệu nghiên cứu
Động vật: 180 vịt bị bệnh sán lá sinh sản và 20
vịt không bị bệnh
Mẫu bệnh phẩm: Buồng trứng, ống dẫn trứng,
túi Fabricius…
Dụng cụ: Kính hiển vi quang học; kính hiển vi
soi nổi, kính lúp; phiến kính; lá kính; bộ đồ mổ tiểu
gia súc…
Hóa chất: Hệ thống thuốc nhuộm Hematoxylin
và Eosin, cồn, formol 10%, nước sinh lý; nước cất…
2.2 Địa điểm nghiên cứu:
Bộ môn Ký sinh trùng, Phân viện thú y miền Trung; Phòng thí nghiệm bệnh lý, Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2.3 Phương pháp nghiên cứu thử nghiệm
Thí nghiệm được tiến hành trên tổng số 180 vịt
bị bệnh sán lá sinh sản bằng gây nhiễm thực nghiệm, gồm: 60 vịt con (5 tuần tuổi), 60 vịt hậu bị (3 tháng tuổi), 60 vịt sinh sản (8 tháng tuổi) Mỗi nhóm tuổi được bố trí 20 vịt không bị bệnh làm đối chứng
Sau khi cho vịt nuốt nang kén metacercaria của
sán lá sinh sản từ chuồn chuồn hoặc ấu trùng chuồn chuồn ngô (khoảng 31-50 nang kén/vịt) Hàng ngày theo dõi, quan sát trực tiếp, ghi chép các dấu hiệu lâm sàng
Thu thập mẫu phân vịt, xét nghiệm bằng phương pháp lắng cặn tìm trứng sán trong phân (Benedek, 1943)
Vịt thí nghiệm được mổ khám theo phương pháp
mổ khám không toàn diện (Skrjabin, 1928): Mổ khám vịt, bộc lộ xoang bụng, tách các cơ quan nội tạng khỏi cơ thể, quan sát bệnh tích đại thể, tìm sán
ký sinh trong ống dẫn trứng và túi Fabricius Định loài sán lá sinh sản dựa vào khóa định loại
giun sán của Chauhan (1940); Phan Thế Việt và ctv (1977); Soulsby (1982); Nguyễn Thị Lê và ctv
(1996)
Thu thập các cơ quan: túi Fabricius, ống dẫn trứng, gan, phổi,… ngâm formol 10% để làm tiêu bản vi thể Tẩm, đúc, cắt, nhuộm Hematoxylin và Eosin (HE) theo phương pháp Culling (2013) Đọc kết quả trên kính hiển vi và chụp ảnh bệnh tích vi thể
Các số liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel
2010
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Kết quả nghiên cứu triệu chứng lâm sàng bệnh sán lá sinh sản ở vịt
Tiến hành theo dõi triệu chứng lâm sàng của 180 vịt bị bệnh sán lá sinh sản Kết quả được thể hiện ở Bảng 1
Trang 3Bảng 1: Triệu chứng lâm sàng bệnh sán lá sinh sản ở vịt
Các dấu hiệu lâm sàng
Các nhóm tuổi Vịt con (n=60) Vịt hậu bị (n=60) Vịt đẻ (n=60)
Số con có triệu chứng
Tỷ lệ (%)
Số con có triệu chứng
Tỷ lệ (%)
Số con có triệu chứng
Tỷ lệ (%)
Mệt mỏi, giảm ăn, lông xù, gây yếu, ủ rũ 60 100 60 100 60 100
Vịt đẻ có hiện tượng trứng vỏ mỏng, trứng
Ghi chú: (-) là chỉ tiêu không theo dõi
Qua Bảng 1 cho thấy, bệnh sán lá sinh sản ở vịt
có một số triệu chứng như sau:
Vịt mệt mỏi, giảm ăn, lông xù, gầy yếu, ủ rũ
(100%); hay nằm, giảm bắt mồi (50,8%)
Một số con liệt chân, chướng bụng (10,0%)
Vịt đẻ, hậu môn có nhiều chất dịch, niêm mạc
màu đỏ (26,1%), có hiện tượng lòi dom, mất khả
năng sinh sản (10,0%) Vịt đẻ trứng vỏ mỏng, trứng
không có vỏ vôi (28,33%)
Vịt chết lẻ tẻ và kéo dài (vịt chết 1 đến 2
con/ngày hoặc 2 đến 3 ngày chết 1 con), chủ yếu vịt
