Sử Thanh Long, Nguyễn Công Toản, Trần Văn Vũ - Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng tới thời gian mang.. thai của bò sữa nuôi tại xí nghiệp bò Phù Đổng, Hà Nội 115.[r]
Trang 1Tập 164, số 04, 2017
Trang 2T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ
CHUYÊN SAN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP - LÂM NGHIỆP - Y DƯỢC
Nguyễn Thế Hùng, Nguyễn Thị Lân - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại cây trồng xen đến sinh trưởng và
năng suất của giống dong riềng DR3 tại Trường Đại học Nông Lâm – ĐH Thái Nguyên 3
Nguyễn Viết Hưng, Lê Thị Kiều Oanh, Hoàng Kim Diệu, Nguyễn Thị Trang - Nghiên cứu khả năng sinh
trưởng, phát triển của một số giống bí đỏ tại Thái Nguyên năm 2015 9
Lê Thị Kiều Oanh, Trần Văn Điền, Trần Đình Hà, Trần Trung Kiên - Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát
triển của một số giống đậu xanh trong vụ Hè Thu năm 2015 tại Thái Nguyên 15
Hà Đình Nghiêm, Nguyễn Thanh Hải, Đỗ Thị Lan, Nguyễn Thị Huệ - Quản lý cây trinh nữ móc (Mimosa
diplotricha) bằng mô hình dự đoán phân bố, mức độ xâm lấn và sử dụng sinh khối để trồng nấm 21
Nguyễn Thị Lân, Nguyễn Thế Hùng - So sánh, lựa chọn giống lúa năng suất cao, chất lượng tốt cho vụ mùa tại
Nguyễn Thị Tuyên, Nguyễn Việt Hưng - Phương pháp phòng trừ mối hại gỗ trong các công trình xây dựng
Nguyễn Hải Hòa, Trần Thị Phương Thúy, Dương Trung Hiếu, Nguyễn Thị Thu Hiền - Sử dụng ảnh SPOT 6
xây dựng bản đồ sinh khối và trữ lượng các bon rừng trồng thông thuần loài tại xã Nguyên Bình, huyện Tĩnh Gia,
Nguyễn Việt Hưng, Nguyễn Thị Tuyên - Nghiên cứu sử dụng chế phẩm sinh học từ lá xoan trong bảo quản gỗ 47
Đặng Minh Tơn, Đặng Văn Minh, Nguyễn Văn Toàn - Các loại đất chính, phân bố và tính chất trên địa bàn
Nông Thị Huyền Chanh, Hoàng Hữu Chiến - Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động khai thác cát sỏi đến biến
động sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã Hợp Thịnh, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang 61
Triệu Mùi Chản, Chu Văn Trung , Đỗ Sơn Tùng, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Thảo Yến, Bùi Thị Hường,
Nguyễn Văn Lợi - Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự biến đổi chất lượng của quả vải thiều sau thu hoạch 75
Phạm Thị Phương, Nguyễn Thị Đoàn, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Thị Nhung, Lưu Hồng Sơn - Nghiên cứu hiệu
quả bảo quản của compozit của chitosan khối lương phân tử thấp với axit oleic ứng dụng trong bảo quản đào Pháp 81
Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Ngân, Nguyễn Văn Quang, Phan Thị Hồng Phúc, Lê Minh, Phạm Diệu
Thùy, Trần Nhật Thắng, Dương Thị Hồng Duyên - Xác định serotype, độc lực và tính kháng kháng sinh của 3
loại vi khuẩn gây viêm phổi ở lợn tại tỉnh Bắc Ninh 87
Nguyễn Thị Thúy Mỵ, Trần Thanh Vân, Đỗ Thị Kiều Duyên - Ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm Mfeed+
đến sức sản xuất thịt của gà F 1 (ri x Lương Phượng) nuôi nhốt tại Thái Nguyên 97
Từ Trung Kiên, Trần Thị Hoan, Nguyễn Văn Sơn- Ảnh hưởng của bổ sung dầu hạt lanh vào khẩu phần đến
năng suất và chất lượng trứng gà Isa shaver 103
Trương Hữu Dũng, Nguyễn Thị Hằng, Phùng Đức Hoàn - Đánh giá khả năng sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn
của 3 tổ hợp lợn lai thương phẩm (DP x CA); (PD x CA) VÀ (LP x CA) giai đoạn sơ sinh đến 56 ngày tuổi 109
Sử Thanh Long, Nguyễn Công Toản, Trần Văn Vũ - Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng tới thời gian mang
