Nguyễn Thị Trung - Nghiên cứu khả năng nhận biết đặc hiệu các kháng nguyên của Listeria monocytogenes của một số kháng thể đơn dòng nhằm sử dụng trong tạo que thử nhanh 215... Nguyễn T[r]
Trang 1Tập 164, số 04, 2017
Trang 2T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ
CHUYÊN SAN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP - LÂM NGHIỆP - Y DƯỢC
Nguyễn Thế Hùng, Nguyễn Thị Lân - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại cây trồng xen đến sinh trưởng và
năng suất của giống dong riềng DR3 tại Trường Đại học Nông Lâm – ĐH Thái Nguyên 3
Nguyễn Viết Hưng, Lê Thị Kiều Oanh, Hoàng Kim Diệu, Nguyễn Thị Trang - Nghiên cứu khả năng sinh
trưởng, phát triển của một số giống bí đỏ tại Thái Nguyên năm 2015 9
Lê Thị Kiều Oanh, Trần Văn Điền, Trần Đình Hà, Trần Trung Kiên - Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát
triển của một số giống đậu xanh trong vụ Hè Thu năm 2015 tại Thái Nguyên 15
Hà Đình Nghiêm, Nguyễn Thanh Hải, Đỗ Thị Lan, Nguyễn Thị Huệ - Quản lý cây trinh nữ móc (Mimosa
diplotricha) bằng mô hình dự đoán phân bố, mức độ xâm lấn và sử dụng sinh khối để trồng nấm 21
Nguyễn Thị Lân, Nguyễn Thế Hùng - So sánh, lựa chọn giống lúa năng suất cao, chất lượng tốt cho vụ mùa tại
Nguyễn Thị Tuyên, Nguyễn Việt Hưng - Phương pháp phòng trừ mối hại gỗ trong các công trình xây dựng
Nguyễn Hải Hòa, Trần Thị Phương Thúy, Dương Trung Hiếu, Nguyễn Thị Thu Hiền - Sử dụng ảnh SPOT 6
xây dựng bản đồ sinh khối và trữ lượng các bon rừng trồng thông thuần loài tại xã Nguyên Bình, huyện Tĩnh Gia,
Nguyễn Việt Hưng, Nguyễn Thị Tuyên - Nghiên cứu sử dụng chế phẩm sinh học từ lá xoan trong bảo quản gỗ 47
Đặng Minh Tơn, Đặng Văn Minh, Nguyễn Văn Toàn - Các loại đất chính, phân bố và tính chất trên địa bàn
Nông Thị Huyền Chanh, Hoàng Hữu Chiến - Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động khai thác cát sỏi đến biến
động sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã Hợp Thịnh, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang 61
Triệu Mùi Chản, Chu Văn Trung , Đỗ Sơn Tùng, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Thảo Yến, Bùi Thị Hường,
Hoàng Đông Quang - Xây dựng hệ thống lập quy hoạch kế hoạch sử dụng đất bán tự động 67
Nguyễn Văn Lợi - Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự biến đổi chất lượng của quả vải thiều sau thu hoạch 75
Phạm Thị Phương, Nguyễn Thị Đoàn, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Thị Nhung, Lưu Hồng Sơn - Nghiên cứu hiệu
quả bảo quản của compozit của chitosan khối lương phân tử thấp với axit oleic ứng dụng trong bảo quản đào Pháp 81
Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Ngân, Nguyễn Văn Quang, Phan Thị Hồng Phúc, Lê Minh, Phạm Diệu
Thùy, Trần Nhật Thắng, Dương Thị Hồng Duyên - Xác định serotype, độc lực và tính kháng kháng sinh của 3
loại vi khuẩn gây viêm phổi ở lợn tại tỉnh Bắc Ninh 87
Nguyễn Thị Thúy Mỵ, Trần Thanh Vân, Đỗ Thị Kiều Duyên - Ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm Mfeed+
