1. Trang chủ
  2. » Sinh học

Nghiên cứu phương pháp chẩn đoán bệnh sán lá sinh sản ở vịt

8 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 3,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những kết quả nghiên cứu bên trên, để chẩn đoán bệnh sán lá sinh sản ở vịt cần dựa vào triệu chứng lâm sàng, kết hợp xét nghiệm phát hiện trứng sán trong phân hoặc mổ khám ki[r]

Trang 1

DOI:10.22144/ctu.jvn.2019.072

NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN BỆNH SÁN LÁ SINH SẢN Ở VỊT

Nguyễn Đức Tân, Huỳnh Vũ Vỹ*, Nguyễn Văn Thoại và Lê Hứa Ngọc Lực

Bộ môn Nghiên cứu Ký sinh trùng, Phân viện Thú y miền Trung

*Người chịu trách nhiệm về bài viết: Huỳnh Vũ Vỹ (email: huynhvuvy@gmail.com)

Thông tin chung:

Ngày nhận bài: 08/11/2018

Ngày nhận bài sửa: 07/12/2018

Ngày duyệt đăng: 28/06/2019

Title:

Study on diagnosis method of

oviduct fluke disease in duck

Từ khóa:

Bệnh tích, chẩn đoán, sán lá

sinh sản, vịt

Keywords:

Diagnosis, duck, lesion,

oviduct fluke

ABSTRACT

The cause of oviduct fluke disease in duck is due to Prosthogonimus sp., disease considerable affect to efficiency of duck breeding Diagnosis of this disease should be based on clinical symptoms, combined with detection of egg

in the feces or surgery to detect oviduct fluke in the Fabricius or in the oviduct

Clinical symptoms of oviduct fluke disease in duck included: eating less, modeful, weak, unbalanced, eyes closed, lying down and reducing prey; duck reduced laying, egg shell was thin or without shell; in some cases, anus had a lot of fluid, duck-laying was suffering from pilets Mortality was high but sporadic and extending In feces, egg of oviduct fluke was oval shape, two covers, brown, small capped head, embryonated egg Duck necropsy found pink-red oviduct fluke in the Fabricius and in the oviduct Gross lesion: Ovary was inflammation or inflam-sticky with abdominal sinus; the oviduct and Fabricius inflammation, swelling, congestion and hemorrhage; inside the oviduct there was a lot of mucus with grayish white colour Histopathological examination: The epithelial cells of oviduct were inflammation, necrosis and exfoliation The epithelial cells of Fabricius were degeneration, infiltration of inflammation cells, lots of polyps

TÓM TẮT

Bệnh sán lá sinh sản ở vịt do loài Prosthogonimus sp gây ra Bệnh ảnh hưởng khá lớn đến hiệu quả chăn nuôi vịt Để chẩn đoán bệnh này, cần dựa vào triệu chứng lâm sàng, kết hợp xét nghiệm phát hiện trứng sán trong phân hoặc mổ khám phát hiện sán ký sinh trong túi Fabricius hoặc ống dẫn trứng Vịt bị bệnh sán lá sinh sản thường có một số biểu hiện như: ăn ít, ủ rũ, gầy yếu, đi đứng không thăng bằng, mắt nhắm, hay nằm và giảm bắt mồi; vịt giảm đẻ, trứng vỏ mỏng, trứng không có vỏ vôi; một số trường hợp lỗ huyệt có nhiều chất dịch, vịt đẻ có hiện tượng lòi dom Tỷ lệ chết khá cao, nhưng vịt chết lẻ tẻ và kéo dài Xét nghiệm phân tìm trứng sán, trứng có hình bầu dục, hai lớp vỏ, màu nâu, đầu nhỏ có nắp, phôi bào phân bố đều bên trong Mổ khám vịt thấy sán màu hồng đỏ trong ống dẫn trứng và túi Fabricius Bệnh tích đại thể: Buồng trứng bị viêm hoặc viêm dính xoang bụng; ống dẫn trứng và túi Fabricius viêm, sưng, xung huyết và xuất huyết; bên trong ống dẫn trứng có nhiều dịch

