Một số công trình nghiên cứu mới chỉ đề cập đến c ác vấn đề liên quan đến chất lượng xét xử vụ án hình sự như hiệu quả hoạt động xét xử, chất lượng áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm
Trang 1VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN TẤT VIỄN
HÀ NỘI - 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận án b ảo đảm độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của Luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Phạm Văn Tuyển
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4TAND : Tòa án nhân dân
TANDTC : Tòa án nhân dân tối
Trang 5DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1: TỔNG HỢP SỐ LƯỢNG ÁN HSST DO HAI CẤP TAND TỈNH HẢI
DƯƠNG GIẢI QUYẾT TỪ NĂM 2011 ĐẾN NĂM 2019
PHỤ LỤC 2: TỔNG HỢP KẾT QUẢ XÉT XỬ PHÚC THẨM ĐỐI VỚI ÁN HSST DO
HAI CẤP TAND TỈNH HẢI DƯƠNG GIẢI QUYẾT TỪ NĂM 2011 ĐẾN NĂM 2019
PHỤ LỤC 3: TỔNG HỢP SỐ VỤ ÁN HSST DO HAI CẤP TAND TỈNH HẢI DƯƠNG
GIẢI QUYẾT CÓ NGƯỜI BÀO CHỮA THAM GIA TỪ NĂM 2011 ĐẾN NĂM 2019
PHỤ LỤC 4: PHÂN TÍCH SỐ LIỆU THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ TẠI HAI CẤP T ÒA ÁN
NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG TỪ NĂM 2011 ĐẾN NĂM 2019
PHỤ LỤC 5: TỔNG HỢP SỐ LƯỢNG ÁN HSST DO HAI CẤP TAND TỈNH HẢI
DƯƠNG XÉT XỬ LƯU ĐỘNG TỪ NĂM 2011 ĐẾN NĂM 2019
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấ p thiết của nghiên cứu
Xét xử là hoạt động trọng tâm của các hoạt động tư pháp và hệ thống cơquan xét xử là Tò a án c ó vị trí trung tâm trong hệ thống c ác cơ quan tư pháp Thông qua ho ạt động xét xử, T òa án c ó vai trò quan trọng trong bảo vệ công
bảo vệ quyền con người , quyền và lợi ích của Nhà nước , quyền và lợi ích hợppháp của người dân Trong lĩnh vực hình sự, T òa án là thiết chế duy nhất cóquyền phán xét một người là có tội và phải chịu hình phạt Với tầm quan trọngnhư vậy , bảo đảm chất lượng xét xử là một yêu c ầu thiết yếu trong công tác xét
xử vụ án hình sự Đặc biệt, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là giai đo ạn mở đầu chotoàn bộ ho ạt động xét xử, mọi vấn đề liên quan đến vụ án đều được Tò a án xemxét và quyết định trong giai đo ạn này , vì vậy bảo đảm chất lượng xét xử vụ ánhình sự trước hết là yêu cầu đặt ra đối với XXST Một bản án sơ thẩm kháchquan, toàn diện và đúng người, đúng tội, đúng pháp luật sẽ giảm tỷ lệ kháng cáo ,kháng nghị theo trình tự phúc thẩm, qua đó góp phần giảm thiểu c ác chi phí chocác cơ quan nhà nước và người dân, đồng thời tạo được l òng tin của người dânđối với c ác cơ quan tư pháp nó i chung và Tòa án nói riêng
Trang 7Việc đánh gi á hoạt động của T ò a án , mà x é t xử là hoạt động trọngtâm, nhằm tạo cơ sở cho bảo đảm chất lượng xét xử luôn là một trongnhững mối quan tâm hàng đầu ở Việt Nam Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày20/01/2002 của Bộ Chính trị đã chỉ ra một số nhiệm vụ trọng tâm công tác
tư pháp trong thời gian tới là: “ khi xét xử, các Tòa án phải bảo đảm ch omọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật , thực sự dân chủ, khách quan;Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân the o pháp luật; việcphán quyết của T òa án p hải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng t ại phiêntòa trên cơ sở x e m xét đầy đủ , toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm s átviên , của người bào chữa, b ị cáo, nhân chứng , nguyên đơn , b ị đơn vànhững người có quyền, lợi ích hợp pháp v v để ra những bản án, quyếtđịnh đúng pháp luật , có sức thuyết phục và trong thời hạn quy định” [68,tr.2] Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiếnlược cải cách tư pháp đến 2020 đã x ác đị nh, T òa án giữ vai trò trung tâmcủa hệ thống tư pháp và xét xử đó ng vai trò trọng tâm của hoạt động tưpháp [69] Từ việc xác định nâng cao chất lượng xét xử c ác vụ án nó ichung và chất lượng xét xử các vụ án hình sự nói riêng là nhiệm vụ trọngtâm trong lộ trình cải cách tư p háp , nhiều giải pháp đã được T òa án c ác cấp
đề ra và thực hiện nhằm đưa các vụ án hình sự ra xét xử kịp thời , bảo đảmđúng người , đúng tội , đúng pháp luật, góp phần tích cực vào đấu tranhphòng chống tội phạm, giữ vững an ninh chính trị , trật tự an toàn xã hội
Trang 8T ại Hải Dương , hai cấp T ò a án nhân dân tỉnh Hải Dương cũng đã cónhiều nỗ lực , cố gắng thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao chất lượngXXST vụ án hình sự Nhiều năm liên tục, hai cấp TAND tỉnh Hải Dươngkhông để vụ án hình sự nào bị quá thời hạn luật định,không c ó trường hợpnào kết án oan người không phạm tội , tỷ lệ c ác bản án hình sự sơ thẩm bị cấpphúc thẩm, giám đốc thẩm hủy, sửa ngày càng thấp , thấp hơn nhiều so với tỷ
lệ án bị hủy , b ị sửa trung bình trên phạm vi toàn quốc The o số liệu thống kêcủa Văn phò ng TAND tỉnh Hải Dương thì trong 9 năm (từ năm 2011 đến năm
2019 ) , hai cấp TAND tỉnh Hải Dương đã giải quyết the o thủ tục sơ thẩm 9285VAHS với 17463 b ị c áo , trong đó x ét xử sơ thẩm 8683 VAHS với 16095 b ị
c áo b ị c áo [Phụ lục 1] ; trong tổ ng số 16095 b ị c áo đã xét xử sơ thẩm chỉ c ó1042/16095 ( chiếm 6,48%) b ị c áo b ị cấp phúc thẩm sửa án, trong đó chủ yếu
là giảm mức hình phạt , chuyển từ hình phạt tù sang cho hưởng án tre o hoặchình phạt khác nhẹ hơn do c ác bị cáo c ó tình tiết giảm nhẹ mới tại cấp phúcthẩm nên không tính lỗi của Thẩm phán, chỉ có 95/16095 (chiếm 0,6 3 %) bị
c áo bị sửa án là do lỗi chủ quan của Thẩm phán; số bản án sơ thẩm bị cấpphúc thẩm hủy án chỉ có 32/16095 bị cáo , chiếm 0 ,2 o/o, trong đó không có vụ
án nào b ị hủy án và tuyên bố b ị c áo không c ó tội [Phụ lục 2] Tuy nhiên , ho ạtđộng XXST vụ án hình sự của hai cấp T ò a án nhân dân tại Hải Dương vẫncòn một số tồ n tại , hạn chế, chưa đáp ứng được một c ách toàn diện yêu c ầucủa cải c ách tư pháp, vẫn còn c ó trường hợp vi phạm nghiêm trong thủ tục tốtụng, bỏ lọt hành vi phạm tội ho ặc c ó sai lầm nghiêm trọng trong áp dụngphápluật dẫn đến bản án b ị hủy , b ị sửa The o c ác b áo c áo tổ ng kết hàng nămcủa TAND tối cao thì đây cũng là những tồn tại , hạn chế chung trong ho ạtđộng x ét xử của hệ thống Tòa án nhân dân cả nước Những hạn chế về chấtlượng xét xử c ác loại án nó i chung và xét xử vụ án hình sự nó i riêng cũngđược nêu chi tiết trong Báo c áo số 3 5-BC/CCTP về T ổ ng kết 08 năm thựchiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tưpháp đến năm 2020 Một số hạn chế cơ b ản như: “Công tác triển khai , tổ chứcthực hiện một số nhiệm vụ cải c ách tư pháp thiếu đồ ng bộ , chưa đúng lộ trình
Trang 9đề ra; chất lượng công tác điều tra, truy tố , x ét xử, thi hành án vẫn chưa thực
sự đáp ứng yêu c ầu ngày càng cao của xã hội; án tồn đọng, oan, sai , bị hủy , bịcải sửa vẫn c ò n , chưa được khắc phục triệt để; ho ạt động điều tra, truy tố , xét
xử và thi hành án chưa thực sự minh b ạch; vẫn cò n tình trạng tiêu cực trong