đến sức sản xuất thịt của gà F 1 (ri x Lương Phượng) nuôi nhốt tại Thái Nguyên 97
Từ Trung Kiên, Trần Thị Hoan, Nguyễn Văn Sơn- Ảnh hưởng của bổ sung dầu hạt lanh vào khẩu phần đến
Trương Hữu Dũng, Nguyễn Thị Hằng, Phùng Đức Hoàn - Đánh giá khả năng sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn
của 3 tổ hợp lợn lai thương phẩm (DP x CA); (PD x CA) VÀ (LP x CA) giai đoạn sơ sinh đến 56 ngày tuổi 109
Sử Thanh Long, Nguyễn Công Toản, Trần Văn Vũ - Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng tới thời gian mang
thai của bò sữa nuôi tại xí nghiệp bò Phù Đổng, Hà Nội 115 Trần Thị Hoan, Từ Trung Kiên, Nguyễn Thị Hiền - Nghiên cứu ảnh hưởng của việc thay thế thức ăn viên
hỗn hợp bằng cỏ Ghinê (panicum maximum) trong khẩu phần đến hiệu quả sử dụng thức ăn và năng suất của
Hoàng Đình Hòa, Nguyễn Văn Lợi - Xác định các cấu tử hóa học và hoạt tính sinh học của tinh dầu cây kinh
Journal of Science and Technology
164 (04)
N¨m 2017
Trang 3Vũ Khánh Linh, Nguyễn Thị Hà, Nguyễn Thị Quỳnh Lâm, Lương Hùng Tiến - Phân lập và tuyển chọn một
số chủng vi sinh vật phân giải cellulose hướng tới tạo ra chế phẩm xử lý phế phụ phẩm nông nghiệp 133
Vũ Hoài Nam, Dương Văn Cường - Tăng cường sinh tổng hợp β-carotene trong Escherichia coli tái tổ hợp được
Nguyễn Thị Thu Ngà, Sỹ Danh Thường, Cao Thị Phương Thảo - Sử dụng mã vạch DNA để định loại loài Màn
Trịnh Đình Khá, Lý A Hù, Đặng Duy Phong, Nguyễn Hữu Quyền, Hoàng Thị Thiên Hương - Tổng hợp nano
bạc bằng dịch chiết lá đào Prunus persica và hoạt tính kháng khuẩn của nó 153
Nguyễn Thị Thu Hà, Chu Thị Na, Cao Thị Phương Thảo - Nghiên cứu đặc điểm hình thái và giải phẫu một số
loài cây cảnh hạn sinh thuộc họ thuốc bỏng (Crassulaceae) 157
Phạm Thị Mỹ, Hoàng Thị Mai, Vi Đại Lâm, Dương Mạnh Cường - Thử nghiệm điều kiện ảnh hưởng đến sinh trưởng của dòng vi khuẩn phân giải nitơ phân lập từ một số mẫu nước tại Trường Đại học Nông Lâm – ĐH Thái Nguyên 165 Hoàng Thị Lan Anh, Dương Thị Minh Hòa - Nghiên cứu ứng dụng mô hình lọc tái tuần hoàn nước thải khu ký
túc xá Trường Đại học Nông Lâm bằng sét Kabenlis 3 171
Dương Hữu Lộc, Nguyễn Xuân Vũ, Vũ Thị Thu Thủy, Nguyễn Thị Tâm - Đặc điểm nông sinh học và mối
quan hệ di truyền của một số giống quýt (Citrus Recutilata Blanco) tại khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam 177
Đinh Thị Huyền Chuyên, Sỹ Danh Thường, Trịnh Đình Khá, NguyễnThị Yến - Nghiên cứu đặc điểm hình
thái và hoạt tính kháng khuẩn của loài màn màn vàng thu thập ở tỉnh Thái Nguyên 183
La Việt Hồng, Trần Hồng Thu, Phạm Thị Quy, Đinh Phương Thảo, Nguyễn Thị Thanh, Phạm Ngọc Khánh
- Xác định chỉ thị phân tử và tái sinh chồi in vitro của loài Hoàng tinh hoa đỏ (Polygonatum kingianum Coll ex
Nguyễn Hải Linh, Ma Diệu Quỳnh, Ma Thị Thu Lệ, Bùi Thị Thu Thủy, Vũ Thị Minh Hồng, Nguyễn Thị Hồng
Hạnh - Cao cây sương sáo (Mesona chinensis Benth.) có tác dụng hỗ trợ điều trị béo phì trên chuột nhắt trắng 195