và cặn bã đặc, màu trắng xám Bệnh tích vi thể: Bong lốc, hoại tử tế bào biểu

mô và thâm nhiễm tế bào viêm ở ống dẫn trứng Thoái hóa tế bào, thâm nhiễm

Trang 2

1 GIỚI THIỆU

Bệnh sán lá sinh sản ở vịt do loài

Prosthogonimus sp gây ra Đến nay, đã phát hiện ít

nhất 10 loài thường gây bệnh trên vịt Bệnh sán lá

sinh sản phân bố rộng ở các nước Châu Âu, Châu

Mỹ, Châu Phi và Châu Á (Macy, 1965; Naem and

Golpayegani, 2003; Taylor et al., 2007) Vòng đời

phải qua 2 vật chủ trung gian: vật chủ trung gian thứ

nhất là ốc nước ngọt (Bithynia sp.), vật chủ trung

gian thứ 2 là ấu trùng chuồn chuồn và chuồn chuồn

ngô Vịt nhiễm sán do ăn phải ấu trùng chuồn chuồn

hoặc chuồn chuồn chứa nang kén sán (Nguyễn Đức

Tân và ctv., 2018a)

Ở nước ta, bệnh sán lá sinh sản ở vịt phân bố

khắp các vùng miền: Từ miền núi, đến trung du và

đồng bằng, nhất là những nơi có nhiều ao, hồ, sông,

suối, đầm, phá, ruộng nước -Tỷ lệ nhiễm sán ở vịt

tại khu vực Nam Trung Bộ từ 29,06-30,18%

(Nguyễn Đức Tân và ctv., 2018b); ở Thanh Trì, Hà

Nội là 21% (Nguyễn Thị Lê, 1971); Đồng bằng sông

Cửu Long là 9,51% (Nguyễn Hữu Hưng, 2007);

Đồng bằng sông Hồng là 6,97% (Nguyễn Xuân

Dương, 2008) Mặc dù bệnh sán lá sinh sản ở vịt là

khá phổ biến, làm ảnh hưởng khá lớn đến hiệu quả

chăn nuôi, nhưng vẫn chưa có công trình nào nghiên

cứu về phương pháp chẩn đoán riêng cho bệnh sán

lá sinh sản Vì vậy, nghiên cứu này với mục tiêu đưa

ra các phương pháp chẩn đoán bệnh sán lá sinh sản

ở vịt, nhằm phát hiện bệnh nhanh, chính xác, kịp

thời đưa ra các biện pháp phòng trị bệnh, góp phần

phát triển chăn nuôi theo hướng bền vững

2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

2.1 Nguyên, vật liệu nghiên cứu

Động vật: 180 vịt bị bệnh sán lá sinh sản và 20

vịt không bị bệnh

Mẫu bệnh phẩm: Buồng trứng, ống dẫn trứng,

túi Fabricius…

Dụng cụ: Kính hiển vi quang học; kính hiển vi

soi nổi, kính lúp; phiến kính; lá kính; bộ đồ mổ tiểu

gia súc…

Hóa chất: Hệ thống thuốc nhuộm Hematoxylin

và Eosin, cồn, formol 10%, nước sinh lý; nước cất…

2.2 Địa điểm nghiên cứu:

Bộ môn Ký sinh trùng, Phân viện thú y miền Trung; Phòng thí nghiệm bệnh lý, Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

2.3 Phương pháp nghiên cứu thử nghiệm

Thí nghiệm được tiến hành trên tổng số 180 vịt

bị bệnh sán lá sinh sản bằng gây nhiễm thực nghiệm, gồm: 60 vịt con (5 tuần tuổi), 60 vịt hậu bị (3 tháng tuổi), 60 vịt sinh sản (8 tháng tuổi) Mỗi nhóm tuổi được bố trí 20 vịt không bị bệnh làm đối chứng

Sau khi cho vịt nuốt nang kén metacercaria của

sán lá sinh sản từ chuồn chuồn hoặc ấu trùng chuồn chuồn ngô (khoảng 31-50 nang kén/vịt) Hàng ngày theo dõi, quan sát trực tiếp, ghi chép các dấu hiệu lâm sàng