chết ở giai đoạn vịt con và vịt hậu bị
Kết quả nghiên cứu này tương tự với báo cáo
trước đây của Macy (1934), Phạm Sỹ Lăng và Phan
Địch Lân (2001), các tác giả nhận thấy rằng, khi vịt
bị nhiễm sán lá sinh sản, vịt thường biểu hiện các triệu chứng: Gầy yếu, ủ rũ, vịt đẻ ra vỏ trứng mềm,
dễ vỡ, sản lượng trứng giảm Trường hợp nhiễm nhiều, vịt đẻ trứng không có vỏ vôi, đôi khi trứng chưa kịp đẻ đã bị vỡ nên chỉ thấy lòng trắng và lòng
đỏ chảy ra ở lỗ huyệt Vịt ăn ít hoặc bỏ ăn, rụng lông, bụng to, đi đứng không thăng bằng, vào ổ nằm lâu nhưng không đẻ Lỗ huyệt đôi khi chảy ra những dịch thể đặc, quánh có chất vôi, vịt nằm một chổ, ỉa chảy, mép hậu môn đỏ đậm và chết
3.2 Kết quả nghiên cứu bệnh tích bệnh sán
lá sinh sản ở vịt
Mổ khám 180 vịt có những biểu hiện triệu chứng lâm sàng để nghiên cứu bệnh tích đại thể và vi thể Kết quả thể hiện ở Bảng 2
Bảng 2: Bệnh tích bệnh sán lá sinh sản ở vịt
Đặc điểm bệnh tích
Các nhóm tuổi Vịt con (n=60) Vịt hậu bị (n=60) Vịt đẻ (n=60)
Số con có bệnh tích
Tỷ lệ (%)
Số con có bệnh tích
Tỷ lệ (%)
Số con có bệnh tích
Tỷ lệ (%) Bệnh tích đại thể
Buồng trứng viêm, viêm phúc mạc, xoang bụng
Ống dẫn trứng viêm, sưng, xung huyết, xuất huyết
Niêm mạc ống dẫn trứng dày, có nhiều dịch và cặn
bã đặc, màu trắng xám, có sán màu hồng đỏ
Túi Fabricius viêm, sưng, sung huyết và xuất huyết
Niêm mạc dầy, có sán màu hồng đỏ trong túi 60 100 60 100 - - Các cơ quan như: gan, phổi, ít biến đổi 60 100 60 100 60 100
Bệnh tích vi thể
Trang 4Kết quả ở Bảng 2 cho thấy:
Bệnh tích đại thể:
Vịt con và vịt hậu bị: Túi Fabricius viêm, sưng,
sung huyết và xuất huyết Niêm mạc dầy, có sán
màu hồng đỏ trong túi (chiếm tỉ lệ 100%) Các cơ
quan khác ít biến đổi
Vịt sinh sản: Buồng trứng viêm, viêm phúc mạc,
xoang bụng tích dịch màu đỏ (chiếm tỉ lệ 13,3%)
Ống dẫn trứng viêm, sưng, sung huyết, xuất
huyết Niêm mạc dầy, có nhiều dịch và cặn bã đặc,
màu trắng xám, có sán màu hồng đỏ (chiếm tỉ lệ
91,6% ở vịt hậu bị và 100% vịt sinh sản) Các cơ
quan khác ít biến đổi
Nghiên cứu này đồng nhất với báo cáo của
Lakela (1932), khi tiến hành gây nhiễm
metacercaria của sán lá sinh sản cho vịt và kiểm tra
bệnh tích đại thể, tác giả cho biết, túi Fabricius và
ống dẫn trứng có nhiều sán lá sinh sản ký sinh
Trong túi Fabricius, sán gây viêm và xuất huyết Ở
ống dẫn trứng, xuất hiện nhiều cục máu đông, viêm
và xuất huyết, có nhiều lòng trắng trứng, đặc, quánh
có chất vôi Niêm mạc ống dẫn trứng và túi
Fabricius, có nhiều điểm xuất huyết, viêm, tụ huyết
và hoại tử
Bệnh tích vi thể
Ống dẫn trứng: Hoại tử biểu mô và thâm nhiễm
tế bào viêm (chiếm tỷ lệ 100%)
Túi Fabricius: Thâm nhiễm tế bào viêm, thoái
hóa tế bào; nhiều vết cắn và có hình ảnh ấu trùng sán
trong túi Fabricius (chiếm tỷ lệ 100%)
Kết quả của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu
của Leok et al (2002), khi sán lá sinh sản ký sinh ở