ho ạt động tư pháp; mục tiêu bảo vệ công lý , quyền con người chưa được thựchiện đầy đủ, đúng đắn, làm cho một b ộ phận nhân dân chưa thực sự tin tưởngvào chất lượng của hoạt động tư p háp ”[51]
Từ gó c độ lý luận, chất lượng xét xử nó i chung cũng như chất lượngXXST vụ án hình sự nó i riêng chưa được nghiên cứu một c ách đầy đủ, toàndiện, c ó hệ thống Một số công trình nghiên cứu mới chỉ đề cập đến c ác vấn
đề liên quan đến chất lượng xét xử vụ án hình sự như hiệu quả hoạt động xét
xử, chất lượng áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nên chưa
đề ra được c ác giải pháp cụ thể , rõ ràng nhằm nâng cao chất lượng xét xử sơthẩm vụ án hình sự Vì vậy, trong bối cảnh cải c ách tư pháp, xây dựng nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì việc nghiên cứu một c ách đầy đủ và có
hệ thống về chất lượng XXST vụ án hình sự với những tiêu chí , tiêu chuẩn cụthể , từ đó đề ra c ác giải pháp b ảo đảm và nâng cao chất lượng xét xử vụ ánhình sự mà trước hết là chất lượng XXST vụ án hình sự là một yêu c ầu rất cấpbách Để góp phần nhỏ b é vào việc giải quyết nhiệm vụ quan trọng này,
nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “Chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
từ thực tiễn tỉnh Hải Dương” để triển khai nghiên cứu trong quy mô Luận án
tiến sĩ luật học
Trang 102 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, tác giả xác định các nhiệm vụ nghiên cứunhư sau:
- Hệ thống hóa lý luận về chất lượng xét xử và XXST vụ án hình sự.Trên cơ sở đó làm s áng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về chất lượngXXST
3 Đối tượng và p hạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là các vấn đề lý luận về chất lượngXXST vụ án hình sự, thực trạng pháp luật c ó liên quan và thực tiễn chấtlượng XXST vụ án hình sự tại hai cấp TAND tỉnh Hải Dương
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 11- Phạm vi nội dung: Chất lượng XXST vụ án hình sự là một chủ đề
rộng với nhiều vấn đề lý luận và thực ti ễ n quan trọng Trong khuôn khổquy
mô của Luận án tiến sĩ luật học, Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu “xétxử
sơ thẩm vụ án hình sự” là hoạt động được tiến hành b ởi T ò a án nhân dân,
L uận án không nghiên cứu về việc XXST vụ án hình sự do c ác T òa ánquânsự tiến hành L uận áncũng chỉ tiếp c ận chất lượng XXST vụ án hình
quy định của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự
- Phạm vi không gian và thời gian nghiên cứu: Luận án nghiên cứu c ác
quy định liên quan đến chất lượng XXST vụ án hình sự của T ò a án nhân dântrong BL HS năm 2015 (sửa đổ i, b ổ sung năm 2017 ) , BL TTHS năm 2015 và
c ác văn b ản hướng dẫn thi hành, so sánh với quy định liên quan đến chấtlượng XXST vụ án hình sự trong BLHS năm 1999 (sửa đổ i, b ổ sung năm2009) và BL TTHS năm 2003
Số liệu để đánh giá thực tiễn chất lượng XXST vụ án hình sự trên địabàn tỉnh Hải Dương được thu thập từ năm 2011 đến năm 2019
4 p hương p há p luận và p hương p háp nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên cơ s ở phương pháp luận của chủ nghĩa duyvật biện chứng và chủ nghĩa duy vật l ị ch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh về nhànước và pháp luật; c ác quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về cải c ách tư pháp, về b ảo vệ quyền conngười Trong đó nguyên lý về mối liên hệ phổ biến giữa c ác hiện tượng vàquá trình xã hội được sử dụng để nghiên cứu, phân tích mối liên hệ hữu cơgiữa chất l ợng x t xử à c c yế tố h c nh thể chế h l t chức à
ho t động của c c thiết chế t h liên q an Ng yên l ề sự h t triểnđược sử dụng để nghiên cứu, phân t ích những thay đổ i về kinh tế- xã hội , quátrình hội nh q ốc tế ngày càng sâ rộng dẫn đến những thay đ i th o chiềhướng tí ch cực trong c ách thức tổ chức và ho ạt động của T ò a án và yêu c ầucủa cải c ch t h ề nâng cao chất l ợng x t xử Một số q y l t à h m
Trang 12tr của h iện chứng d y t nh q y l t những thay đ i ề l ợng dẫnđến sự thay đ i ề chất; c c c h m tr hả năng à hiện thực ng yên nhân
và kết quả được sử dụng để nghiên cứu, phân tích c ác yếu tố tác động, c ácđiều kiện bảo đảm chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Tư tưởng Hồ ChíMinh ề nhà n ớc à h l t, c c q an điểm của Đảng à Nhà n ớc ta ềxây dựng Nhà n ớc h q yền xã hội chủ nghĩa ề cải c ch t pháp, ề ảo
vệ q yền con ng i s đ ợc sử dụng để nghiên cứ đề x ất c c tiê ch chấtlượng xét xử
và c ác giải pháp nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sựtrong tình hình hiện nay
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong Luận án gồm:phương pháp phân tích, tổ ng hợp; hệ thống; luật học so sánh; phương pháp tọađàm phỏng vấn chuyên gia; phương pháp khảo sát thực tiễn; phương phápnghiên cứu điển hình để làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu được đặt ra trongLuận án Cụ thể:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp và phương pháp hệ thống được sử dụngnhằm phân tích và xây dựng các khái niệm: chất lượng xét xử, chất lượng
chất lượng XXST vụ án hình sự của hai cấp TAND tỉnh Hải Dương tạiChương 3
- Phương pháp luật học so sánh được sử dụng để nghiên cứu kinh nghiệmcủa các nước trên thế giới trong việc đánh giá chất lượng XXST vụ án hìnhsự
Trang 13XXST vụ án hình sự và các tiêu chí chất lượng XXST vụ án hình sự
- Phương pháp tọa đàm, phỏng vấn chuyên gia và phương pháp phântích được sử dụng để nhận diện những yêu c ầu nâng cao chất lượng XXSTvụ
án hình sự tại mục 4.1 của Chương 4
- Ngoài ra, phương pháp khảo sát thực ti ễn, nghiên cứu điển hình, sửdụng số liệu thống kê của c ác cơ quan nhà nước có thẩm quyền được sửdụng
để đánh giá những kết quả chủ yếu phản ánh chất lượng XXST vụ án hìnhsự
của hai cấp TAND tỉnh Hải Dương tại Chương 3
Trong quá trình thực hiện luận án, các phương pháp được đề cập ở trên cóthể sử dụng đan xen và tiếp c ận the o hướng đa ngành và liên ngành để thuậntiện
cho việc phân tích, đánh giá các vấn đề được đặt ra trong phạm vi nghiên cứucủa Luận án
Trang 145 Những điểm mới của Luận án
Luận án là công trình khoa học nghiên cứu toàn diện và hệ thống cơ s ở
lý luận và thực ti ễn về chất hrợng XXST vụ án hình sự từ nghiên cứu thực
ti ễn xét xử của hai cấp TAND tỉnh Hải Duơng Những điểm mới về khoa họccủa Luận án là:
Thứ nhất, Luận án hệ thống hó a c ác quan điểm khoa học về chất luợng
XXST vụ án hình sự Trên cơ sở đó , Luận án xây dựng khái niệm, tiêu chíchất hrợng XXST vụ án hình sự ở Việt Nam, nêu và lập luận các yếu tố tácđộng đến chất hrợng XXST vụ án hình sự ở Việt Nam
Thứ hai, L uận án đánh gi á thực trạng chất hrợng XXST vụ án hình sự
từ nghiên cứu thực tiễn xét xử của hai cấp TAND tỉnh Hải Duơng
Thứ ba, L uận án xác định nhu c ầu c ần thiết của việc bảo đảmvà nâng cao