Thu thập mẫu phân vịt, xét nghiệm bằng phương pháp lắng cặn tìm trứng sán trong phân (Benedek, 1943)

Vịt thí nghiệm được mổ khám theo phương pháp

mổ khám không toàn diện (Skrjabin, 1928): Mổ khám vịt, bộc lộ xoang bụng, tách các cơ quan nội tạng khỏi cơ thể, quan sát bệnh tích đại thể, tìm sán

ký sinh trong ống dẫn trứng và túi Fabricius Định loài sán lá sinh sản dựa vào khóa định loại

giun sán của Chauhan (1940); Phan Thế Việt và ctv (1977); Soulsby (1982); Nguyễn Thị Lê và ctv

(1996)

Thu thập các cơ quan: túi Fabricius, ống dẫn trứng, gan, phổi,… ngâm formol 10% để làm tiêu bản vi thể Tẩm, đúc, cắt, nhuộm Hematoxylin và Eosin (HE) theo phương pháp Culling (2013) Đọc kết quả trên kính hiển vi và chụp ảnh bệnh tích vi thể

Các số liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel

2010

3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Kết quả nghiên cứu triệu chứng lâm sàng bệnh sán lá sinh sản ở vịt

Tiến hành theo dõi triệu chứng lâm sàng của 180 vịt bị bệnh sán lá sinh sản Kết quả được thể hiện ở Bảng 1

Trang 3

Bảng 1: Triệu chứng lâm sàng bệnh sán lá sinh sản ở vịt

Các dấu hiệu lâm sàng

Các nhóm tuổi Vịt con (n=60) Vịt hậu bị (n=60) Vịt đẻ (n=60)

Số con có triệu chứng

Tỷ lệ (%)

Số con có triệu chứng

Tỷ lệ (%)

Số con có triệu chứng

Tỷ lệ (%)

Mệt mỏi, giảm ăn, lông xù, gây yếu, ủ rũ 60 100 60 100 60 100

Vịt đẻ có hiện tượng trứng vỏ mỏng, trứng

Ghi chú: (-) là chỉ tiêu không theo dõi

Qua Bảng 1 cho thấy, bệnh sán lá sinh sản ở vịt

có một số triệu chứng như sau:

Vịt mệt mỏi, giảm ăn, lông xù, gầy yếu, ủ rũ

(100%); hay nằm, giảm bắt mồi (50,8%)

Một số con liệt chân, chướng bụng (10,0%)

Vịt đẻ, hậu môn có nhiều chất dịch, niêm mạc

màu đỏ (26,1%), có hiện tượng lòi dom, mất khả

năng sinh sản (10,0%) Vịt đẻ trứng vỏ mỏng, trứng

không có vỏ vôi (28,33%)

Vịt chết lẻ tẻ và kéo dài (vịt chết 1 đến 2

con/ngày hoặc 2 đến 3 ngày chết 1 con), chủ yếu vịt

chết ở giai đoạn vịt con và vịt hậu bị

Kết quả nghiên cứu này tương tự với báo cáo

trước đây của Macy (1934), Phạm Sỹ Lăng và Phan

Địch Lân (2001), các tác giả nhận thấy rằng, khi vịt

bị nhiễm sán lá sinh sản, vịt thường biểu hiện các triệu chứng: Gầy yếu, ủ rũ, vịt đẻ ra vỏ trứng mềm,

dễ vỡ, sản lượng trứng giảm Trường hợp nhiễm nhiều, vịt đẻ trứng không có vỏ vôi, đôi khi trứng chưa kịp đẻ đã bị vỡ nên chỉ thấy lòng trắng và lòng

đỏ chảy ra ở lỗ huyệt Vịt ăn ít hoặc bỏ ăn, rụng lông, bụng to, đi đứng không thăng bằng, vào ổ nằm lâu nhưng không đẻ Lỗ huyệt đôi khi chảy ra những dịch thể đặc, quánh có chất vôi, vịt nằm một chổ, ỉa chảy, mép hậu môn đỏ đậm và chết