túi Fabricius và ống dẫn trứng, kiểm tra bệnh tích vi thể tác giả nhận thấy, có nhiều Polip trên bề mặt biểu
mô, thoái hóa, bong lốc và hoại tử nhiều đám tế bào Khi kiểm tra vi thể ở biểu mô ống dẫn trứng của vịt
nhiễm sán lá sinh sản, Kigston (1978), Arundel et
al (1980), Soulsby (1982) chỉ ra, nhiều đám tế bào
biểu mô bị phá hủy hoàn toàn Muraleedharan and Pande (1968) đã quan sát thấy, có nhiều hồng cầu trong lòng mạch quản, nhiều đám tế bào viêm và hoại tử ở túi Fabricius Ngoài ra, các tác giả còn nhận thấy một số lượng lớn các tế bào máu trong ống tiêu hóa của nhiều sán lá sinh sản
3.3 Các phương pháp chẩn đoán bệnh sán
lá sinh sản ở vịt
Từ những kết quả nghiên cứu bên trên, để chẩn đoán bệnh sán lá sinh sản ở vịt cần dựa vào triệu chứng lâm sàng, kết hợp xét nghiệm phát hiện trứng sán trong phân hoặc mổ khám kiểm tra bệnh tích, phát hiện sán ký sinh trong túi Fabricius và ống dẫn trứng
3.3.1 Chẩn đoán lâm sàng
Vịt có biểu hiện ăn ít, rụng lông, ủ rũ, gầy yếu, đi đứng không thăng bằng, mắt nhắm, hay nằm
và giảm bắt mồi
Giai đoạn vịt con và vịt hậu bị: Vịt ốm yếu
và dễ mắc các bệnh khác Vịt chết chủ yếu ở giai đoạn này, tỷ lệ chết khá cao nhưng vịt chết lẻ tẻ và kéo dài (vịt chết 1 đến 2 con/ngày hoặc 2 đến 3 ngày
1 con, )
Vịt đẻ: Tỷ lệ đẻ trứng giảm và chất lượng trứng kém (kích thước trứng không đồng đều Xuất hiện trứng vỏ mỏng, mềm, dễ vỡ hoặc trứng không
có vỏ vôi) Hậu môn có nhiều chất dịch, niêm mạc màu đỏ Một số con có hiện tượng lòi dom
Hình 1: Vịt bị bệnh sán lá sinh sản – Vịt đẻ trứng không có vỏ vôi, vỏ mềm
Trang 53.3.2 Xét nghiệm phát hiện trứng sán trong
phân
Thu thập phân vịt vừa thải, cho vào ống
Falcon hoặc túi nilong
Xét nghiệm phân theo phương pháp lắng cặn
(Benedek, 1943)
Kết quả xét nghiệm cho thấy, trứng sán có hình bầu dục, hai lớp vỏ, màu nâu, đầu nhỏ có nắp, phôi bào phân bố đều bên trong Kích thước trứng, chiều dài 24-33 μm, chiều rộng 12-16 µm
Hình 2: Trứng sán lá sinh sản quan sát dưới kính hiển vi (xét nghiệm phân)
1, 2: Độ phóng đại 100 lần; 3: Độ phóng đại 400 lần 3.3.3 Chẩn đoán bằng mổ khám
Mổ khám vịt chết hoặc những đàn vịt nghi ngờ
thì lựa chọn 2-3 con vịt có triệu chứng ốm yếu để
mổ khám xác định đúng căn nguyên gây bệnh
Trình tự mổ khám
Dùng kéo hoặc dao mổ vịt, bộc lộ các cơ
quan nội tạng
Kiểm tra bệnh tích đại thể các cơ quan:
Gan, phổi, ruột ít có bệnh tích đại thể
Xoang bụng tích nước, chứa nhiều dịch màu đỏ
xám
Đối với bệnh sán lá sinh sản, kiểm tra tập trung
ở 2 cơ quan là buồng trứng, ống dẫn trứng và túi Fabricius
Buồng trứng, ống dẫn trứng:
Buồng trứng bị viêm, hoặc viêm dính xoang bụng
Nhìn bên ngoài ống dẫn trứng hơi sưng Dùng dao hoặc kéo cắt dọc ống dẫn trứng quan sát thấy: Niêm mạc ống dẫn trứng dầy, viêm, xung huyết một phần hoặc toàn bộ ống dẫn trứng; Ống dẫn trứng có nhiều dịch và cặn bã đặc màu trắng xám Sán màu hồng đỏ bám bên trong ống dẫn trứng (Hình 3)