chất luợng XXST vụ án hình sự, từ đó đề xuất các quan điểm và giải pháp bảođảm và nâng cao chất luợng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án
về mặt lý luận, Luận án bổ sung, phát triển những luận cứ khoa học về
chất luợng xét xử của Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm truớc yêu c ầu của cải
c ách tu pháp , gợi mở cho việc tiếp tục nghiên cứu về chất lượng ho ạt độngcủa c ác cơ quan tư pháp những năm tới
về mặt thực tiễn, những kết quả của Luận án s ẽ góp phần bảo đảm và
nâng cao chất lượng XXST vụ án hình sự Đồ ng thời , L uận án c ó thể được sửdụng như tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập trongchuyên ngành luật hình sự và tố tụng hình sự
7 Bố cục của Luận án
Ngoài phần mở đ ầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và c ác phụlục , Luận án được kết cấu thành 04 chương
Chương 1: T ổ ng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Những vấn đề lý luận về chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hìnhsự
Chương 3: Thực trạng chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của haicấp T ò a án nhân dân tỉnh Hải Dương
Chương 4: Yêu c ầu và giải pháp nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
1.1.1 Nhóm các nghiên cứu về xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Ở Việt Nam,nghiên cứu về XXST vụ án hình sự đã được một số côngtrình khoa học đề c ập tới với nhiều gó c độ tiếp cận khác nhau, cụ thể như sau:
Thứ nhất: Nhóm các nghiên cứu có đề cập tới hoạt động xét xử dưới góc độ tiếp cận là hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước (thực hiện quyền
tư pháp) hoặc chức năng xét xử của nhà nước:
Trang 16Với gó c độ tiếp c ận này , phải kể tới một lo ạt c ác công trình nghiên cứu
lớn của nhiều nhà khoa học nổ i tiếng như: GS.TS Võ Khánh Vinh, “Về quyền
tư pháp trong Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân ở nước ta”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, năm 2003 [84, tr.348]; Nguyễn Đăng
Dung, “Thể chế tư pháp trong Nhà nước pháp quyền ’ ’ , nxb Tư pháp , năm
2004[12]; Đào Trí Úc, ‘‘Chiến lược cải cách tư pháp- Những vấn đề lỷ luận
và thực tiễn” , tạp chí Nhà nước và pháp luật, năm 2004 [77]; Đào Trí Úc , “Hệ
thống tư pháp và cải cách tư pháp ở Việt Nam”, nxb Khoa học xã hội , năm
2002[76]; Nguyễ n Mạnh Kháng , “Cải cách tư pháp và vấn đề tranh tụng”,
Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, năm 2003[36]; các nghiên cứu “Mô hình lỷ
luận Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam”, nxb Công an nhân dân, năm 2003
[21] và “Vai trò của Tòa án trong hệ thống các cơ quan tư pháp”, tạp chí Tòa
án, năm 2002 [19] của t ác giả Phạm Hồ ng Hải; “Một số ỷ kiến về Cải cách tư
pháp ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, T ạp chí Nhà nước và pháp luật,
năm 2014 [53]của tác giả Nguyễn Như Phát; “Chức năng xét xử trong tố tụng
hình sự Việt Nam”, nxb Tư pháp , năm 2009 của tác giả Lê Tiến Châu [8];
“Cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam ’’, T ạp chí Cộng sản điện tử, năm 2007 của tác giả Trần Ngọc
Đường,[17]v v C ác nghiên cứu này mặc dù không đề c ập trực diện tới hoạtđộng XXST vụ án hình sự nhưng đây là những nghiên cứu lý luận cơ b ản vềquyền tư pháp nó i chung , trong đó c ó ho ạt động xét xử Điều khái quát có thểrút ra từ những nghiên cứu này đó là ho ạt động xét xử và hệ thống cơ quanxét xử là T ò a án luôn c ó vị trí trung tâm trong hệ thống tư pháp và là khâu độtphá, quan trọng trong tiến trình cải c ách tư pháp hiện nay của Việt Nam C ácnghiên cứu đều thống nhất về nội dung của hoạt động xét xử, đó là ho ạt độngnhân danh quyền lực nhà nước nhằm xe m xét, đánh gi á và ra phán quyết vềtính hợp pháp và tính đúng đ ắn của hành vi pháp luật hay quyết định phápluật khi có sự tranh chấp và mâu thuẫn giữa các bên có lợi ích khác nhau [75,
Trang 17tr.57] Ho ạt động xét xử có mối quan hệ trực tiếp và c ó ý nghĩa quan trọngnhất đối với việc bảo đảm thực hiện và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp phápcủa công dân, tổ chức b ởi quá trình xét xử liên quan mật thiết đến việc ra cácquyết định liên quan đến các quyền kinh tế, chính trị , văn hóa của cá nhân,
tổ chức và các quyết định này được bảo đảm thi hành bằng quyền lực của nhànước Ngoài ra, dưới gó c độ là chức năng của tố tụng hình sự, xét xử được coi
là chức năng giải quyết, xem xét và xử các vụ án [54]
Thứ hai: Nhóm các nghiên cứu đề cập trực diện tới xét xử sơ thẩm hình sự:
Trang 18C ó khá nhiều công trình nghiên cứu trực diện về XXST hình sự nói chungcũng như từng nội dung cụ thể thuộc giai đo ạn XXST hình sự Một số công trình
nghiên cứu như nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thủy, “Hoàn thiện thủ tục
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, năm 2009[66]; Võ Thị Kim Oanh, “Xét xử
sơ thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam””, Luận văn thạc sĩ luật học , Viện Nhà
nước và Pháp luật , năm 2006 [49]; tác giả Đinh Văn Quế “Thủ tục xét xử sơ
thẩm trong Tố tụng hình sự Việt Nam””, nxb Chính trị quốc gia, năm 2000 [59];
Nguyễn Cường, “Bàn về trình tự thủ tục tố tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm””,
Tạp chí Dân chủ và pháp luật, năm 1997 [10]; tác giả Nguyễn Thái Phúc , “Đổi
mới phiên tòa sơ thẩm hình sự nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ’’, Tạpchí
Nhà nước và Pháp luật, năm 2009 [58]; Nguyễn Văn Huyên, “Căn cứ quy
định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật,
năm 1997 [34]; L ê Thị Tuyết Hoa, “Nâng cao chất lượng thực hành quyền công
tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm””, Tạp chí Kiểm sát, năm 2001 [26]; Nguyễn
Th T yết “ ‘Một số vướng mắc, bất cập trong truy tổ và xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự””, Tạp chí Tòa án nhân dân, năm 2015 [74]; Nguyễn Thị Thu Hiền, Luận
văn thạc sĩ luật học: “Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự””, Đại học Luật Hà
Nội , năm 2011 [25] v.v
T ác giả Dương Văn Thăng , L uận án tiến sĩ luật học: “Ảp dụng pháp
luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án Quân sự ở Việt Nam hiện nay ’’, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2017 [63], đã hệthống hó a c ác quan điểm về XXST và XXST vụ án hình sự và đưa ra kháiniệm về áp dụng pháp luật trong xét xử c ác vụ án hình sự
Tác giả L ê Thanh Phong trong công trình “Xét xử sơ thẩm hình sự từ thực
tiễn thành phổ Hồ Chí Minh ’’, Luận án tiến sĩ luật học , Học viện Khoa học xã
hội , năm 2018 đưa ra khái niệm “xét xử sơ thẩm hình sự là giai đo ạn trung tâmcủa tố tụng hình sự do Tò a án cấp xét xử sơ thẩm thực hiện diễn ra dưới hình
Trang 19thức phiên tòa sơ thẩm, trên cơ sở tranh tụng của bên buộc tội và bên bào chữa,giải quyết thực chất vụ án bằng bản án kết tội bị cáo , quyết định hình phạt, cácbiện pháp tư pháp ho ặc bản án tuyên bị cáo không có tội” [56, tr.33].