3.2 Kết quả nghiên cứu bệnh tích bệnh sán

lá sinh sản ở vịt

Mổ khám 180 vịt có những biểu hiện triệu chứng lâm sàng để nghiên cứu bệnh tích đại thể và vi thể Kết quả thể hiện ở Bảng 2

Bảng 2: Bệnh tích bệnh sán lá sinh sản ở vịt

Đặc điểm bệnh tích

Các nhóm tuổi Vịt con (n=60) Vịt hậu bị (n=60) Vịt đẻ (n=60)

Số con có bệnh tích

Tỷ lệ (%)

Số con có bệnh tích

Tỷ lệ (%)

Số con có bệnh tích

Tỷ lệ (%) Bệnh tích đại thể

Buồng trứng viêm, viêm phúc mạc, xoang bụng

Ống dẫn trứng viêm, sưng, xung huyết, xuất huyết

Niêm mạc ống dẫn trứng dày, có nhiều dịch và cặn

bã đặc, màu trắng xám, có sán màu hồng đỏ

Túi Fabricius viêm, sưng, sung huyết và xuất huyết

Niêm mạc dầy, có sán màu hồng đỏ trong túi 60 100 60 100 - - Các cơ quan như: gan, phổi, ít biến đổi 60 100 60 100 60 100

Bệnh tích vi thể

Trang 4

Kết quả ở Bảng 2 cho thấy:

Bệnh tích đại thể:

Vịt con và vịt hậu bị: Túi Fabricius viêm, sưng,

sung huyết và xuất huyết Niêm mạc dầy, có sán

màu hồng đỏ trong túi (chiếm tỉ lệ 100%) Các cơ

quan khác ít biến đổi

Vịt sinh sản: Buồng trứng viêm, viêm phúc mạc,

xoang bụng tích dịch màu đỏ (chiếm tỉ lệ 13,3%)

Ống dẫn trứng viêm, sưng, sung huyết, xuất

huyết Niêm mạc dầy, có nhiều dịch và cặn bã đặc,

màu trắng xám, có sán màu hồng đỏ (chiếm tỉ lệ

91,6% ở vịt hậu bị và 100% vịt sinh sản) Các cơ

quan khác ít biến đổi

Nghiên cứu này đồng nhất với báo cáo của

Lakela (1932), khi tiến hành gây nhiễm

metacercaria của sán lá sinh sản cho vịt và kiểm tra

bệnh tích đại thể, tác giả cho biết, túi Fabricius và

ống dẫn trứng có nhiều sán lá sinh sản ký sinh

Trong túi Fabricius, sán gây viêm và xuất huyết Ở

ống dẫn trứng, xuất hiện nhiều cục máu đông, viêm

và xuất huyết, có nhiều lòng trắng trứng, đặc, quánh

có chất vôi Niêm mạc ống dẫn trứng và túi

Fabricius, có nhiều điểm xuất huyết, viêm, tụ huyết

và hoại tử

Bệnh tích vi thể

Ống dẫn trứng: Hoại tử biểu mô và thâm nhiễm

tế bào viêm (chiếm tỷ lệ 100%)

Túi Fabricius: Thâm nhiễm tế bào viêm, thoái

hóa tế bào; nhiều vết cắn và có hình ảnh ấu trùng sán

trong túi Fabricius (chiếm tỷ lệ 100%)

Kết quả của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu

của Leok et al (2002), khi sán lá sinh sản ký sinh ở

túi Fabricius và ống dẫn trứng, kiểm tra bệnh tích vi thể tác giả nhận thấy, có nhiều Polip trên bề mặt biểu

mô, thoái hóa, bong lốc và hoại tử nhiều đám tế bào Khi kiểm tra vi thể ở biểu mô ống dẫn trứng của vịt

nhiễm sán lá sinh sản, Kigston (1978), Arundel et

al (1980), Soulsby (1982) chỉ ra, nhiều đám tế bào

biểu mô bị phá hủy hoàn toàn Muraleedharan and Pande (1968) đã quan sát thấy, có nhiều hồng cầu trong lòng mạch quản, nhiều đám tế bào viêm và hoại tử ở túi Fabricius Ngoài ra, các tác giả còn nhận thấy một số lượng lớn các tế bào máu trong ống tiêu hóa của nhiều sán lá sinh sản