Trang 6Túi Fabricius: Túi Fabricius thường phát triển
khi vịt đang còn nhỏ (vịt con hoặc vịt hậu bị), khi vịt
trưởng thành túi này dần dần bị tiêu giảm
Vị trí túi: Nằm ở trên ổ nhớp
Quan sát bên ngoài thấy túi sưng, một số trường hợp nhìn rõ sán bên trong túi Dùng dao cắt dọc túi quan sát bệnh tích thấy: Niêm mạc dầy, viêm và xuất huyết Sán màu hồng đỏ nằm trong túi (hình 4)
Hình 4: Bệnh tích đại thể ở túi Fabricius
1 và 2: Túi Fabricius sưng (2a: túi Fabricius, 2b: ổ nhớp) 3: Niêm mạc túi viêm, sán ký sinh trong túi; 4: Cắt túi Fabricius cho vào đĩa petri, nhìn thấy sán màu đỏ
Cấu tạo của sán lá sinh sản: Sán có hình quả
lê, dài phía trước và phình rộng phía sau Kích thước
từ 4,23-5,26 mm Sán có 2 giác bám: Giác miệng ở
đầu và giác bụng ở giữa thân sán Tinh hoàn tròn xếp
đối xứng 2 bên giữa thân sán Hầu nhỏ Thực quản
ngắn Túi sinh dục phía trước giác bụng Lỗ sinh sản đực và cái ở ngay bên phải giác miệng Buồng trứng phân thùy Tuyến noãn hoàng hình chùm ở 2 bên thân sán Tử cung hình thành những cuộn xung quan giác bụng (Hình 5) Tùy từng giai đoạn sán xâm nhập vào vịt mà hình thái cấu tạo khác nhau (Hình 6)
Hình 5: Hình thái cấu tạo của sán lá sinh sản (40x)
1: Giác miệng; 2: Hầu; 3: Thực quản; 4: Giác bụng; 5: Tuyến noãn hoàng; 6: Buồng trứng; 7: Manh tràng; 8: Tinh hoàn; 9: Tử cung
Trang 7Hình 6: Các dạng hình thái sán lá sinh sản trên cơ thể vịt (100x)
Thời gian sau khi vịt nhiễm mầm bệnh: a: 1 ngày; b: 2 ngày; c: 5 ngày; d: 7 ngày; e: 9 ngày; f: 15 ngày (40X) (sán non); g: 19 ngày (40X) (sán trưởng thành)
Bệnh tích vi thể
Thu thập túi Fabricius, ống dẫn trứng của vịt
nhiễm sán, ngâm formol 10% để làm tiêu bản vi thể
Làm tiêu bản vi thể: Tẩm, đúc, cắt, nhuộm HE và
đọc kết quả trên kính hiển vi, chụp ảnh bệnh tích vi
thể
Bệnh tích vi thể bệnh sán lá sinh sản ở vịt: Hoại
tử biểu mô ở ống dẫn trứng và thâm nhiễm tế bào viêm Thâm nhiễm tế bào viêm, thoái hóa tế bào; nhiều Polip (vết cắn) và hình ảnh ấu trùng sán trong túi Fabricius
Hình 7: Bệnh tích vi thể vịt nhiễm sán lá sinh sản ở túi Fabricius và ống dẫn trứng
1: Sự thoái hóa và bông lốc tế bào biểu mô ống dẫn trứng (200X); 2: Hồng cầu tràn ngập các mạch quản ở túi
Fabricius (100X); 3: Thâm nhiễm tế bào viêm, tế bào thoái hóa không bào (200X); 4: Vết cắn của sán trên bề mặt biểu
mô, tạo ra Polyp ở túi Fabricius (100X); 5: Ấu trùng sán ký sinh trong túi Fabricius (100X)
4 KẾT LUẬN
Vịt được xác định bị bệnh sán lá sinh sản khi có
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Arundel, J.H., Kingston, J.L and Kerr, P.J., 1980
Trang 8Chauhan, B., 1940 Two new species of avian
trematodes, In: Proceedings of the Indian
Academy of Sciences-Section B, 75-83
Culling, C.F.A., 2013 Handbook of histopathological
and histochemical techniques: including museum
techniques Butterworth-Heinemann and Co
Kigston, N., 1978 Trematodes In: Diseases of
777–781