thai của bò sữa nuôi tại xí nghiệp bò Phù Đổng, Hà Nội 115
Trần Thị Hoan, Từ Trung Kiên, Nguyễn Thị Hiền - Nghiên cứu ảnh hưởng của việc thay thế thức ăn viên
hỗn hợp bằng cỏ Ghinê (panicum maximum) trong khẩu phần đến hiệu quả sử dụng thức ăn và năng suất của
Hoàng Đình Hòa, Nguyễn Văn Lợi - Xác định các cấu tử hóa học và hoạt tính sinh học của tinh dầu cây kinh
Journal of Science and Technology
Trang 3Vũ Khánh Linh, Nguyễn Thị Hà, Nguyễn Thị Quỳnh Lâm, Lương Hùng Tiến - Phân lập và tuyển chọn một
số chủng vi sinh vật phân giải cellulose hướng tới tạo ra chế phẩm xử lý phế phụ phẩm nông nghiệp 133
Vũ Hoài Nam, Dương Văn Cường - Tăng cường sinh tổng hợp β-carotene trong Escherichia coli tái tổ hợp được
Nguyễn Thị Thu Ngà, Sỹ Danh Thường, Cao Thị Phương Thảo - Sử dụng mã vạch DNA để định loại loài Màn
màn vàng (Cleome viscosa L.) ở Việt Nam 147
Trịnh Đình Khá, Lý A Hù, Đặng Duy Phong, Nguyễn Hữu Quyền, Hoàng Thị Thiên Hương - Tổng hợp nano
bạc bằng dịch chiết lá đào Prunus persica và hoạt tính kháng khuẩn của nó 153
Nguyễn Thị Thu Hà, Chu Thị Na, Cao Thị Phương Thảo - Nghiên cứu đặc điểm hình thái và giải phẫu một số
loài cây cảnh hạn sinh thuộc họ thuốc bỏng (Crassulaceae) 157
Phạm Thị Mỹ, Hoàng Thị Mai, Vi Đại Lâm, Dương Mạnh Cường - Thử nghiệm điều kiện ảnh hưởng đến sinh
trưởng của dòng vi khuẩn phân giải nitơ phân lập từ một số mẫu nước tại Trường Đại học Nông Lâm – ĐH Thái Nguyên 165
Hoàng Thị Lan Anh, Dương Thị Minh Hòa - Nghiên cứu ứng dụng mô hình lọc tái tuần hoàn nước thải khu ký
túc xá Trường Đại học Nông Lâm bằng sét Kabenlis 3 171
Dương Hữu Lộc, Nguyễn Xuân Vũ, Vũ Thị Thu Thủy, Nguyễn Thị Tâm - Đặc điểm nông sinh học và mối
quan hệ di truyền của một số giống quýt (Citrus Recutilata Blanco) tại khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam 177
Đinh Thị Huyền Chuyên, Sỹ Danh Thường, Trịnh Đình Khá, NguyễnThị Yến - Nghiên cứu đặc điểm hình
thái và hoạt tính kháng khuẩn của loài màn màn vàng thu thập ở tỉnh Thái Nguyên 183
La Việt Hồng, Trần Hồng Thu, Phạm Thị Quy, Đinh Phương Thảo, Nguyễn Thị Thanh, Phạm Ngọc Khánh
- Xác định chỉ thị phân tử và tái sinh chồi in vitro của loài Hoàng tinh hoa đỏ (Polygonatum kingianum Coll ex
Nguyễn Hải Linh, Ma Diệu Quỳnh, Ma Thị Thu Lệ, Bùi Thị Thu Thủy, Vũ Thị Minh Hồng, Nguyễn Thị Hồng
Hạnh - Cao cây sương sáo (Mesona chinensis Benth.) có tác dụng hỗ trợ điều trị béo phì trên chuột nhắt trắng 195
Lê Phong Thu, Nguyễn Thu Thủy, Tạ Văn Tờ - Tổng quan đáp ứng mô bệnh học ung thư vú sau điều trị hóa
Hà Trọng Quỳnh - Lượng giá thiệt hại sức khỏe cộng đồng do ô nhiễm không khí tại phường Tân Long, thành
Nguyễn Thị Trung - Nghiên cứu khả năng nhận biết đặc hiệu các kháng nguyên của Listeria monocytogenes của
một số kháng thể đơn dòng nhằm sử dụng trong tạo que thử nhanh 215
Trang 4Sử Thanh Long và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 164(04): 115 - 120
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI THỜI GIAN MANG THAI CỦA BÒ SỮA NUÔI TẠI XÍ NGHIỆP BÒ PHÙ ĐỔNG, HÀ NỘI
Sử Thanh Long 1* , Nguyễn Công Toản 1 , Trần Văn Vũ 2
1 Học viện Nông nghiệp Việt Nam; 2 Công ty CP giống gia súc Hà Nội
TÓM TẮT
Dữ liệu được thu thập từ hệ thống lưu trữ dữ liệu trên đàn bò sữa nuôi tại xí nghiệp bò Phù Đổng,