Lê Phong Thu, Nguyễn Thu Thủy, Tạ Văn Tờ - Tổng quan đáp ứng mô bệnh học ung thư vú sau điều trị hóa
Hà Trọng Quỳnh - Lượng giá thiệt hại sức khỏe cộng đồng do ô nhiễm không khí tại phường Tân Long, thành
Nguyễn Thị Trung - Nghiên cứu khả năng nhận biết đặc hiệu các kháng nguyên của Listeria monocytogenes của
một số kháng thể đơn dòng nhằm sử dụng trong tạo que thử nhanh 215
Trang 4Nguyễn Thị Trung Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 164(04): 215 - 220
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG NHẬN BIẾT ĐẶC HIỆU CÁC KHÁNG NGUYÊN
CỦA Listeria monocytogenes CỦA MỘT SỐ KHÁNG THỂ ĐƠN DÒNG
NHẰM SỬ DỤNG TRONG TẠO QUE THỬ NHANH
Viện Công nghệ sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
TÓM TẮT
Listeria monocytogenes là vi khuẩn gây bệnh ngộ độc thực phẩm Vi khuẩn này có thể phát hiện
được bằng nuôi cấy trong môi trường chọn lọc, phương pháp sinh học phân tử hoặc phương pháp miễn dịch học Công trình này công bố kết quả sàng lọc kháng thể để gắn lên màng trong phương
biết được các kháng nguyên của L monocytogenes gồm protein tổng số, protein tan và protein
protein màng ngoài của L monocytogenes mà không nhận biết protein màng ngoài của E coli
hoặc Salmonella được sử dụng làm kháng thể phát hiện Cặp kháng thể này đã được sử dụng tạo que nhúng, kết quả là que nhúng đã hoạt động được Kết quả ban đầu này hứa hẹn sẽ mở ra việc
sản xuất được các que thử nhanh để phát hiện L monocytogenes trong thực phẩm.
Từ khóa: Listeria monocytogenese, kháng thể đơn dòng, protein màng ngoài, tế bào nguyên vẹn,
ngộ độc thực phẩm
Mặc dù L monocytogenes không phải là một
bệnh phổ biến trong cộng đồng nhưng nó là
một tác nhân gây bệnh quan trọng ở những
bệnh nhân mang thai, trẻ sơ sinh, người già và
những người bị suy giảm miễn dịch Đó là
một loại vi sinh vật gây bệnh ngộ độc thực
phẩm điển hình Listeria còn là một tác nhân
Có thể phân lập được Listeria trong đất, nước
monocytogenes có thể phát hiện được bằng
phương pháp nuôi cấy truyền thống, phương
pháp miễn dịch học, cảm biến sinh học hoặc
các phương pháp sinh học phân tử [4], [11]
Các phương pháp nuôi cấy truyền thống là
phương pháp đáng tin cậy, chính xác và vẫn
được sử dụng mặc dù chúng tiêu tốn thời gian
và công sức [4] Các phương pháp dựa vào
thông tin di truyền như PCR, giải trình tự gen
hoặc lai DNA cần khoảng 48 giờ để đọc kết
quả [11] Các phương pháp miễn dịch học
như ELISA, EFLA cần khoảng 2 giờ để có
kết quả, tuy nhanh hơn phương pháp nuôi cấy
truyền thống nhưng độ tin cậy của chúng còn
phụ thuộc vào các kháng nguyên và các
kháng thể được sử dụng [13]
*Tel: 0936 270978; Email: trungnguyen@vast.vn
Kháng nguyên của L monocytogenes khá đơn
giản, các kháng thể đặc hiệu của chúng đã được nghiên cứu và chúng không phản ứng chéo với các kháng thể của các loài khác Do vậy, chúng ta có thể sử dụng kháng thể hoặc kháng nguyên để tạo các bộ sinh phẩm chẩn
đoán L moneocytognes Hiện nay, có khá nhiều kháng thể đơn dòng kháng L