3.3 Các phương pháp chẩn đoán bệnh sán

lá sinh sản ở vịt

Từ những kết quả nghiên cứu bên trên, để chẩn đoán bệnh sán lá sinh sản ở vịt cần dựa vào triệu chứng lâm sàng, kết hợp xét nghiệm phát hiện trứng sán trong phân hoặc mổ khám kiểm tra bệnh tích, phát hiện sán ký sinh trong túi Fabricius và ống dẫn trứng

3.3.1 Chẩn đoán lâm sàng

 Vịt có biểu hiện ăn ít, rụng lông, ủ rũ, gầy yếu, đi đứng không thăng bằng, mắt nhắm, hay nằm

và giảm bắt mồi

 Giai đoạn vịt con và vịt hậu bị: Vịt ốm yếu

và dễ mắc các bệnh khác Vịt chết chủ yếu ở giai đoạn này, tỷ lệ chết khá cao nhưng vịt chết lẻ tẻ và kéo dài (vịt chết 1 đến 2 con/ngày hoặc 2 đến 3 ngày

1 con, )

 Vịt đẻ: Tỷ lệ đẻ trứng giảm và chất lượng trứng kém (kích thước trứng không đồng đều Xuất hiện trứng vỏ mỏng, mềm, dễ vỡ hoặc trứng không

có vỏ vôi) Hậu môn có nhiều chất dịch, niêm mạc màu đỏ Một số con có hiện tượng lòi dom

Hình 1: Vịt bị bệnh sán lá sinh sản – Vịt đẻ trứng không có vỏ vôi, vỏ mềm

Trang 5

3.3.2 Xét nghiệm phát hiện trứng sán trong

phân

 Thu thập phân vịt vừa thải, cho vào ống

Falcon hoặc túi nilong

 Xét nghiệm phân theo phương pháp lắng cặn

(Benedek, 1943)

Kết quả xét nghiệm cho thấy, trứng sán có hình bầu dục, hai lớp vỏ, màu nâu, đầu nhỏ có nắp, phôi bào phân bố đều bên trong Kích thước trứng, chiều dài 24-33 μm, chiều rộng 12-16 µm

Hình 2: Trứng sán lá sinh sản quan sát dưới kính hiển vi (xét nghiệm phân)

1, 2: Độ phóng đại 100 lần; 3: Độ phóng đại 400 lần 3.3.3 Chẩn đoán bằng mổ khám

Mổ khám vịt chết hoặc những đàn vịt nghi ngờ

thì lựa chọn 2-3 con vịt có triệu chứng ốm yếu để

mổ khám xác định đúng căn nguyên gây bệnh

Trình tự mổ khám

 Dùng kéo hoặc dao mổ vịt, bộc lộ các cơ

quan nội tạng

 Kiểm tra bệnh tích đại thể các cơ quan:

Gan, phổi, ruột ít có bệnh tích đại thể

Xoang bụng tích nước, chứa nhiều dịch màu đỏ

xám

Đối với bệnh sán lá sinh sản, kiểm tra tập trung

ở 2 cơ quan là buồng trứng, ống dẫn trứng và túi Fabricius

Buồng trứng, ống dẫn trứng:

Buồng trứng bị viêm, hoặc viêm dính xoang bụng

Nhìn bên ngoài ống dẫn trứng hơi sưng Dùng dao hoặc kéo cắt dọc ống dẫn trứng quan sát thấy: Niêm mạc ống dẫn trứng dầy, viêm, xung huyết một phần hoặc toàn bộ ống dẫn trứng; Ống dẫn trứng có nhiều dịch và cặn bã đặc màu trắng xám Sán màu hồng đỏ bám bên trong ống dẫn trứng (Hình 3)