Hà Nội Thời gian mang thai trung bình trên đàn bò sữa là 275,3 ± 8,3 ngày Kết quả nghiên cứu cho thấy mùa sinh ảnh hưởng lớn tới thời gian mang thai của bò sữa, những bò sinh vào mùa hạ và mùa thu có thời gian mang thai ngắn hơn những bò sinh vào mùa xuân và mùa đông (P<0,05) Những bò có chửa vào mùa hạ có thời gian mang thai dài hơn những bò có chửa vào mùa đông (P<0,05) Thời gian mang thai của các lứa đẻ khác nhau có sự biến thiên nhưng không nhiều, bò cái lứa 3 và lứa 6 có thời gian mang thai là dài nhất (P<0,05) Trong nghiên cứu này, tính biệt của thai không có ý nghĩa thống kê đối với thời gian mang thai của bò sữa
Từ khoá: bò, mùa sinh, thời gian mang thai, tính biệt, bò đẻ nhiều lứa
Thời gian mang thai là một yếu tố quan trọng
để chọn lựa bò sữa, có ảnh hưởng lớn tới khả
năng sinh sản và khả năng sản xuất của bò
sữa [1] Nhiều nghiên cứu cho thấy mối liên
quan giữa thời gian mang thai và khối lượng,
khả năng sinh sản và khả năng sản xuất của
bê sơ sinh trong tương lai [3] Thời gian mang
thai kéo dài làm tăng nguy cơ đẻ khó [12],
xảy thai [13], giảm khả năng sinh sản trong
tương lai, khiến cho chi phí thú y tăng cao,
giảm lợi nhuận thu được
Việc xác định được độ dài thời gian mang
thai sẽ giúp được các cơ sở chăn nuôi chủ
động kế hoạch sản xuất, các bác sỹ thú y và
các công nhân chủ động được trong công việc
chuẩn bị các dụng cụ cần thiết cho bê con ra
đời, hạn chế các nguy cơ ảnh hưởng tới mạng
sống của bê con [13] Do đó, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu “Nghiên cứu một số yếu tố
ảnh hưởng thời gian mang thai của bò sữa
nuôi tại xí nghiệp bò Phù Đổng, Hà Nội.”
NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
Đối tượng
Hai trăm sáu mươi chín bò lai HF ở mọi lứa
tuổi, lứa đẻ, điểm thể trạng bò khác nhau
*Tel: 0904.870.888; Email: sulongjp@yahoo.com
Bò được nuôi trong chuồng bán chăn thả, có sân chơi phía sau
Bò được đánh số tai để dễ dàng quản lý Chế độ dinh dưỡng hàng ngày bao gồm TMR, cám, rơm ủ ure và bã bia
Bò theo dõi trong thí nghiệm bao gồm bò cái
tơ, bò đẻ lứa 1, đến bò đẻ lứa 9, khoảng cách giữa hai lứa đẻ trung bình là 15,2 tháng Hàng ngày, bò được vắt sữa hai lần bằng máy vắt sữa bán tự động, sản lượng sữa trung bình
là 15 lít/ngày
Địa điểm
Xí nghiệp bò Phù Đổng, xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội
Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, khí hậu
Hà Nội có đặc trưng nổi bật là gió mùa ẩm, nóng và mưa nhiều về mùa hè, lạnh và ít mưa
về mùa đông; được chia thành bốn mùa rõ rệt trong năm: Xuân, Hạ, Thu, Đông Mùa xuân bắt đầu vào tháng 2 kéo dài đến tháng 4 Mùa
hạ bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 8, nóng bức nhưng lại mưa nhiều Mùa thu bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 10 Mùa đông bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau, thời tiết giá lạnh, khô hanh Ranh giới phân chia bốn mùa chỉ có tính chất tương đối, vì Hà Nội có năm rét sớm, có năm rét muộn, có năm nóng kéo dài, nhiệt độ lên tới 40°C, có năm nhiệt độ xuống thấp dưới 5°C
Trang 5Sử Thanh Long và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 164(04): 115 - 120
116
Hà Nội quanh năm tiếp nhận được lượng bức
xạ mặt trời khá dồi dào Tổng lượng bức xạ
trung bình hàng năm khoảng 120 kcal/cm²,
nhiệt độ trung bình năm 24,9°C, độ ẩm trung
bình 80 - 82% Lượng mưa trung bình trên
1700mm/năm (khoảng 114 ngày mưa/năm)
Thời gian
Tiến hành theo dõi từ 2010 đến 2015
Nội dung nghiên cứu
Đánh giá ngày mang thai trung bình của đàn
bò sữa;
Nghiên cứu ảnh hưởng của mùa sinh đến thời
gian mang thai của bò sữa;
Nghiên cứu ảnh hưởng của mùa có chửa đến
thời gian mang thai của bò sữa;
Nghiên cứu ảnh hưởng của số lứa đẻ của bò