monocytogenes đã được sản xuất Kháng thể
đơn dòng kháng protein p60 của L
monocytogenes (dòng P6007) đã được sản
xuất bởi công ty Millipore Kháng thể này
nhận diện protein màng ngoài của L
monocytogenes [7] Công ty Meridian sản
xuất một số loại kháng thể đơn dòng kháng L
monocytogenes như C86020M, C86030M,
C86713M, C86503M Các kháng thể này đặc hiệu với protein màng ngoài hoặc là tế bào còn nguyên vẹn Hoặc kháng thể đơn dòng C86032M, C86909M chỉ nhận biết protein
màng ngoài của L monocytogenes [6] Công
ty USBio sản xuất kháng thể đơn dòng
L2650-02P kháng protein P60 của L
monocytogenes [8]
Sinh phẩm phát hiện nhanh dựa trên cơ sở phản ứng kháng nguyên-kháng thể trên màng
Trang 5Nguyễn Thị Trung Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 164(04): 215 - 220
216
mỏng còn được gọi là sắc ký miễn dịch có thể
là dạng thử nhanh hoặc là dạng que nhúng
đơn giản Chúng được phát triển dựa trên
nguyên lý của phản ứng kết dính đặc hiệu của
kháng nguyên - kháng thể trên một màng
nitrocellulose [13] Để sản xuất một que thử
nhanh chẩn đoán L monocytogenes chúng ta
cần phải có hai loại kháng thể đơn dòng cùng
nhận biết L monocytogenes nhưng không
nhận biết nhau Một kháng thể gọi là kháng
thể bẫy bắt được cố định tại của sổ nhận mẫu
Một kháng thể gọi là kháng thể phát hiện
được cố định trên vạch kiểm tra Việc lựa
chọn được hai kháng thể này là một việc làm
tốn khá nhiều thời gian Trong nghiên cứu
này chúng tôi trình bày các kết quả nghiên
cứu về việc tìm kiếm cặp kháng thể đơn
dòng thương mại phù hợp để tạo que thử
nhanh phát hiện L monocytogenes Kết quả
là cặp kháng thể C86020M, C86030M đã
được lựa chọn để tạo que thử nhanh phát
hiện L monocytogenes Que thử tạo ra đã
được thử nghiệm đối với protein màng ngoài
của L monocytogenes cho kết quả tốt Cả hai
vạch đối chứng và vạch kiểm tra đã xuất
hiện băng màu chứng tỏ chúng đảm bảo
được tính kháng thể trong thí nghiệm tạo que
thử thử nghiệm
VẬT LIỆU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Vật liệu và môi trường nuôi cấy
Kháng thể: Kháng thể đơn dòng kháng L
monocytogenes (IgM) sản xuất từ chuột -
C86020M; kháng thể đơn dòng kháng L
monocytogenes (IgG1) sản xuất từ chuột -
C86030M (Meridian Life Science, Mỹ); kháng
thể kháng chuột (IgM) cộng hợp alkaline
phosphatase A9688-1ML (Sigma, Mỹ)
Chủng vi sinh vật: E coli ATTC11105, S
enteritidis ATTC13076 chủng thử nghiệm lưu
trữ tại Viện Công nghệ Sinh học; L
monocytogenes do nhóm nghiên cứu của
GS.TS Nguyễn Thùy Châu, Viện Bảo quản
sau thu hoạch phân lập tại Việt Nam cung cấp
Các vật liệu khác: Bộ kít hiện màu dùng cho
alkaline phosphatase - 170-6432, màng nitrocellulose (Bio-Rad, Mỹ)
Môi trường nuôi cấy: LB (5,0 g cao nấm men;
5,0g prptone, 10,0 g NaCl, nước cất đủ 1000 ml); LBA: 1000 ml môi trường LB bổ sung 15
g bột thạch; BHIB - 299070 (BD): 7,7 g Calf Brains, 9,8 g Beef Heart, 10,0g peptone, 5,0g NaCl, 2,0 g Dextrose, 2,5 g Na2HPO4, nước cất đủ 1000 ml; BHIA - 241830 (BD): thành phần tương tự môi trường BHIB, bổ sung 15