Trang 6

Túi Fabricius: Túi Fabricius thường phát triển

khi vịt đang còn nhỏ (vịt con hoặc vịt hậu bị), khi vịt

trưởng thành túi này dần dần bị tiêu giảm

Vị trí túi: Nằm ở trên ổ nhớp

Quan sát bên ngoài thấy túi sưng, một số trường hợp nhìn rõ sán bên trong túi Dùng dao cắt dọc túi quan sát bệnh tích thấy: Niêm mạc dầy, viêm và xuất huyết Sán màu hồng đỏ nằm trong túi (hình 4)

Hình 4: Bệnh tích đại thể ở túi Fabricius

1 và 2: Túi Fabricius sưng (2a: túi Fabricius, 2b: ổ nhớp) 3: Niêm mạc túi viêm, sán ký sinh trong túi; 4: Cắt túi Fabricius cho vào đĩa petri, nhìn thấy sán màu đỏ

Cấu tạo của sán lá sinh sản: Sán có hình quả

lê, dài phía trước và phình rộng phía sau Kích thước

từ 4,23-5,26 mm Sán có 2 giác bám: Giác miệng ở

đầu và giác bụng ở giữa thân sán Tinh hoàn tròn xếp

đối xứng 2 bên giữa thân sán Hầu nhỏ Thực quản

ngắn Túi sinh dục phía trước giác bụng Lỗ sinh sản đực và cái ở ngay bên phải giác miệng Buồng trứng phân thùy Tuyến noãn hoàng hình chùm ở 2 bên thân sán Tử cung hình thành những cuộn xung quan giác bụng (Hình 5) Tùy từng giai đoạn sán xâm nhập vào vịt mà hình thái cấu tạo khác nhau (Hình 6)

Hình 5: Hình thái cấu tạo của sán lá sinh sản (40x)

1: Giác miệng; 2: Hầu; 3: Thực quản; 4: Giác bụng; 5: Tuyến noãn hoàng; 6: Buồng trứng; 7: Manh tràng; 8: Tinh hoàn; 9: Tử cung

Trang 7

Hình 6: Các dạng hình thái sán lá sinh sản trên cơ thể vịt (100x)

Thời gian sau khi vịt nhiễm mầm bệnh: a: 1 ngày; b: 2 ngày; c: 5 ngày; d: 7 ngày; e: 9 ngày; f: 15 ngày (40X) (sán non); g: 19 ngày (40X) (sán trưởng thành)

Bệnh tích vi thể

Thu thập túi Fabricius, ống dẫn trứng của vịt

nhiễm sán, ngâm formol 10% để làm tiêu bản vi thể

Làm tiêu bản vi thể: Tẩm, đúc, cắt, nhuộm HE và

đọc kết quả trên kính hiển vi, chụp ảnh bệnh tích vi

thể

Bệnh tích vi thể bệnh sán lá sinh sản ở vịt: Hoại

tử biểu mô ở ống dẫn trứng và thâm nhiễm tế bào viêm Thâm nhiễm tế bào viêm, thoái hóa tế bào; nhiều Polip (vết cắn) và hình ảnh ấu trùng sán trong túi Fabricius

Hình 7: Bệnh tích vi thể vịt nhiễm sán lá sinh sản ở túi Fabricius và ống dẫn trứng

1: Sự thoái hóa và bông lốc tế bào biểu mô ống dẫn trứng (200X); 2: Hồng cầu tràn ngập các mạch quản ở túi

Fabricius (100X); 3: Thâm nhiễm tế bào viêm, tế bào thoái hóa không bào (200X); 4: Vết cắn của sán trên bề mặt biểu

mô, tạo ra Polyp ở túi Fabricius (100X); 5: Ấu trùng sán ký sinh trong túi Fabricius (100X)

4 KẾT LUẬN

Vịt được xác định bị bệnh sán lá sinh sản khi có

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Arundel, J.H., Kingston, J.L and Kerr, P.J., 1980