mẹ đến thời gian mang thai của bò sữa;
Nghiên cứu ảnh hưởng của tính biệt thai tới
thời gian mang thai của bò sữa
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp ghi chép số liệu: Ghi chép thủ
công vào sổ dữ liệu, các thông tin chủ yếu như
số tai bò, lứa đẻ, thời gian phối gần nhất, thời
gian có chửa, thời gian mang thai, ngày đẻ
- Phương pháp chẩn đoán có thai: Được thực
hiện bởi các bác sỹ thú y có trên 5 năm kinh
nghiệm lâm sàng với phương pháp chẩn đoán
qua trực tràng, thực hiện vào ngày 60 sau khi
thụ tinh nhân tạo
- Phương pháp phân tích số liệu: Sử dụng
phương pháp thống kê T- Test để đánh giá ý
nghĩa thống kê của yếu tố mùa mang thai,
mùa chửa đẻ, lứa tuổi và giới tính phôi thai
tới thời gian mang thai
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Thời gian mang thai của bò sữa được tính từ
khi thụ tinh cho tới khi bò đẻ, trong thực tế
thời gian mang thai thường được tính từ lần
phối giống cuối cùng cho tới khi bò sữa đẻ
xong Thời gian mang thai không cố định mà
có thể thay đổi theo cá thể, theo tuổi, theo lứa
đẻ, theo giống của bò cái, theo khu vực, theo
các năm Tuy nhiên, phạm vi của thời gian mang thai của bò sữa trung bình là 280 ngày, dao động từ 260 – 300 ngày [13]
Nghiên cứu này của chúng tôi được tiến hành trong thời gian 6 năm từ 2010 đến 2015 với tổng số 269 lứa đẻ, chúng tôi tính được thời gian mang thai trung bình của bò sữa HF là 275,3 ± 8,3 ngày Kết quả này của chúng tôi khá tương đồng với kết quả nghiên cứu của Fias (2008) [6] khi tác giả nghiên cứu về thời gian mang thai trung bình của bò sữa HF được nuôi tại I-rắc với 276,65 ngày, Sattar và
cs (2005) [19] tại Pakistan với 278,61 ± 0,29 ngày, nhưng thấp hơn kết quả của Wijbrand (2012) [24] tại Hà Lan với trung bình 283 ± 0,5 ngày
Thời gian mang thai của bò sữa như đề cập ở trên nó không bất biến mà ảnh hưởng bởi một
số yếu tố bên trong cũng như bên ngoài cơ thể gia súc cái mang thai Để phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố đến thời gian mang thai của bò sữa chúng tôi tiến hành phân tích ảnh hưởng của một số yếu tố riêng rẽ tới thời gian mang thai của bò sữa
Ảnh hưởng của mùa sinh đến thời gian mang thai của bò sữa
Trước tiên, chúng tôi tiến hành phân tích ảnh hưởng của mùa sinh tới thời gian mang thai
của bò sữa Kết quả được thể hiện ở Hình 1
Hình 1 Ảnh hưởng của mùa sinh đến thời gian
mang thai của bò sữa (n=268)
Qua hình 1 chúng tôi nhận thấy, bò mang thai
và đẻ ở mùa vụ khác nhau thì thời gian mang thai cũng khác nhau Sinh vào mùa Xuân và mùa Đông bò mang thai dài hơn tương ứng
Trang 6Sử Thanh Long và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 164(04): 115 - 120
278,5 ± 5.3 ngày và 278,1 ± 6,2 ngày trong khi
đó bò mang thai ngắn nhất vào mùa Hạ với
thời gian là 268,8 ± 12,7 ngày và kế đến là sinh
vào mùa thu với trung bình 274,8 ± 5,7 ngày
khi so sánh với các mùa trong năm (P<0,05)
Điều kiện khí hậu nóng ẩm vào mùa Hạ và
lạnh khô vào mùa Đông - Xuân tại xí nghiệp
bò sữa Phù Đổng là nguyên nhân của sự chênh
lệch thời mang gian thai của bò mẹ Nhiều
nghiên cứu cũng chỉ ra rằng thời gian mang
thai ngắn hơn vào mùa hè do tác động của
nhiệt độ cao và sự thay đổi thức ăn [15]
Hay theo tác giả McClintock và cs (2003)
[10] báo cáo rằng thời gian mang thai của bò
sữa sinh vào mùa hè ngắn hơn so với các mùa
khác là do nhiệt độ môi trường cao Tác giả
McGuirk và cs (1998) [11] khi nghiên cứu về
ảnh hưởng của mùa sinh tới thời gian mang
thai của bò thịt nuôi ở Anh cũng thấy quy luật