Trang 20Điều khái quát có thể rút ra từ c ác nghiên cứu này là quá trình giải quyếtmột vụ án hình sự cụ thể phải trải qua nhiều giai đo ạn khác nhau trong đó XXST
là giai đoạn quan trọng Các nghiên cứu tiếp cận XXST dưới góc độ là một giai
đo ạn của tố tụng hình sự, đồng thời là một chế định của Luật tố tụng Hình sự.Khái niệm “Sơ thẩm” có nhiều cách giải thích khác nhau như được hiểu là xét
xử vụ án với tư c ách là T òa án ở cấp thấp nhất [55, tr.836], ho ặc hiểu là l ần đầutiên đưa vụ án ra xét xử tại một T òa án c ó thẩm quyền [44] ho ặc hiểu là xétxửvụ án mà bị cáo , người bị hại , đương sự có quyền kháng cáo và VKS cóquyền
kháng nghị để yêu c ầu T òa án cấp trên trực tiếp xét xử l ại [37]
Xét xử sơ thẩm bắt đầu từ khi nào thì hiện có nhiều quan điểm khácnhau C ó quan điểm cho rằng XXST b ắt đầu từ khi mở phiên tòa sơ thẩm
ho ặc b ắt đ ầu từ khi VKS chuyển hồ sơ sang T ò a án và cho đến khi kết thúc
phiên tòa Tác giả Lê Thanh Phong trong Luận án tiến sĩ luật học “Xét xử sơ
thẩm hình sự từ thực tiễn thành phổ Hồ Chí Minh ’ ’ , năm 2018 tiếp c ận XXST
hình sự là một giai đo ạn độc l ập của tiến trình tố tụng hình sự được b ắt đ ầu từkhi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử và kết thúc khi T ò a án sơ thẩmtuyên bản án hoặc ra quyết định đình chỉ vụ án [56, tr.33]
Vai trò và ý nghĩa của XXST vụ án hình sự đã được phân tích trong các
nghiên cứu: Lê Tiến Châu, ‘‘Chức năng xét xử trong tổ tụng hình sự Việt
Nam ’’, nxb Tư p háp , năm 2009 [8]; Phạm Hồ ng Hải, “Mô hình lý luận Bộ
luật Tổ tụng hình sự ở Việt Nam ’’, nxb Công an nhân dân, năm 2003 [21];
Hoàng Mạnh Hùng, “Hiệu quả của hoạt động xét xử trong tổ tụng hình sự ’’,
Luận án Tiến sĩ L uật học, Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam, năm
2010[30] C ác nghiên cứu đều chỉ rõ XXST vụ án hình sự là giai đo ạn tố tụng
mở đầu cho toàn bộ ho ạt động xét xử Vì vậy, việc tìm hiểu, giải thích, làmsáng tỏ thủ tục XXST không chỉ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả XXSTcác vụ án hình sự mà c òn có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động của các
Trang 21cơ quan tiến hành tố tụng.
Thứ ba: Nghiên cứu về việc bảo đảm các nguyên tắc của xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự.
Trang 22C ác nghiên cứu về XXST đều đã ít nhiều đề c ập đến c ác nguyên tắcXXST vụ án hình sự C ó thể kể tới một số nghiên cứu như của tác giả Nguyễn
Tiến L ong , “Một sổ giải pháp để đảm bảo quyền và ngh ĩa vụ của người bào
chữa khi tranh tụng tại phiên tòa xét xử hình sự’’, Tạp chí Kiểm sát, năm
2005; Đỗ Thị Ngọc Tuyết, “Bàn về nguyên tắc độc lập xét xử của Tòa án vàviệc
tăng cường tranh luận tại phiên tòa xét xử hình sự””, Tạp chí Kiểm s át ,
năm 2004 [73]; Phạm Hồng Hải, ““Đảm bảo quyền bào chữa của người bị
buộc tội””, nxb Công an nhân dân, năm 2003 [20]; L ê Tiến Châu, ‘‘Một số vấn
đề về tranh tụng trong tố tụng hình sự’’, T ạp chí Khoa học pháp lý , số 1, năm
2003 [9]; Phạm Hồ ng Hải , ““Một số biện pháp đảm bảo thực hiện nguyên tắc
“Khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm độc lập và ch ỉ tuân theo pháp luật””, Tạp
chí Nhà nước và pháp luật, số 5, năm 2003 [22]; Võ Quốc Tuấn, ““Bảo đảm
quyền con ngườ của bị cáo trong hoạt động tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự””, T ạp chí Nghiên cứu l ập pháp , năm 2015 [71];
Hoàng Thị Sơn, ““Khái niệm quyền bào chữa và việc đảm bảo quyền bào chữa
của bị can, bị cáo””, Tạp chí Luật học , năm 2000 [61]; Chu Thị Trang Vân,
“Tìm hiểu một số nguyên tắc áp dụng pháp luật trong quá trình xét xử vụ án hình sự’’, T ạp chí Nhà nước và Pháp luật , năm 2001 [81].Đây là những quanđiểm, tư tưởng về quá trình giải quyết vụ án hình sự đã được quy đ ịnh trongBLTTHS và buộc các chủ thể tham gia vào giai đo ạn XXST vụ án hình sựphải tuân theo Các nguyên t ắc là chuẩn mực cho c ác hành vi pháp lý của cácchủ thể trong giai đo ạn XXST vụ án hình sự Các nguyên tắc này gồ m nguyêntắc pháp chế XHCN, nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản củacông dân, nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước phápluật, nguyên tắc bảo đảm việc tham gia phiên tòa của các tổ chức xã hội vàcông dân, nguyên t ắc x ác đ ịnh sự thật của vụ án
Trang 23T ác giả Hoàng Văn Thành, L uận án tiến sĩ lu ật học: “Bảo đảm nguyên
tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu của cải cách tư pháp ở Việt Nam ’’, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,
năm 2015 [64], đã phân tí ch cơ s ở lý luận của việc bảo đảm nguyên tắc tranhtụng trong phiên tò a xét xử sơ thẩm VAHS , đánh giá sự vận dụng nguyên tắctrong hoạt động của c ác cơ quan tiến hành tố tụng và đưa ra c ác giải pháptrong quá trình thể chế hóa quy đị nh của Hiến pháp 2013 về bảo đảm nguyêntắctranh tụng trong ho ạt động xét xử sơ thẩm VAHS the o yêu c ầu cải c ách tupháp ở Việt Nam hiện nay
1.1.2 Nhóm các nghiên cứu liên quan đến quan niệm về chất lượng xét xử
Duới gó c độ ngôn ngữ học , “chất luợng” đuợc giải thích trong các từ
điển nhu: Hoàng Phê , Từ điển Tiếng Việt,, Viện Khoa học xã hội Việt Nam,
năm 1997 [55]; Nguy ễ n Lân, Từ điển từ và ngữ Hán Việt,, nxb TP H ồ Chí
Minh, năm 1989 [39] Theo đó , chất luợng thuờng đuợc sử dụng đối lậpvới số luợng và để chỉ những đặc điểm bên trong t ạo nên phẩm chất, giá trịcủa một sự v ật [55, tr.155] Từ “luợng” nghĩa là sức chứa bên trong và nhuvậy chất luợng đuợc hiểu là t inh quy đị nh bản chất cũng nhu đ ặc điểm, tínhcách vốn có của sự vật có giá trị riêng biệt [39, tr.102] Từ điển Hành chínhgiải nghĩa “chất luợng đào t ạo, bồ i duỡng” chinh là cái t ạo nên giá trị, ýnghĩa thực tế của ho ạt động đào t ạo, b ồ i duỡng [18, tr.50]
Qua khảo sát và thu thập các công trình nghiên cứu ở Việt Nam, Luận
văn thạc sĩ luật học: “Chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn
thành phố Đà Nắng ’’, Học viện Khoa học xã hội , năm 2017 của tác giả Trần
Văn Hậu là nghiên cứu duy nhất đến thời điểm này đề c ập trực tiếp đến “chấtluợng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự” T ác giả Trần Văn Hậu đua ra khái niệm:
“Chất luợng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là giá trị của ho ạt động xem xétđánh gi á bản chất pháp lý đối với vụ án hình sự b ởi Tòa án cấp thứ nhất bằngviệc ra bản án quyết định bị cáo có tội hay không có tội, hình phạt và biện
Trang 24pháp tu pháp , cũng nhu c ác quyết định tố tụng khác the o quy định của phápluật” [24, tr.33].
