Mười năm sau, uy tín của ngân hàng ACB lần nữa bị hạ thấp khi ông Nguyễn Đức Kiên – Nguyên Phó Chủ tịch hội đồng sáng lập ngân hàng ACB bị bắt vì những sai phạm trong hoạt động kin[r]
Trang 1Tập 167, số 07, 2017
Trang 2T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ
CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN – KINH TẾ
Nguyễn Đại Đồng - Hoạt động khai thác mỏ ở Lào Cai dưới thời Gia Long và Minh Mệnh 3
Dương Thị Huyền - Thương mại châu Âu và những tác động đến tình hình chính trị Đàng Trong thế kỷ XVI- XVIII 9
Trần Thị Nhung - Miêu tả tình tiết trong Truyện Kiều và Kim Vân Kiều Truyện 15
Nguyễn Thị Hải Phương - Bản chất của ngôn từ văn học (nghĩ từ bài viết Bản chất xã hội, thẩm mỹ của diễn
ngôn văn học của Trần Đình Sử) 21
Phạm Thị Mai Hương, Nguyễn Thị Thu Trang, Ngô Thị Lan Anh - Ảnh hưởng của lễ hội Vu Lan đến đời
sống đạo đức của nhân dân huyện Quốc Oai, Hà Nội 25
Phạm Thị Ngọc Anh - Hình tượng văn thủy ba trong mỹ thuật cổ Việt Nam và các ứng dụng trên sản phẩm mỹ
Trương Thị Phương - Giải pháp ứng dụng hiệu quả thông tin đồ họa trên báo điện tử 37
Phạm Thị Nhàn - Ẩn dụ từ vị giác “ngọt” trong tiếng Hán hiện đại 43
Lương Thị Thanh Dung – Sự khác nhau về kết cấu chữ Nôm của văn bản Thiền tông bản hạnh giữa bản in
Nguyễn Thị Quế, Phạm Phương Hoa - Đánh giá sự phù hợp của giáo trình New English File đối với việc
giảng dạy sinh viên không chuyên ngữ tại Trường Đại học Khoa học – Đại học Thái Nguyên 55
Hoàng Thị Thắm - Nghiên cứu về siêu nhận thức trong nghe tiếng Anh của sinh viên chương trình tiên tiến tại
Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp – Đại học Thái Nguyên 61
Nguyễn Quỳnh Trang, Dương Công Đạt, Vũ Kiều Hạnh - Thiết kế chương trình bổ trợ nói cho học sinh lớp
10 Trường Trung học Phổ thông Thái Nguyên 67
Nguyễn Khánh Như - Sự phát triển của hệ thống các trường đại học sư phạm trọng điểm Trung Quốc hiện nay 73
Nguyễn Văn Hồng, Vũ Thị Thanh Thủy - Dạy học theo dự án và vấn đề phát triển năng lực nghiên cứu khoa
học cho học sinh trong dạy học Sinh thái học ở trung học phổ thông 79
Trần Thị Phương Thảo, Nguyễn Thị Hoa Hồng - Nâng cao tính ứng dụng trong xây dựng chương trình đào
tạo đại học tại Việt Nam – bài học từ chương trình giáo dục đại học định hướng nghề nghiệp ứng dụng (POHE) 85
Phạm Thị Bích Thảo, Nguyễn Thành Trung - Lựa chọn bài tập thể lực chuyên môn nâng cao kết quả học tập
chạy cự ly ngắn cho sinh viên khóa 14 Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên 91
Lê Huy Hoàng, Nguyễn Thị Huyền, Nguyễn Thị Ngân, Vũ Thị Vân Anh - Phát triển năng lực sử dụng ngôn
ngữ hóa học của học sinh phổ thông trong dạy học các nội dung về hóa học hữu cơ chương trình hóa học lớp 12
Nguyễn Trọng Du - Phỏng vấn ‘nhóm tập trung’: một phương pháp thu thập dữ liệu hiệu quả với các nghiên
Đỗ Thị Thái Thanh, Trương Tấn Hùng, Đào Ngọc Anh - Xây dựng hồ sơ năng lực bồi dưỡng giáo viên thể
dục các trường trung học phổ thông các tỉnh miền núi phía Bắc 109
Nguyễn Ngọc Bính, Dương Tố Quỳnh, Nguyễn Văn Thanh - Thực trạng sử dụng hệ thống phương tiện
chuyên môn trong giảng dạy môn bóng chuyền cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh -
Lê Văn Hùng, Nguyễn Nhạc - Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động câu lạc bộ bóng đá nam sinh viên
Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên 119
Journal of Science and Technology
167 (07)
Trang 3Nguyễn Văn Dũng, Lê Văn Hùng - Một số giải pháp giúp sinh viên lựa chọn môn học tự chọn trong chương
trình giáo dục thể chất dành cho sinh viên không chuyên thể dục thể thao Trường Đại học Sư phạm – Đại học
Nguyễn Văn Chiến, Nguyễn Trường Sơn, Đỗ Như Tiến - Một số kết quả ban đầu trong việc áp dụng CDIO
Đỗ Quỳnh Hoa - Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc xây dựng lối sống cho sinh viên Trường Đại học
Công nghệ Thông tin và Truyền thông – Đại học Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay 135