tương tự
Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu
trước đây ở nước ngoài về ảnh hưởng của
mùa sinh tới thời gian mang thai của bò sữa:
tác giả Anshuman và cs (2016) [1] khi nghiên
cứu các yếu tố ảnh hưởng tới thời gian mang
thai của bò sữa đã chỉ ra rằng mùa sinh ảnh
hưởng tới thời gian mang thai của bò sữa một
cách rõ rệt (P<0,01), bò sinh vào mùa hè và
mùa mưa tại Ấn Độ có thời gian mang thai
ngắn hơn khi sinh vào mùa đông với thời gian
mang thai trung bình vào mùa hè (tháng 3 -
tháng 6) là 280,29 ± 0,61 ngày, mùa mưa
(tháng 7 - tháng 10) là 279,31 ± 0,6 ngày
trong khi bò sinh vào mùa đông (tháng 11 -
tháng 2) thì thời gian mang thai trung bình là
281,16 ± 0,62 ngày Tương tự, tác giả Fias
(2008) [6] khi nghiên cứu về các yếu tố ảnh
hưởng tới thời gian mang thai của bò Holstein
được nuôi tại I-rắc cũng chỉ ra rằng mùa sinh
của bò ảnh hưởng đến thời gia mang thai có ý
nghĩa về mặt thống kê (P<0,01) với thời gian
mang thai trung bình của bò Holstein sinh vào
các mùa xuân, hạ, thu, đông tương ứng là
281,24 ± 0,25 ngày; 276,96 ± 0,21 ngày;
275,61 ± 0,19 ngày và 277,98 ± 0,21 ngày
Ảnh hưởng của mùa có chửa đến thời gian mang thai
Để tìm hiểu về ảnh hưởng của mùa phối tới thời gian mang thai của bò sữa chúng tôi nhóm các bò được phối trong cùng một mùa lại với
nhau, và kết quả được trình bày ở hình 2
Hình 2 Ảnh hưởng của mùa có chửa tới thời gian
mang thai của bò sữa (n=269)
Hình 2 cho thấy bò được phối giống vào các mùa khác nhau có thời gian mang thai trung bình khác nhau, trong đó bò được phối giống vào mùa hạ có thời gian mang thai trung bình
là dài nhất với 278,4 ± 5,5 ngày, còn bò được phối giống vào mùa thu thì lại có thời gian mang thai trung bình là ngắn nhất với 269,2 ± 12,5 ngày
Norman và cs (2009) [13] thấy rằng thời gian mang thai trên bò sữa Holstein có chửa vào 5 – 6 tháng đầu năm dài hơn những bò có chửa vào khoảng thời gian cuối năm Trong khi đó, Silva và cs (1992) [20] không nhận thấy sự sai khác trong thời gian mang thai trên đàn bò sữa Florida có chửa vào các mùa khác nhau Thời gian chiếu sáng cũng là một yếu tố môi trường có tác động tới thay đổi sinh lý của con vật, đặc biệt sinh lý sinh sản [5] Mặc dù,
bò không phải là loài động vật sinh sản theo mùa như ngựa và cừu, nhưng một số nghiên cứu đã cho thấy rằng thời lượng chiếu sáng giảm vào mùa thu và mùa đông cũng ảnh hưởng tới thời gian mang thai Tác động này được điều khiển bởi cơ chế sản sinh melanotin của tuyến tùng, nồng độ melatonin cao hơn vào ban đêm và thấp hơn vào ban ngày trên bò [22] Nghiên cứu trên cừu bò [14] cho thấy melatonin hỗ trợ quá trình phát
Trang 7Sử Thanh Long và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 164(04): 115 - 120
118
triển của bào thai Receptor của melatonin
được xác định trên phôi bò, hỗ trợ sự phát
triển của bào thai [22] Tuy nhiên, giảm thời
gian chiếu sáng ảnh hưởng tới thời gian mang
thai không chỉ qua tác động tới quá trình phát
triển của phôi thai, mà còn thông qua tác dụng
điều hoà sản sinh progesterone từ thể vàng
của melatonin Webley và Luck (1986) [23]
thấy rằng melatonin điều hoà quá trình sản
sinh progesterone từ thể vàng của bò Badinga
và cs (1994) [2] quan sát thấy nồng độ
progesterone huyết thanh trên bò Holstein
tăng và đạt giá trị cao hơn vào tháng 8 và
tháng 11 (cường độ chiếu sáng giảm) so với
tháng 4 và tháng 7 (cường độ chiếu sáng
tăng) Các nghiên cứu cũng cho thấy rằng
nồng độ progesterone tuần hoàn tăng cao sau