Lakela, O., 1932 Chickens definitive hosts to species
of Prosthogonimus Poult Sci, 11: 181-184
Leok, C.S., Inoue, I., Haritani, M., Tanimura, N and
Okada, K., 2002 Morphology of the oviduct
fluke, Prosthogonimus ovatus, isolated from
Indonesian native chickens and histopathological
observation of the infected chickens J Vet
Med Sci 64: 1129-1131
Macy, R.W., 1934 Studies on the taxonomy,
morphology, and biology of Prosthogonimus
macrorchis Macy, a common oviduct fluke of
domestic fowls in North America Technical
Bulletin Minnesota Agricultural Experiment
Station 98: 71-75
Macy, R.W., 1965 On the life cycle of the trematode
Prosthogonimus cuneatus (Rudolphi, 1809)
(Plagiorchidae) in Egypt Trans Am Microsc
Soc, 84: 577–80
Muraleedharan, K and Pande, B.P., 1968
Experimental infections with a prosthogonimid
metacercaria in chicks fed deficient mashes
Indian Veterinary Journal, 45(8): 641-649
Naem, S and Golpayegani, M.H., 2003
Prosthogonimus macrorchis in the albumin of
the egg from Sari Iran Iran J of Vet Res, Uni of
Shiraz 4 (2): 160-2
Nguyễn Đức Tân, Nguyễn Văn Thoại, Huỳnh Vũ Vỹ
và Lê Hứa Ngọc Lực, 2018a Nghiên cứu vòng
đời sán lá sinh sản (Prosthogonimus sp.) trên vịt
tại Việt Nam Tạp chí Phòng chống bệnh Sốt rét
và các bệnh Ký sinh trùng 104 (2): 79-86
Nguyễn Đức Tân, Nguyễn Văn Thoại, Huỳnh Vũ Vỹ
và Lê Hứa Ngọc Lực, 2018b Tình hình nhiễm sán
lá sinh sản (Prosthogonimus sp.) trên vịt tại một số
tỉnh Nam Trung Bộ Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y 25(3): 64-68
Nguyễn Hữu Hưng, 2007 Giun sán ký sinh trên vịt tại Đồng Bằng Sông Cửu Long và thí nghiệm thuốc phòng trị một số loài giun sán chủ yếu Luận án tiến sĩ Nông nghiệp Đại Học Nông Lâm TPHCM
Nguyễn Thị Lê, 1971 Giun sán ký sinh ở vịt vùng Thanh Trì, Hà Nội Tạp chí Khoa học và Kỹ thuật Nông nghiệp 2: 127-129
Nguyễn Thị Lê, Nguyễn Thị Kỳ, Phạm Văn Lực, Hà Duy Ngọ và Nguyễn Thị Minh, 1996 Giun sán
ký sinh ở gia cầm Việt Nam Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội, 111-115
Nguyễn Xuân Dương, 2008 Nghiên cứu tình trạng nhiễm giun sán của vịt ở Thái Bình, Nam Định, Hải Dương và đề xuất biện pháp phòng trị Luận
án tiến sĩ Nông nghiệp Viện Thú y
Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân, 2001 Bệnh ký sinh trùng ở gia cầm và biện pháp phòng trị Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội 41: 16-22 Phan Thế Việt, Nguyễn Thị Kỳ và Nguyễn Thị Lê,
1977 Giun sán ký sinh ở động vật Việt Nam Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, 9-14 Skrjabin, K., 1928 Methods of Complete Helminthological Dissections of Vertebrate Animals Including Humans Moscow State University, Moscow Publishing House of 1st Moscow State University, Moscow, 45 pp Soulsby, E.J.L., 1982 Helminths, Arthrofoods and Protozoa of domesticaled Animals London:
Taylor, M.A., Coop, R.L and Wall, R.L., 2007
Parasites of poultry and gamebirds In:
Publishing, 459-557