g bột thạch cho mỗi 1000 ml; tất cả các môi
quản ở 4oC và dùng trong một tuần
Phương pháp nghiên cứu
Nuôi cấy vi khuẩn
Nuôi cấy vi khuẩn trong môi trường lỏng:
Chuyển một khuẩn lạc từ đĩa môi trường thạch vào môi trường lỏng phù hợp, lắc 200 vòng/phút từ 12-16 giờ ở nhiệt độ thích hợp
Tách các loại protein
Phương pháp tách các loại protein được thực hiện theo phương pháp của Quan và đồng tác giả năm 2013 có cải tiến [10]
Chuẩn bị mẫu vi sinh: Các vi khuẩn thí
nghiệm được nuôi cấy trong môi trường lỏng thích hợp qua đêm ở nhiệt độ thích hợp từng loài Ly tâm 6000 vòng/phút trong 7 phút để thu tế bào Tế bào được rửa 3 lần bằng dung dịch 50 mM Tris pH7,5 Bảo quản tế bào ở
4oC đến khi sử dụng
Phá vỡ tế bào bằng siêu âm: Hòa tế bào thu từ
50 ml dịch nuôi cấy vào 5 ml dung dịch 50
mM Tris-HCl pH7,5, siêu âm 3 phút với chu
kì 10 giây hoạt động, 10 giây nghỉ
Thu protein tổng số: Dịch tế bào đã siêu âm
được ly tâm 2500 vòng/phút trong 10 phút Phần dịch nổi chứa protein tổng số của tế bào được thu lại
Thu protein tan: Dịch protein tổng số được ly
tâm 13000 vòng/phút trong 60 phút Phần dịch nổi chứa các protein tan của tế bào được thu lại
Trang 6Nguyễn Thị Trung Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 164(04): 215 - 220
Thu protein màng ngoài: Phần cặn thu được
sau khi phân tách protein tan được rửa nhiều
lần bằng dung dịch 50 mM Tris-HCl pH 7,5
Cặn được hòa vào dung dịch 0,1% saccosyl
trong 50 mM Tris-HCl pH7,5, lắc 60 phút 200
vòng/phút trong 60 phút, loại bỏ phần dịch
nổi chứa các protein màng trong, thu phần
cặn chứa protein màng ngoài
Thí nghiệm dot-ELISA
Thí nghiệm dot-ELISA được tiến hành theo
mô tả của Donald và đồng tác giả năm 2000
có cải tiến [2]:
Gắn protein lên màng: 5 l dung dịch protein
được nhỏ trực tiếp lên một vị trí trên màng
nitrocellulose 60 phút sau, chuyển màng sang
dung dịch 5% sữa không béo trong dung dịch
TBS (1000 ml: 25 ml 1 M Tris.HCl pH 7,5,
10 ml 5 M NaCl), lắc ở 4oC qua đêm Rửa
màng bằng dung dịch TBS, 10 phút; sau đó
rửa bằng dung dịch TTBS (1000 ml TBS +
250 l Tween 20), 5 phút; lặp lại 3 lần
Nhuộm kháng thể: Nhuộm màng trong dung
dịch kháng thể kháng Listeria sản xuất từ tế
bào chuột, độ pha loãng thích hợp trong dung
dịch TBS ở nhiệt độ phòng trong 3 giờ Rửa
màng bằng TBS và TTBS như mô tả ở trên
Sau đó, màng được nhuộm tiếp với dung dịch
kháng thể kháng chuột cộng hợp alkaline
phosphatase trong 3 giờ ở 37oC Rửa màng
bằng TBS và TTBS như trên
Hiện màu: Màng được nhuộm trong dung
dịch hiện màu đến khi quan sát thấy các chấm
màu hiện lên rõ ràng, dừng phản ứng bằng
cách rửa màng nhiều lần với nước, quan sát
và chụp ảnh
Điện di protein trên SDS-PAGE
Điện di được tiến hành theo phương pháp của
Laemmli [9]
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Tách các loại protein
Thực hiện tách chiết các loại protein theo
phương pháp của Quan và đồng tác giả [10]