khi mang thai, hỗ trợ phôi thai phát triển
nhanh hơn [4]
Ảnh hưởng của số lứa đẻ của bò mẹ tới
thời gian mang thai
Các nghiên cứu trên thế giới chỉ ra rằng thời
gian mang thai của bò sữa ở lứa đẻ đầu tiên
ngắn hơn so với các lứa còn lại từ 0,6 đến 1,2
ngày [20], hay 1,5 ngày [10] Nghiên cứu này
tiến hành đánh giá thời gian mang thai của bò
mẹ ở các lứa đẻ khác nhau, kết quả được thể
Hình 3 Thời gian mang thai trung bình
theo lứa đẻ của bò mẹ (n=241)
Hình 3 cho thấy thời gian mang thai của các
lứa đẻ khác nhau có sự biến thiên nhưng
không nhiều, bò cái lứa 3 và lứa 6 có thời
gian mang thai là dài nhất với lần lượt là
275,9 ± 5,6 ngày và 275,9 ± 6,2 ngày Bò lứa
9 có thời gian mang thai là ngắn nhất với 262 ngày, tuy nhiên bò lứa thứ 9 chúng tôi chỉ theo dõi được duy nhất 1 bò Các lứa đẻ còn lại thời gian mang thai khá tương đồng, dao động xung quanh 275 ngày Theo nghiên cứu này của chúng tôi thì ảnh hưởng của lứa đẻ tới thời gian mang thai của bò không có ý nghĩa về mặt thống kê (P<0,05)
Jamrozik và cs (2005) [8] cũng báo cáo thời gian mang thai của bò Holstein Canada lứa 1 ngắn hơn từ lứa hai trở đi là 1 ngày Norman
và cs (2009) [13] cũng chỉ ra rằng thời gian mang thai trung bình của bò sữa giống Holstein lứa thứ nhất là 277,8 ngày thấp hơn
so với thời gian mang thai trung bình của bò
từ lứa thứ hai trở đi với trung bình là 279,4 ngày Kết quả nghiên cứu của chúng tôi với thời gian mang thai của bò sữa lứa 1 là 275,1
± 7,0 ngày thấp hơn 0,2 ngày so với thời gian mang thai trung bình từ lứa thứ hai trở đi với 275,3 ± 8,8 ngày cũng khá tương đồng với kết quả của các tác giả nghiên cứu ở nước ngoài nêu trên
Foote (1981) [7] nhận thấy thời gian mang thai của bò đẻ nhiều lứa dài hơn so với bò tơ Có thể giải thích bằng sự khác biệt của nồng độ progesterone huyết thanh giữa bò đẻ nhiều lứa
và bò tơ Một vài nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng, bò sữa cao sản có thể vàng lớn hơn nhưng nồng độ progesterone huyết thanh lại thấp hơn so với bò tơ [18] Để đáp ứng sản lượng sữa cao, bò cao sản sau đẻ được áp dụng chế độ ăn dinh dưỡng tăng cường, dẫn tới tăng quá trình tuần hoàn và chuyển hoá thải trừ các hormone sinh sản (như estradiol, progesterone) qua sữa, kéo dài thời gian mang thai [17]
Ảnh hưởng của tính biệt thai tới thời gian mang thai của bò sữa
Bảng 1 Thời gian mang thai trung bình của bò
sữa theo tính biệt của thai
Tính biệt của thai
Thời gian mang thai trung bình (ngày)
Trang 8Sử Thanh Long và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 164(04): 115 - 120
Kết quả phân tích ảnh hưởng của tính biệt tới
thời gian mang thai được thể hiện qua bảng 1
Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi thì
thời gian mang thai của bò sữa với thai đực
(274,8 ± 9,5 ngày) ngắn hơn thai cái (276,1 ±
5,8 ngày) trung bình 1,3 ngày Tuy nhiên, thời
gian mang thai giữa thai đực và thai cái chênh
lệch không có ý nghĩa thống kê (P<0,05) Kết
quả từ nghiên cứu này trái ngược với một số
nghiên cứu trước đây trên thế giới, đa số các
nghiên cứu chỉ ra rằng thời gian mang thai
của thai đực dài hơn thai cái nhưng không
nhiều, mức chênh lệch chỉ một vài ngày
Trong nghiên cứu của mình, tác giả King và
cs [9] đã trích dẫn 10 tài liệu nghiên cứu trước
đó từ năm 1965 và cho thấy rằng bò sữa mang
thai đực có thời gian mang thai dài hơn 1-2
ngày so với mang thai cái Một số nghiên cứu
ủng hộ giả thiết rằng sự phát triển của bê đực
từ giai đoạn phôi tới khi đẻ kéo dài hơn so với