Trang 25Tác giả Thân Quốc Hùng trong Luận án tiến sĩ luật học “Chất lượng xét
xử các vụ án hành chính của Tòa án nhân dân cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay ’’,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chi Minh, năm 2018 đua ra khái niệm về chấtluợng xét xử các vụ án hành chinh nhu sau: “Chất luợng xét xử các vụ ánhành chính của Tòa án nhân dân cấp tỉnh là những kết quả của quá trình đánhgiá,
sử dụng chứng cứ, áp dụng pháp luật của T ò a án để đưa ra những phánquyết đúng đ ắn, khách quan phù hợp với quy đị nh pháp luật, với chuẩn mựcđạo đức xã hội nhằm giải quyết kịp thời các tranh chấp phát sinh trong quan
hệ pháp luật hành chính” [33, tr.34] Như vậy, tác giả tiếp cận chất lượng xét
xử vụ án hành chính là sự phù hợp giữa kết quả của quá trình T ò a án đánhgiá, sử dụng chứng cứ, áp dụng pháp luật với mục đích của xét xử vụ án hànhchính là nhằm giải quyết kịp thời các tranh chấp phát sinh trong quan hệ phápluật hành chính
Khái niệm “chất lượng xét xử” và “hiệu quả xét xử” thường được đề
c ập cùng nhau và dường như c ó những điểm tương đồng Tài liệu “Tổng quan
về xét xử sơ thẩm vụ án hành chính ’ ’ chỉ ra rằng hiệu quả của pháp luật là
mức độ đạt được các mục đích mà c ác nhà làm luật đặt ra khi xây dựng cácquy phạm pháp luật và mức độ đạt được các mục đích được nhận biết qua cáctiêu chí, yếu tố đánh gi á hiệu quả của một quy phạm pháp luật nói chung [29,tr.11] Khi đ ặt vào bối cảnh XXST vụ án hành chính, hiệu quả xét xử vụ ánhành chính được hiểu là những kết quả có lợi có được khi tiến hành XXST vụ
án hành chính mà nhà nước đ ặt ra khi ban hành các quy phạm pháp luật điềuchỉnh quan hệ xã hội xuất hiện xung quanh ho ạt động XXST vụ án hànhchính; vì thế, hiệu quả XXST vụ án hành chính được xem xét dưới hai gócđộ: (1) hiệu quả XXST vụ án hành chính mà nhà nước hướng tới, và (2) hiệuquả XXST vụ án hành chính đạt được trên thực tế so với mục đích đã đặt ra
[29, tr.11]
Trang 26Hiệu quả của xét xử vụ án hình sự nó i chung đã được đề cập trong
Luận án tiến sĩ luật học “Hiệu quả của hoạt động xét xử trong tố tụng hình
sự”, Học viện Khoa học xã hội , năm 2010 của tác giả Hoàng Mạnh Hùng
[30], the o đó hiệu quả của ho ạt động xét xử là “những giá trị xã hội mà bản ánmang lại nhằm phục hồ i các quan hệ xã hội đã bị tội phạm xâm hại, bảo đảm
ổn định trật tự xã hội và thực thi pháp luật trên các phương diện chính trị,kinh tế ,văn hó a, quốc phòng, an ninh và các yêu c ầu khác của sự tiến bộ xãhội” Đ ồng thời, tác giả cũng nhấn mạnh các yếu tố ảnh huởng tới hiệu quảcủa xét xử trong tố tụng hình sự gồm hệ thống c ác quy đị nh pháp luật, chấthrợng của Thẩm phán, môi truờng chính trị và khả năng lo ại trừ ảnh huởngtác động từ phía hành chính quản lý , c ác điều kiện để bảo đảm cho ho ạt độngxét xử Với cách tiếp c ận này , duờng nhu “chất l uợng xét xử” và “hiệu quảxét xử” c ó nhiều điểm giao thoa về c ác yếu tố ảnh huởng
1.1.3 Nhóm các nghiên cứu liên quan đến tiêu chí chất lượng xét xử
Tác giả Trần Văn Hậu trong Luận văn thạc sĩ “Chất lượng xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn thành phố Đà Nắng’’, Học viện Khoa học xã
hội , năm 2017 đã đua ra c ác tiêu chí đánh gi á chất luợng XXST VAHS bao
gồ m [24]: (1) tỷ lệ án xử oan nguời vô tội; b ỏ lọt tội phạm; án tồ n quá hạnluật đ ịnh trên tổng số án thụ lý, giải quyết; (2) Tỷ lệ án bị hủy để điều tra, xét
xử lại trên tổng số án thụ lý, giải quyết; (3) Tỷ lệ án bị sửa trên tổng số án thụ
lý, giải quyết; (4) Tỷ lệ án trả hồ sơ điều tra bổ sung không đúng quy đ ịnh củapháp luật trên tổng số án thụ lý, giải quyết; (5) Tỷ lệ án, quyết định tuyênkhông rõ ràng gây khó khăn cho công tác thi hành án Bên cạnh đó , tác giảcho rằng cơ s ở xác đ ịnh chất luợng XXST VAHS bao gồm những yêu c ầu cơbản đối với ho ạt động xét xử án hình sự của TAND Các yêu c ầu đó bao gồ m:(1) việc ban hành bản án, quyết định đúng thẩm quyền the o đúng quy đ ịnhcủa pháp luật tố tụng hình sự; (2) thời hạn tiến hành các thao tác tố tụng theođúng quy đ ịnh của pháp luật; (3) bảo đảm tính chính xác và khách quan của
Trang 27bản án, quyết đ ịnh Tòa án; (4) bản án, quyết đị nh của Tòa án có hiệu lực phápluật đuợc cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữuquan nghiêm chỉnh chấp hành; (5) phiên tòa xét xử là di ễn đàn dân chủ, kháchquan và trang nghiêm.