như chúng tôi mô tả chi tiết trong phần phương pháp Kết quả ở Hình 1 cho thấy đã thu được các loại protein tổng số, protein tan, protein màng ngoài của vi khuẩn theo quy trình mô tả ở phần phương pháp Các protein màng tách được rất nhiều đối với các vi khuẩn gram âm (đường chạy 4-9) Nhưng
protein màng thu được ở vi khuẩn L
monocytogenes khá ít, đặc biệt là protein
màng ngoài Điều này hoàn toàn phù hợp với các công bố trước đây về sự khác biệt của lớp
vỏ tế bào giữa vi khuẩn gram âm và vi khuẩn gram dương Các vi khuẩn gram âm có lớp vỏ
tế bào dày, bao quanh là một lớp màng ngoài, trong khi vi khuẩn gram dương có lớp vỏ mỏng, không có lớp màng ngoài bao quanh
[1] Vì thế protein màng ngoài tách chiết từ L
monocytogenes rất ít (đường chạy 3)
Hình 1 Phân tích các phân đoạn protein tách từ
vi khuẩn bằng điện di trên SDS-PAGE
Đường chạy 1-3: protein tổng số, protein tan và
protein màng ngoài của L monocytogenes, tương
ứng; 4-6: protein tổng số, protein tan và protein
màng ngoài của S enteritidis ATCC13076, tương
ứng; 7-9: protein tổng số, protein tan và protein
màng ngoài của E coli ATCC11105, tương ứng;
M: thang protein chuẩn
Thí nghiệm dot ELISA
Kháng thể C86030M nhận biết tất cả các loại
kháng nguyên của L monocytogenes đem
kiểm tra gồm protein tổng số, protein tan và protein màng ngoài (Hình 2) Kháng thể này không nhận biết protein màng ngoài của các
vi khuẩn Gram âm cùng gây bệnh ngộ độc
1 2 3 M 4 5 6 M 7 8 9
Trang 7Nguyễn Thị Trung Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 164(04): 215 - 220
218
thực phẩm như S enteritidis ATCC13076, E
coli ATCC11105 Điều này khá phù hợp với
khuyến cáo của nhà sản xuất rằng kháng thể
C86030M nhận biết phân đoạn protein màng
ngoài của L monocytogenes hoặc tế bào L
monocytogenes nguyên vẹn Kháng thể này
không phản ứng chéo với E coli, Salmonella
[5] Qua kết quả thí nghiệm này, kháng thể
C86030M được chọn làm kháng thể bẫy bắt
khi gắn lên màng que nhúng phát hiện L
monocytogenes Bằng cách này tất cả các
kháng nguyên của L monocytogenes được bắt
lại khi di chuyển qua vị trí gắn kháng thể
1 2 3
Protein tan
Protein màng ngoài
Protein tổng số
Hình 2 Sự nhận biết của kháng thể C86030M
đối với các protein bằng dot ELISA
Đường chạy 1: protein của E coli ATCC1115; 3:
protein của S enteritidis ATCC13076; 3: protein
của L monocytogenes
1 2 3
Protein tan
Protein màng ngoài Protein tổng số
Hình 3 Sự nhận biết của kháng thể C86020M đối
với các loại protein được kiểm tra bằng dot ELISA
Đường chạy 1: các loại protein của L
monocytogenes; 2: các loại protein của E coli
ATCC1115; 3: các loại protein của S enteritidis
ATCC13076
Kết quả ở Hình 3 cho thấy kháng thể C86020M
chỉ nhận biết protein màng ngoài của L
monocytogenes Nhưng kháng thể này nhận biết
protein tan và protein tổng số của tất cả các mẫu
kiểm tra gồm E coli và Salmonella Nếu L
monocytogenes đem kiểm tra tồn tại ở trạng thái
nguyên vẹn hoặc chỉ sử dụng protein màng ngoài cho các thử nghiệm miễn dịch thì sẽ thu được kết quả đặc hiệu Kháng thể C86020M được dùng làm kháng thể phát hiện Kháng thể này được gắn với hạt nano vàng để làm chất chỉ thị màu trên que thử