bê cái [16], và nguyên nhân của sự khác biệt
này vẫn còn đang được nghiên cứu
KẾT LUẬN
Thời gian mang thai trung bình trên đàn bò
sữa Phù Đổng là 275,3 ± 8,3 ngày
Bò sinh vào mùa hạ có thời gian mang thai
ngắn nhất là 268,8 ± 12,7 ngày và kế đến là
bò sinh vào mùa thu với thời gian mang thai
dài nhất là 274,8 ± 5,7
Bò được phối giống vào mùa hạ có thời gian
mang thai trung bình là dài nhất với 278,4 ±
5,5 ngày, còn bò được phối giống vào mùa
thu thì lại có thời gian mang thai trung bình là
ngắn nhất với 269,2 ± 12,5 ngày
Thời gian mang thai của các lứa đẻ khác nhau
có sự biến thiên nhưng không nhiều, bò cái lứa
3 và lứa 6 có thời gian mang thai là dài nhất
Thời gian mang thai của bò sữa với thai đực
(274,8 ± 9,5 ngày) ngắn hơn thai cái (276,1 ±
5,8 ngày) trung bình 1,3 ngày Tuy nhiên, thời
gian mang thai giữa thai đực và thai cái chênh
lệch không có ý nghĩa thống kê
LỜI CÁM ƠN
Nhóm tác giả xin chân thành cám ơn các Bác
Sỹ Thú y làm việc tại xí nghiệp bò Phù Đổng
đã giúp đỡ tạo điều kiện cho chúng tôi hoàn
thành nghiên cứu này
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Anshuman Kumar, Ajoy Mandal, Gupta A K and Poonam Ratwan (2016), “Genetic and environmental causes of variation in gestation
length of Jersey crossbred cattle”, Veterinary
World, 9(4), pp 351 - 355
2 Badinga L., Thatcher W W., Wilcox C J., Morris G., Entwistle K., Wolfenson D (1994),
“Effect of season on follicular dynamics and plasma concentrations of estradiol-17β, progesterone and luteinizing hormone in lactating Holstein cows”,
Theriogenology, 42, pp.1263–1274
3 Bourdon R M and Brinks J S (1982),
“Genetic, environmental and phenotypic relationships among gestation length, birth weight, growth traits and age at first calving in beef
cattle”, J Anim Sci., 55, pp 543-553
4 Carter F., Forde N., Duffy P., Wade M., Fair T., Crowe M A., Evans A C., Kenny D A., Roche J F., Lonergan P (2008), “Effect of increasing progesterone concentration from Day 3
of pregnancy on subsequent embryo survival and
development in beef heifers”, Reprod Fertil Dev.,
20, pp 368 -375
5 Dahl G E., Auchtung T L., Kendall P E (2002), “Photoperiodic effects on endocrine and
immune function in cattle”, Reprod Suppl., 59,
pp.191–201
6 Fias Rashad Al-Samarai (2008),“Some factors
influencing gestation length in Holstein cows”,Life
sciences international Journal, 2(4), pp 774 -
778
7 Foote R H (1981), “Factors affecting
gestation length in dairy cattle”, Theriogenology,
15, pp 553 – 559.
8 Jamrozik J., Fatehi J., Kistemaker G J., and Schaeffer L R (2005), “Estimates of genetic parameters for Canadian Holstein female
reproduction traits”, J Dairy Sci., 88, pp 2199 –
2208
9 King K K., Seidel G E Jr., and R P Elsden (1985), “Bovine embryo transfer pregnancies II
Lengths of gestation”, J Anim Sci., 61, pp 758–762
10 McClintock S., Beard K., Gilmour A and Goddard M (2003), “Relationships between calving traits in heifers and mature cows in
Australia”, Interbull Bull., 31, pp.102-106
11 McGuir, B J., Going I and Gilmour A R (1998), “The genetic evaluation of beef sires used for crossing with dairy cows in the UK 1 Sire breed and non-genetic effects on calving survey
traits”, Anim Sci., 66, pp 35–45
12 Nadarajah K and Burnside E B (1989),
“Relationships among gestation length, calving
Trang 9Sử Thanh Long và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 164(04): 115 - 120
120
easy and calf mortality in Ontario Holstein
cattle”, J Anim Sci., 67, Suppl: 87.