Trang 8

Chauhan, B., 1940 Two new species of avian

trematodes, In: Proceedings of the Indian

Academy of Sciences-Section B, 75-83

Culling, C.F.A., 2013 Handbook of histopathological

and histochemical techniques: including museum

techniques Butterworth-Heinemann and Co

Kigston, N., 1978 Trematodes In: Diseases of

777–781

Lakela, O., 1932 Chickens definitive hosts to species

of Prosthogonimus Poult Sci, 11: 181-184

Leok, C.S., Inoue, I., Haritani, M., Tanimura, N and

Okada, K., 2002 Morphology of the oviduct

fluke, Prosthogonimus ovatus, isolated from

Indonesian native chickens and histopathological

observation of the infected chickens J Vet

Med Sci 64: 1129-1131

Macy, R.W., 1934 Studies on the taxonomy,

morphology, and biology of Prosthogonimus

macrorchis Macy, a common oviduct fluke of

domestic fowls in North America Technical

Bulletin Minnesota Agricultural Experiment

Station 98: 71-75

Macy, R.W., 1965 On the life cycle of the trematode

Prosthogonimus cuneatus (Rudolphi, 1809)

(Plagiorchidae) in Egypt Trans Am Microsc

Soc, 84: 577–80

Muraleedharan, K and Pande, B.P., 1968

Experimental infections with a prosthogonimid

metacercaria in chicks fed deficient mashes

Indian Veterinary Journal, 45(8): 641-649

Naem, S and Golpayegani, M.H., 2003

Prosthogonimus macrorchis in the albumin of

the egg from Sari Iran Iran J of Vet Res, Uni of

Shiraz 4 (2): 160-2

Nguyễn Đức Tân, Nguyễn Văn Thoại, Huỳnh Vũ Vỹ

và Lê Hứa Ngọc Lực, 2018a Nghiên cứu vòng

đời sán lá sinh sản (Prosthogonimus sp.) trên vịt

tại Việt Nam Tạp chí Phòng chống bệnh Sốt rét

và các bệnh Ký sinh trùng 104 (2): 79-86

Nguyễn Đức Tân, Nguyễn Văn Thoại, Huỳnh Vũ Vỹ

và Lê Hứa Ngọc Lực, 2018b Tình hình nhiễm sán

lá sinh sản (Prosthogonimus sp.) trên vịt tại một số

tỉnh Nam Trung Bộ Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y 25(3): 64-68

Nguyễn Hữu Hưng, 2007 Giun sán ký sinh trên vịt tại Đồng Bằng Sông Cửu Long và thí nghiệm thuốc phòng trị một số loài giun sán chủ yếu Luận án tiến sĩ Nông nghiệp Đại Học Nông Lâm TPHCM

Nguyễn Thị Lê, 1971 Giun sán ký sinh ở vịt vùng Thanh Trì, Hà Nội Tạp chí Khoa học và Kỹ thuật Nông nghiệp 2: 127-129

Nguyễn Thị Lê, Nguyễn Thị Kỳ, Phạm Văn Lực, Hà Duy Ngọ và Nguyễn Thị Minh, 1996 Giun sán

ký sinh ở gia cầm Việt Nam Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội, 111-115

Nguyễn Xuân Dương, 2008 Nghiên cứu tình trạng nhiễm giun sán của vịt ở Thái Bình, Nam Định, Hải Dương và đề xuất biện pháp phòng trị Luận

án tiến sĩ Nông nghiệp Viện Thú y

Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân, 2001 Bệnh ký sinh trùng ở gia cầm và biện pháp phòng trị Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội 41: 16-22 Phan Thế Việt, Nguyễn Thị Kỳ và Nguyễn Thị Lê,

1977 Giun sán ký sinh ở động vật Việt Nam Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, 9-14 Skrjabin, K., 1928 Methods of Complete Helminthological Dissections of Vertebrate Animals Including Humans Moscow State University, Moscow Publishing House of 1st Moscow State University, Moscow, 45 pp Soulsby, E.J.L., 1982 Helminths, Arthrofoods and Protozoa of domesticaled Animals London:

Taylor, M.A., Coop, R.L and Wall, R.L., 2007

Parasites of poultry and gamebirds In:

Publishing, 459-557

Ngày đăng: 15/01/2021, 06:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w