Thử nghiệm que nhúng dùng kháng thể bẫy bắt C86030M và kháng thể phát hiện C86020M
Quy trình tạo que nhúng không được trình bày chi tiết trong công trình này Trong đó, kháng thể C86030M sử dụng làm kháng thể bẫy bắt được gắn tại vạch kiểm tra; kháng thể C86020M cộng hợp hạt nano vàng sử dụng làm kháng thể phát hiện được gắn tại vị trí nhận mẫu; kháng thể kháng chuột được gắn tại vạch đối chứng
Hình 4 Que nhúng gắn cặp kháng thể C86030M
và C86020M thử nghiệm với protein màng ngoài
của L monocytogenes
Kết quả nhận được cho thấy có 2 vạch mầu xuất hiện tại cửa sổ đọc kết quả Điều này chứng tỏ kháng thể C86020M (IgM) cộng hợp hạt nano vàng đã kết hợp được với kháng
nguyên màng ngoài của L monocytogenes và
phức hợp này đã di chuyển đến vị trí gắn kháng thể C86030M (IgG1) Tại đây kháng thể C86030M (IgG1) liên kết với protein
màng ngoài của L monocytogenes trong phức
C86020M (IgM)-kháng nguyên và bị giữ lại tạo thành băng màu Những kháng thể C86020M (IgM) không gắn kháng nguyên hoặc phức C86020M (IgM)-kháng nguyên không bị giữ lại ở vị trí kiểm tra sẽ tiếp tục di
Vạch kiểm tra Vạch đối chứng
Vùng nhận mẫu
Trang 8Nguyễn Thị Trung Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 164(04): 215 - 220
chuyển đến vị trí gắn kháng thể kháng chuột
(IgM) Tại đây kháng thể C86020M (IgM) sẽ
liên kết với kháng thể kháng chuột (IgM) và
tạo thành băng màu Bước đầu cho thấy que
nhúng hoạt động tốt đối với kháng nguyên
màng ngoài của L monocytogenes Kết quả
ban đầu này cần tiếp tục được kiểm chứng,
đánh giá độ nhạy, độ đặc hiệu, khả năng phát
hiện được L monocytogenes ở dạng tế bào,
trong hỗn hợp mẫu và trong mẫu thực phẩm
KẾT LUẬN
Qua các kết quả đạt được chúng tôi rút ra kết
luận rằng có thể sử dụng cặp kháng thể
C86030M, C86020M để tạo que nhúng phát
hiện L monocytogenes Trong đó, kháng thể
C86030M được sử dụng làm kháng thể bẫy
bắt và kháng thể C86020M được sử dụng làm
kháng thể phát hiện Cặp kháng thể này đã
được sử dụng để tạo que nhúng và phát hiện
được protein màng ngoài của vi khuẩn L
monocytogenes
Lời cảm ơn: Nghiên cứu được thực hiện tại
Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ gen,
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt
Nam và sự trợ giúp từ Học viện Quân Y
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Brown L., Julie M W., Prados-Rosales R.,
Casadevall A (2015), “Through the wall:
extracellular vesicles in Gram-positive bacteria,
mycobacteria and fungi”, Nature Reviews
Microbiology, 13, pp 620-630
2 Donald G G., Christopher J F., Goodhart S
A (2000), “The dot blot ELISA: A rapid and
simple experiment to demonstrate
antibody-antigen interactions”, The American Biology
Teacher, 62 (8), pp 583-587
3 Gasanov U., Denise H., Philip M H (2005),
“Methods for the isolation and identification of
Listeria spp and Listeria monocytogenes: a