13 Norman H D., Wright J R, Kuhn M T.,
Hubbard S M., Cole J B and Van Raden P M
(2009), “Genetic and environment factors that
affect gestation length in dairy cattle”, Journal of
Dairy Scienc, 92, pp 2259 - 2269
14 Papis K., Poleszczuk O., Wenta-Muchalska E.,
Modlinski J A (2007), “Melatonin effect on
bovine embryo development in vitro in relation to
oxygen concentration”, J Pineal Res., 43, pp.321
– 326
15 Przysucha T., Grodzki H (2009), “The
influence of selected factors on beef
breed cows pregnancy length (in Polish) Rocz
Nauk Pol Tow Zoot”, 5, pp 65–72
16 Tomasek R., Rezac P., Havlicek Z (2016),
“Environmental and animal factors associated with
gestation length in Holstein cows and heifers in
two herds in the Czech Republic”,Theriogenology,
DOI10.1016/j.theriogenology.2016.08.009
17 Sangsritavong S., Combs D K., Sartori R.,
Armentano L.E and Wiltbank M C (2002),
“High feed intake increases liver blood flow and
metabolism of progesterone and estradiol-17beta
in dairy cattle”, J Dairy Sci., 85, pp 2831 - 2842
18 Sartori R., Haughian J M., Shaver R D., Rosa
G J M., Wiltbank M C (2004), “Comparison of
ovarian function and circulating steroids in estrous
cycles of Holstein heifers and lactating cows”, J
Dairy Sci., 87, pp 905 – 920
19 Sattar A., Mirza R H., Niazi A A K and Latif M (2005), “Productive and reproductive performance of Holstein Friesian cows in
Pakistan”, Pakistan Veterinary Jourtnal., 25(2),
pp 75 - 81
20 Silva H M., Wilcox C J., Thatcher W W., Becker R B., and Morse D (1992), “Factors affecting days open, gestation length, and calving
interval in Florida dairy cattle”, J Dairy Sci., 75,
pp 288 – 293
21 Stanisiewski E P., Chapin L T., Ames N K., Zinn S A., Tucker H A (1988), “Melatonin and prolactin concentrations in blood of cattle exposed
to 8, 16 or 24 hours of daily light”, J Anim Sci.,
66, pp 727 – 734.
22 Wang F., Tian X., Zhang L., Gao C., He C., Fu Y., Ji P., Li Y., Li N and Liu G (2014), “Beneficial effects of melatonin on in vitro bovine embryonic development are mediated by melatonin receptor 1”,
J Pineal Res., 56, pp 333 - 342
23 Webley G E., Luck M R (1986), “Melatonin directly stimulates the secretion of progesterone
by human and bovine granulosa cells in vitro”, J
Reprod Fertil., 78, pp 711 – 717.
24 Wijbrand Ouweltjes (2012),Comparison of
performance of Holstein and Holstein × Fleckvieh dairy cows for production, fertility and health
Confidential report, p 11
SUMMARY
FACTORS AFFECTING GESTATION LENGTH IN DAIRY CATTLE
IN PHU DONG DAIRY FARM, HANOI
Su Thanh Long 1* , Nguyen Cong Toan 1 , Tran Van Vu 2
1 Vietnam National University of Agriculture
2 Hanoi Livestock Breeding Joint Stock Company
Data were collected through one record system for dairy herd in Phu Dong dairy farm, Ha Noi The results revealed that 275.3 ± 8.3 days in average length of gestation period Calving season significantly influenced to gestation length in dairy cattle, gestation length in cows that calved in summer and fall was shorter than in those that calved in spring and winter (P<0.05) Conversely, gestation length in cows that conceived in summer was longer than in those that conceived in winter (P<0.05) Longer gestation period was observed in respect of pluriparous cows, particularly 3th lactation and 6 lactation cows (P<0.05) The sex of calf has no influence on the duration of pregnancy
Key words: cow, calving season, gestation length, sex of calf, pluriparous cows
Ngày nhận bài: 08/02/2017; Ngày phản biện: 01/3/2017; Ngày duyệt đăng: 27/4/2017
*Tel: 0904.870.888; Email: sulongjp@yahoo.com