Trang 28Luận án tiến sĩ luật học “Chất lượng xét xử các vụ án hành chính
của Tòa án nhân dân cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay ’’ của Thân Quốc Hùng,Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2018 [33] đã đưa ra các tiêu chíđánh giá chất lượng xét xử các vụ án hành chính của TAND cấp tỉnh bao
g ồ m: (1) tiêu chí về đạo đức nghề nghiệp của những người tiến hành tốtụng hành chính; (2) Tiêu chí v ề sự tuân thủ pháp lu ật trong xét xử các vụ
án hành chính của TAND cấp tỉnh; (3) tiêu chí chuyên môn, nghi ệp vụ và
kỹ năng x é t xử các vụ án hành chính của TAND cấp tỉnh; (4) tiêu chí về sốlượng bản án quyết đị nh của Tòa án bị hủy, sửa
Có thể thấy ở Việt Nam chưa c ó nhiều nghiên cứu đề c ập trực diện đến
“chất lượng xét xử” , c ác nghiên cứu chủ yếu phản ánh gián tiếp một phần chấtlượng của ho ạt động xét xử thông qua đánh gi á về chất lượng ho ạt động ápdụng pháp luật trong giai đo ạn XXST Ở gó c độ tiếp cận này, chất lượng của
ho ạt động áp dụng pháp luật trong giai đoạn XXST đã phần nào là cơ s ở đểđánh giá chất l ượng của ho ạt động XXST
Tiêu chí để đánh gi á chất lượng của ho ạt động áp dụng pháp luật tronggiai đoạn XXST VAHS cũng đã được đề c ập trong nghiên cứu của tác giả Đàm
Cảnh L ong, Luận văn thạc sĩ luật học“Áp dụng pháp luật hình sự của Tòa án
nhân dân qua thực tiên tỉnh Thanh 1lóa" Khoa Luật - ĐH Quốc gia Hà Nội,
năm 2012[41] gồm: (1) Xét xử thấu tình đạt lý; (2) Việc áp dụng pháp luật hình
sự của Tòa án phải thực sự dân chủ, minh b ạch, bảo vệ các quyền lợi chính đánghợp pháp của công dân; (3) Việc áp dụng pháp luật hình sự của Tòa án phải gópphần nâng cao ý thức pháp luật của người dân, góp phần khuyến khích hành vihướng thiện, hợp pháp, phòng chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác;(4) Việc áp dụng pháp luật hình sự của Tòa án phải góp phần tích cực vào việcthực hiện đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước
Trang 29Tác giả Dương Văn Thăng, Luận án tiến sĩ luật học: “Áp dụng pháp luật
trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án Quân sự ở Việt Nam hiện nay ’’, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2017 , nhận diện các yếu
tố
tác động đến ho ạt động áp dụng pháp luật trong XXST các VAHS của Tòaánquân sự bao gồ m: (1) chất lượng của hệ thống pháp luật hình sự, tố tụng hìnhsự
và các quy phạm pháp luật khác có liên quan; (2) năng lực , trình độ, phẩm chấtcủa các chủ thể áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ án hình sự; (3) sự lãnh đạocủa các cấp ủy Đảng đối với công tác xét xử; (4) mức độ phù hợp của cơ cấu tổchức bộ máy Tòa ánquân sự và c ác cơ quan b ổ trợ tư pháp; (5) quan hệ phối hợp
và chế ước hiệu quả giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong quân đội; (6 ) cơ sởvật chất, trang thiết bị và chính sách đãi ngộ; và (7) sự giám sát của cơ quan dân
cử và phát huy quyền làm chủ của nhân dân [63]
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiếnlược cải c ách tư pháp đến năm 2020 đã đưa ra những yêu c ầu hoàn thiện hệthống tư pháp để hướng tới mục tiêu bảo vệ công lý, lẽ phải, công bằng thì
c ác cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của người dân trong việc bảo vệcông lý, quyền con người [69] Các mục tiêu này đồ ng thời cũng là yêu c ầuđối với nâng cao chất lượng xét xử của hệ thống T ò a án và là căn cứ để xác
đ ịnh tiêu chí chất lượng xét xử của Tòa án
Trang 30Nhiều bài viết, công trình đề c ập đến một số khía c ạnh liên quan củacải c ách tư pháp và chất lượng xét xử của T ò a án như: Tr ần Huy Liệu, Luận
án tiến sĩ luật học “Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp
theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam ’’, Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2003 [40]; Bộ Tư pháp , “Chương trình KHXH
cấp Nhà nước giai đoạn 2001-2005, KX.04, đề tài KX.04.06: Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống các thủ tục tư pháp nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của Tòa án trong Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân ’’, Báo cáo kết quả tổ ng hợp nghiên cứu, năm 2006 do TS Uông
Chu Lưu làm Chủ nhiệm [52]; Trương Hòa Bình, “Tòa án giữ vai trò Trung
tâm trong quá trình Cải cách tư pháp ở Việt Nam ’’, T ạp chí Tòa án nhân dân,
số 2 , năm 2009 [3]; Nguy ễn Đăng Dung , “Tòa án Việt Nam trong bối cảnh
xây dựng nhà nước pháp quyền ’’, nxb Đại học Quốc gia Hà Nội , năm 2012
[13]; Trương Hòa Bình, “Tiếp tục hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt độngcủa
Tòa án nhân dân, tương xứng với chức năng, nhiệm vụ “Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện quyền
tư pháp ’’, T ạp chí Tòa án nhân dân, số 7 , năm 2014 [4]; Võ Trí Hảo, “Dân
chủ và sự độc lập của Tòa án ’’, T ạp chí Nghề luật, số 7 , năm 2004 [23];
Viện Nhà nước và Pháp luật, “Hệ thống tư pháp và cải cách tư pháp ở Việt
Nam ’’, nxb Khoa học xã hội , năm 2004 [43]v V C ác định hướng hoàn thiện
tổ chức, ho ạt động của hệ thống Tò a án là điều kiện bảo đảm chất lượng xét
xử nói chung và chất lượng XXST vụ án hình sự nói riêng Nguyên t ắc độclập và chỉ tuân theo pháp luật là “tiền đề nền tảng của tư pháp trong Nhànước pháp quyền” [11, tr.32] b ởi nguyên tắc này bảo đảm cho Tò a án đưa raquyết định, bản án đúng pháp luật, công bằng và khách quan Do v ậy, việc
đổ i mới mô hình t ổ chức, ho ạt động của Tòa án nhằm nâng cao t ính độc lậpcủa Tòa án góp phần quan trọng đạt được mục tiêu nghiêm minh, công bằng,dân chủ và chất lượng của ho ạt động xét xử - khâu trung tâm của cải cách tưpháp ở Việt Nam
Trang 31Công trình nghiên cứu của GS.TS Võ Khánh Vinh, “Giáo trình các cơ
quan bảo vệ pháp luật ’’ , nxb Công an nhân dân, năm 2003 , đã nhấn mạnh
đến các nguyên t ắc xét xử của T ò a án , cơ chế bảo đảm ho ạt động của Tòa án
và những yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động xét xử của Tòa án[83].Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu liên quan đến ho ạt động và cảicách ho ạt động của các cơ quan tư pháp nói chung và hệ thống tư pháp hình
sự nó i riêng như: L ê Cảm, “Bàn về tổ chức quyền tư pháp - Nội dung cơ bản
của chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 ’’, Tạp chí Kiểm sát, số 23,
năm 2005 [5]; Lê Cảm, “Các yêu cầu bảo đảm cho hoạt động của hệ thống tư
pháp hình sự trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền ’’, Tạp chí Nhà
nước và Pháp luật, số 9 , năm 2006 [6]; tác giả Nguy ễ n Thái Phúc, “Mô hình
tố tụng hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiên ’’, Tạp chí Khoa
học pháp lý, số 5 , năm 2007 [57]; Đào Trí Úc , “Cải cách tư pháp và hoàn