review”, FEMS Microbiology Reviews, 29, pp
851-875
4 Guillet C., Join-Lambert O., Le Monnier A., Leclercq A., Mechai F., Mamzer-Bruneel M B., Bielecka M K., Scortti M., Disson O., Berche P., Vazquez-Boland J., Lortholary O., Lecuit M
(2010), “Human listeriosis caused by Listeria
ivanovii”, Emerging Infectious Diseases 16(1), pp
136-138
5 Hoorfar J., Cook N (2003), “Critical aspects in
standardization of PCR” In: Sachse, K and Frey,
J (Eds.) Methods in Molecular Biology: PCR detection of microbial pathogens, Humana Press,
Totowa, USA, pp 51-64
6 http://www.meridianlifescience.com
7 http://www.milipore.com
8 http://www.usbio.net
9 Laemmli U K (1970), “Cleavage of structural proteins during the assembly of the head of
bacteriophage T4”, Nature 227, pp 680-685
10 Quan S., Annie H., Jean-François C., James C
A B (2013), “Isolation of bacteria envelope proteins Anne H Delcour (ed.), Bacterial cell
surfaces: Methods and Protocols”, Methods in
Molecular Biology, 966, pp 359-366
11 Rodriguez-Lazaro D., Hernandez M (2006),
“Molecular methodology in food microbiology diagnostics: trends and current challenges”,
IUFoST World Congress 13 th World Congress of Food Science and Technology, pp 1085-1099
12 Salimnia H., Patel D., Lephart P R., Fairfax
M R., Chandrasekar P H (2010), “Listeria grayi:
vancomycin-resistant, gram-positive rod causing bacteremia in a stem cell transplant recipient”,
Transplant Infectious Disease, 12(6), pp 526-528
13 Singer J M., Plotz C M (1956), “The latex fixation test I Application to the serologic
diagnosis of rheumatoid arthritis”, American
Journal of Medicine, 21, pp 888-892
Trang 9Nguyễn Thị Trung Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 164(04): 215 - 220
220
SUMMARY
STUDY ON THE ABILITY OF SPECIFICITY RECOGNIZING LISTERIA
MONOCYTOGENES’ ANTIGENS OF SOME MONOCLONAL ANTIBODIES
FOR USE IN PRODUCING THE QUIKSTICK TEST
Institute of Biotechnology, Vietnamese Academy of Science and Technology
detected by culture in a selective medium, molecular biology or immunology methods In this
study, the results of screening antibodies for use attached to the membrane of immune
chromatography is published Accordingly, the monoclonal antibody named C86030M which is
recognized antigens of L monocytogenes including total, soluble and outer membrane proteins,
are severed as a capture antibody And the monoclonal antibodies named C86020M, which is only
recognized the outer protein membrane of L monocytogenes without E coli or Salmonella is used
as a detection antibody Two monoclonal antibodies were used to create dipsticks and the dipsticks
is already well-done This initial results promise to open up the production of the test strips to
detect L monocytogenes in food
Keywords: Listeria monocytogenese, monoclonal antibody, outer membrane protein, intact cell,
food-poisoning
Ngày nhận bài: 06/01/2017; Ngày phản biện: 09/02/2017; Ngày duyệt đăng: 27/4/2017
*Tel: 0936 270978; Email: trungnguyen@vast.vn