thiện nguyên tắc trong tố tụng hình sự ’’, Tạp chí Kiểm sát, số 8 , năm 2012[79];
Đào Trí Úc , ‘‘Cải cách tư pháp và chống oan sai ’’ , T ạp chí Nghiên cứu
l ập pháp, số 7 , năm 2013 [80]; Nguy ễn Duy Hưng , “Cải cách tư pháp theo
mô hình tố tụng nào? ’’ , năm 2012 [31] v.v
Như vậy, vấn đề đánh giá chất lượng ho ạt động xét xử đã ít nhiều được
đề c ập nghiên cứu ở Việt Nam, tuy nhiên nghiên cứu về c ác tiêu chí đánh gi áchất lượng của ho ạt động áp dụng pháp luật của Tòa án hay chất lượng của
ho ạt động xét xử nói riêng thì mới chỉ dừng lại là các tiêu chí rất chung vàchưa c ó c ác tiêu chí thành phần (chỉ số đánh giá) để làm cơ s ở đánh gi á chấtlượng của ho ạt động xét xử trên thực tiễn Ngoài ra, c ác tiêu chí đánh giá mớichỉ phản ánh một chiều về các yêu c ầu, các bảo đảm mà Tòa án và hệ thống
tư pháp tự đặt ra cho mình mà thiếu các tiêu chí phản ánh về cảm nhận củacông chúng, cảm nhận của các tổ chức, cá nhân b ị tác động; đồ ng thời thiếutính liên kết giữa c ác tiêu chí đánh giá chất lượng của ho ạt động xét xử vớicác yếu tố tác động tới chất lượng của ho ạt động xét xử
1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Trang 321.2.1 Nhóm công trình nghiên cứu về quan niệm chất lượng xét xử
Trên thực tế, thuật ngữ “chất lượng” thường được sử dụng như mộtkhái niệm kỹ thuật (te chnical conc ept) để chỉ chất lượng hàng hóa, dịch vụ
ho ặc việc cung cấp chất lượng hàng hóa, d ị ch vụ ở khu vực tư [86] The o đó ,việc đánh giá chất lượng của một dịch vụ c ần tính đến nhu c ầu và sự hài lòngcủa khách hàng Sau đó , ý tưởng “tư duy chất lượng” (quality - thinking)được áp dụng để đánh giá d ịch vụ được cung cấp không chỉ bởi khu vực tư
mà còn b ởi khu vực công, bao gồ m tư pháp [86] Vì v ậy, các thuật ngữ như
“quality of justice ” hoặc “judicial quality” xuất hiện, the o đó “tư pháp” đượccoi là một dịch vụ công, và chất lượng của tư pháp là chất lượng của việccung cấp một dịch vụ công [107]
Trang 33Bên c ạnh “chất lượng” , một thuật ngữ khác thường được nhắc đến là
“hiệu quả” “Chất lượng” và “hiệu quả” là hai khái niệm có nhiều điểmtương đồ ng và thường được đặt cạnh nhau trong cùng một bối cảnh liênquan đến
tư pháp [107] Tuy nhiên , đây là hai khái niệm c ần được phânbiệt với nhau, từ đó xác định cách thức đo lường “chất lượng” và “hiệu
quả” Bài viết “Efficieny, Effectiveness and Performance of the public
s e ctor ’ ’ [99]phân biệt đo lường hiệu quả- là tỷ lệ giữa kết quả thực tế đạtđược so với mức độ kỳ vọng với đo lường hiệu suất- là xe m xét kết quả đ ạtđược trong mối quan hệ với nguồ n lực được sử dụng Như vậy , “hiệu quả”chủ yếu hướng đến kết quả của một quá trình
Trong khi đó , đo lường chất lượng của dịch vụ được thiết kế để đánhgiá mức độ thỏa mãn các yêu c ầu của người dân đối với dị ch vụ công [99].Với cách tiếp c ận như vậy, khái niệm chất lượng không chỉ hàm ý chất lượngcủa dịch vụ được cung cấp mà cò n là chất lượng của quy trình cung cấp vàchất lượng của hệ thống; đồ ng thời nó bao hàm cả tính hiệu quả - so sánh mụcđích đ ặt ra và kết quả đạt được và hiệu suất - đạt được mục đích với chi phíthấp nhất [99, 107] Tuy nhiên, chất lượng là một khái niệm chung chung vàquá phức t ạp để có thể đo lường bằng những chỉ số
Trang 34Tác giả Robert A Baruch Bust đã cố gắng định nghĩa “chất lượng” tronggiải quyết tranh chấp dưới hai góc độ [88] Thứ nhất, chất lượng chỉ một quy
trình giải quyết tranh chấp được thực hiện theo cách nhằm đáp ứng các yêu c ầuriêng có của quy trình đó Ở gó c độ này, chất lượng được hiểu là việc đáp ứngtrên thực tế những hình thức vốn có của một quy trình cụ thể và vì thế định nghĩachất lượng là khác nhau tùy vào từng quy trình cụ thể Đây là quan niệm “tínhthống nhất quy trình” của chất lượng Ở khía cạnh khác, chất lượng có thể được
sử dụng để chỉ quá trình giải quyết tranh chấp để thỏ a mãn mục đích cá nhân
ho ặc xã hội mà người áp dụng quy trình cho là quan trọng Ở đây, chất lượngđược hiểu đơn giản là quá trình thúc đẩy việc đạt được kết quả và vì thế địnhnghĩa chất lượng không khác nhau trong c ác quy trình khác nhau, được xác định
ở mục tiêu cuối cùng mong muốn đạt được Cách tiếp c ận này được gọi là “quanniệm thúc đẩy mục đích” của chất lượng Quan niệm “thúc đẩy mục đích” dườngnhư được đề cập nhiều hơn trong các nghiên cứu, tuy nhiên quan điểm “tínhthốngnhất quy trình” cũng c ần được xem xét bởi nó có thể gây ra trở ngại choviệc đạt được mục đích mong muốn Các phân tích này của tác giả Robert A.Baruch Bust có thể được sử dụng để tham khảo trong việc định nghĩa và nhândiện “chất lượng xét xử” khi xem xét “xét xử” dưới gó c độ là một quy trình
Trang 35Nghiên cứu “Investigating the factors influencing the quality of
adjudication of complex payment disputes in Australia ’’ cho rằng chất lượng
xét xử (adjudication quality) c ần được xem xét trên cả khía cạnh thủ tục vànội dung của phán quyết của cơ quan xét xử [104] Trong xét xử, mức độ hợp
lý của chất lượng có thể được xác định trên phương diện phán quyết của cơquan xét xử đáp ứng những yêu cầu căn bản và chủ yếu của hệ thống giảiquyết tranh chấp, cụ thể: cơ quan xét xử hành xử trong khuôn khổ thẩm quyềntài phán do pháp luật quy định; các thành tố của công lý tự nhiên (naturaljustice); tính công bằng về thủ tục; cơ quan xét xử thực hiện thẩm quyền luậtđịnh với thiện chí; phán quyết của cơ quan xét xử không mắc phải những sai sót
về thẩm quyền mà có thể ảnh hưởng căn bản đến việc ra quyết đ ịnh Từ nhữngyêu cầu này, nghiên cứu xác định 5 yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng xét xử,
gồ m: (1) b ổ nhiệm người xét xử; (2 ) quy định về tiêu chuẩn của người xét xử;(3) khả năng xe m xét l ại phán quyết; (4) thời gian tiến hành quy trình xét xử; và
(5) thẩm quyền của người xét xử Trong khi đó , công trình “Evaluation of the
Quality of adjudication in courts of law ’’[103] được thực hiện ở các Tòa án củaPhần L an đã kết luận rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng xét xử như(1) quy mô và sự phù hợp của các nguồn lực có sẵn của Tòa án (nhân sự, cơ s ởvật chất, trang thiết b ị kỹ thuật), (2) kỹ năng và kiến thức của Thẩm phán và cácnhân sự khác của tòa, (3 ) c ác quy đ ịnh tố tụng thúc đẩy thực hiện các thủ tụcxét
xử một cách nhanh chóng, (4) tổ chức xét xử ở các Tòa án khác nhau, (5) quản
lý Tòa án, và (6) công việc của công tố viên và luật sư C ách tiếp c ận này khôngchỉ giới hạn “chất lượng xét xử” là chất lượng của phán quyết của Thẩm phán -sản phẩm/hay kết quả cuối cùng, mà còn mở rộng ra khía cạnh quản lý hànhchính của T òa án (court administration) Đây là xu hướng ngày càng phổ biếntạicác quốc gia trên thế giới bởi nó tính đến quan điểm của khách hàng (hayngười
dân) và các vấn đề khác có liên quan Tuy nhiên, cách tiếp cận này có thể dẫn
Trang 36đến khó khăn trong việc phân biệt khái niệm “chất lượng xét xử” và “chất lượng
ho ạt động của Tò a án”
Bên c ạnh việc mở rộng phạm vi của “chất lượng xét xử” ra khía cạnhquản lý hành chính của tòa, một số ý kiến xem “xét xử” là một phân hệ của tưpháp hình sự bao gồm truy tố, bào chữa và xét xử [89, 100] Trong đó , Tò a ánkhông chỉ đưa ra phán quyết trong từng vụ việc cụ thể mà còn có trách nhiệmbảo đảm các cấu thành của hệ thống (cơ quan truy tố, và luật sư bào chữa) ho ạtđộng tuân theo pháp luật [89, tr.87] Cách tiếp c ận này đ ặt ra yêu c ầu chấtlượng xét xử phải bao gồm các tiêu chuẩn đối với ho ạt động của cơ quan truy
tố, bào chữa và Tòa án
Trang 37Các tác giả Susskind và Cruikshank cho rằng có sự đánh đổ i nhất địnhgiữa công bằng và hiệu quả [104, tr.86], tuy nhiên Brian J Ostrom và Roger
A Hanson trong nghiên cứu “Efficiency, Timeliness, and Quality: A New
Perspective from Nine State Criminal Trial Courts ’’ l ại cho rằng chất lượng
xét xử và c ác điều kiện thúc đẩy hiệu quả xét xử không nhất thiết lo ại trừnhau trên lý thuyết và thực ti ễ n [100] Chẳng hạn, xét xử VAHS nhanh chóng(tính kịp thời ) liên quan đến hệ thống Tòa án mà ở đó c ác điều kiện thúc đẩyviệc bào chữa hiệu quả; trong khi đó , bào chữa hiệu quả tuân theo nguyên tắcxét xử công bằng (due process) và bảo vệ b ình đẳng trước pháp luật nên nó làkhía c ạnh không thể tách rời của khái niệm rộng hơn về chất lượng xét xử.Mặc dù v ậy , cũng c ó những câu hỏ i đ ặt ra về việc liệu Tòa án có thể giảm sựchậm trễ/trì hoãn trong khi vẫn duy trì được chất lượng ở các khía c ạnh kháctrong thủ tục tố tụng hay không, chẳng hạn xét xử công bằng, khả năng tiếp
c ận công lý, khả năng chi trả, sự bình đẳng v.v Về vấn đề này, các tác giảSusskind và Cruikshank gợi ý rằng các tiêu chí đánh giá chất lượng xét xử
c ần được xác định dựa trên các mục tiêu l ập pháp và cần đặt ra tiêu chuẩnchất lượng sàn cho các phán quyết để bảo đảm không quá nhấn mạnh đếnhiệuquả khiến cho các bên trong vụ kiện có cảm nhận rằng kết quả xét xử làkhông công bằng [104] Điều này đ ặt ra những thách thức trong việc đị nhnghĩa, đo luờng và phân tích những khía c ạnh quan trọng của chất luợng tạicác phiên tòa xét xử
Các nghiên cứu kể trên đã phần nào đề c ập đến “chất luợng xét xử” và
“chất luợng xét xử VAHS” , nhung đều không đua ra khái niệm thế nào là
“chất luợng xét xử” Mặc dù vậy, mục tiêu mà các nghiên cứu này huớng đến
là nhằm “đo luờng” ho ạt động xét xử của cơ quan nhà nuớc có thẩm quyền
Vì thế , “chất luợng xét xử” nhìn chung nêu lên những đặc điểm, đặc tínhriêng biệt, các yêu c ầu, các chuẩn mực mà ho ạt động xét xử c ần đạt đuợctrong thực ti ễn để duy trì và bảo đảm ý nghĩa đí ch thực của ho ạt động xét xử
1.2.2 Nhóm các nghiên cứu liên quan đến tiêu chí chất lượng xét xử
Trang 38Rất nhiều nghiên cứu đuợc thực hiện với nỗ lực đánh gi á chất luợng tupháp nó i chung và đề ra các chuẩn mực ho ạt động của Tòa án ở các quốc giatrên thế giới The o đó , việc cải thiện chất luợng tu pháp gắn liền với hoạtđộng của Tòa án hoặc của cơ quan tu pháp khác với những tiêu chuẩn và mụctiêu do cơ quan c ó thẩm quyền thiết lập Cơ sở cho cách tiếp c ận này đã đuợcgiải thích trong nghiên cứu của các tác giả Francesco Contini và Davide
Carnevali, “The Quality of justice in Europe: conflict, dialogue and Politics ’’ ,
2010[92] nhu sau: cơ quan c ó thẩm quyền đề ra danh mục các tiêu chí chấtluợng liên quan đến tiêu chuẩn hay mục tiêu, nhận diện các chỉ số đánh giá và đềxuất phuơng thức thu thập dữ liệu; kết quả từ phân tích các dữ liệu thu thập đuợcđối chiếu với các mục tiêu, từ đó nhận diện những khoảng trống và những nguời
có trách nhiệm quản lý và cơ quan tu pháp sẽ thực hiện những thay đổ i để lấpkhoảng trống và cải thiện chất luợng ho ạt động trong những lĩnh vực cụ thể Đểthực hiện đuợc điều này, những yêu c ầu đặt ra bao gồ m: tính rõ ràng của cáctiêu
chí và mục đích đuợc đề ra; tính có thể tin cậy và tính hợp pháp của nhữngphuơng pháp đánh giá, dữ liệu đuợc thu thập và sử dụng; sự độc l ập với cácphán quyết cá biệt; nhân sự trong hệ thống đuợc đánh giá; dữ liệu phải mangtính
có thể so s ánh được giữa các Tòa án với nhau và giữa c ác giai đo ạn khácnhau của cùng một Tòa án; dữ liệu được thu thập với chi phí hợp lý Những tiêuchí này có thể là định lượng ho ặc định tính
Một số tổ chức trên thế giới đã tiến hành các nghiên cứu để nhận diệncác tiêu chí đánh gi á chất lượng tư pháp và chất lượng của Tòa án, cụ thể:
• Văn p hò ng L iên hợp quốc về chống Ma túy và Tội phạm (UnitedNations on Drugs and Crime) phối hợp với cơ quan tư pháp ở một số quốcgia
thực hiện một nghiên cứu năm 2006 và đã nhận diện 0 6 lĩnh vực cơ b ảncủa
ho ạt động của Tòa án, bao gồm: (1) tiếp cận công lý, (2) tính kịp thời; (3)
Trang 39công bằng và hiệu quả cho các Tòa án ở Hoa Kỳ từ năm 1987 Kết quả củasáng kiến này là Bộ tiêu chuẩn hoạt động của Tòa án (Trial CourtPerformance Standards - TCPS) với 68 chỉ số cho 22 tiêu chuẩn trong 5lĩnh
vực khác nhau, bao g ồ m: (1) tiếp c ận công lý; (2) tính kịp thời; (3) bìnhđẳng,
công bằng và thống nhất; (4) độc l ập và trách nhiệm giải trình; (5) niềmtin
của công chúng [86, 89]
Trang 40• Ở châu Âu, các sáng kiến về đánh giá chất lượng tư pháp được đề
xuất từ những năm 90 của thế kỷ 20 Các nghiên cứu: Pim Albers, “The
assessment of court quality: a breach of the independence of the judiciary or
a promising development? ’’[86]; European Commission, “Strengthening
the
quality of judicial systems ’’, 2016 [90]; Antti Savela, “Evaluation of the
quality of adjudication in courts of law: Priciples and proposed quality benchmarks ’’, 2006 [103]; Offíce for Democratic Insitution and Human
Rights, “Assessment of the Performance Evaluation of Judges in Moldova
’’,2014 [101]; Snjezana Bagic , “The prerequisites for moving towards
quality
of justice ’’[87]; Court of Appeal of Rovaniemi, “How to Assess Quality in
the Courts: Quality Benchmarks for Adjudication are a means for the improvement of the activity of the courts ’’, 2005 [102]đã nêu và phân tíchcác
tiêu chí đánh giá chất luợng tu pháp đuợc khởi xuớng ở một số quốc giachâu
Âu nhu Anh, Pháp , Hà L an, Moldova, Phần Lan Chẳng hạn, chuơng trìnhcải
c ách Cơ quan tu pháp Hà L an (Dutch Judiciary) đuợc thực hiện từ năm1999
dựa trên kinh nghiệm của Bộ tiêu chuẩn ho ạt động của Tòa án Hoa Kỳ vàđua
ra 5 lĩnh vực đánh gi á g ồ m: (1) tính độc l ập và thống nhất; (2) tính kịpthời
của thủ tục tố tụng; (3) tính thống nhất của pháp luật; (4) chuyên môn và(5)
c ách đối xử với c ác bên Trong khi đó , từ năm 1995 Phần L an đã xây