Phạm Văn Hùng, Nguyễn Huy Hùng - Đánh giá đầu ra của chương trình đào tạo qua mức độ đáp ứng chuẩn
Ngô Thị Lan Anh, Nguyễn Thị Thu Hiền - Yêu cầu khách quan của việc đổi mới quy trình kiểm tra đánh giá
kết quả học tập môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông nước ta hiện nay 147
Trương Thị Thu Hương, Trương Tuấn Anh - Ứng dụng dạy học dự án trong đào tạo giáo viên kỹ thuật tại
Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp - Đại học Thái Nguyên 153
Dương Quỳnh Phương, Trần Viết Khanh, Đồng Duy Khánh - Những nhân tố chi phối đến văn hóa tộc người
và văn hóa cộng đồng dân tộc dưới góc nhìn địa lí học 159
Nguyễn Thị Thanh Tâm, Trần Quyết Thắng, Đào Thị Hương - Đánh giá mức độ hài lòng của khách du lịch
đối với đội ngũ hướng dẫn viên du lịch tại một số công ty kinh doanh lữ hành trên địa bàn thành phố Thái
Nguyễn Văn Chung, Đinh Hồng Linh - Các yếu tố thành công cho website thương mại điện tử: trường hợp
doanh nghiệp du lịch nghỉ dưỡng vừa và nhỏ ở Quảng Bình 171
Đặng Thị Bích Huệ - Dự án hỗ trợ nông nghiệp, nông dân và nông thôn tỉnh Tuyên Quang và các tác động đến
Lương Văn Hinh, Lương Trung Thuyền - Nghiên cứu biến động giá đất ở trên địa bàn thị trấn Thất Khê,
huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011 – 2015 183
Nguyễn Tú Anh, Nguyễn Thị Lan Anh, Nguyễn Thành Minh - Nghiên cứu các mối quan hệ cung ứng dịch
vụ quản trị hoạt động có dịch vụ trách nhiệm xã hội: trường hợp điển cứu tại các công ty dịch vụ vận tải chở
khách vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 189
Nguyễn Thị Thu Thương, Hoàng Ngọc Hiệp - Thực trạng quản lý vốn ngân sách nhà nước cho đầu tư phát
triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên 193
Tạ Thị Thanh Huyền, Nguyễn Mạnh Dũng - Tăng cường quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách
nhà nước trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 199
Nguyễn Thị Kim Huyền - Ứng dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS): kinh nghiệm quốc tế và bài
Nguyễn Thị Nhung, Phan Thị Vân Giang - Tạo động lực cho các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư
nhân đầu tư trực tiếp ra nước ngoài 211
Phạm Thuỳ Linh, Phạm Hoàng Linh, Trần Thị Thu Trâm - Xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam trong bối
Nguyễn Thị Thu Trang, Trần Bích Thủy - Động lực làm việc của cán bộ công chức xã phường: nghiên cứu
Nguyễn Thu Thủy, Hoàng Thái Sơn - Bài học kinh nghiệm trong quản lý rủi ro thanh khoản đối với Ngân
Ngô Thúy Hà - Định hướng phát triển dịch vụ tín dụng cho hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đến năm 2020 237
Trang 4Nguyễn Thu Thủy và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 167(07): 231 - 236
231
BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG QUẢN LÝ RỦI RO THANH KHOẢN
ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU
Nguyễn Thu Thủy1*, Hoàng Thái Sơn2
1
Trường Đại học Kinh tế & Quản trị kinh doanh – ĐH Thái Nguyên
2
Đại học Thái Nguyên
TÓM TẮT
Năm 2003, từ những tin đồn thất thiệt khách hàng đồng loạt rút tiền tại ngân hàng (NH) thương mại cổ phần Á Châu (ACB) gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của NH Mười năm sau,
uy tín của ngân hàng ACB lần nữa bị hạ thấp khi ông Nguyễn Đức Kiên – Nguyên Phó Chủ tịch hội đồng sáng lập ngân hàng ACB bị bắt vì những sai phạm trong hoạt động kinh tế khiến hàng nghìn tỷ đồng của NH bị người dân rút ra chỉ trong vài ngày… Điều này cho thấy công tác quản trị rủi ro thanh khoản (RRTK) tại ngân hàng còn nhiều lỗ hổng cần phải khắc phục ở nhiều khâu Bài viết sẽ nghiên cứu kinh nghiệm quản lý rủi ro tại các ngân hàng thương mại (NHTM) của Viêt Nam để từ đó rút ra những bài học cho ngân hàng ACB nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh trong thời gian tới
Từ khóa: Rủi ro, thanh khoản, ngân hàng, kinh nghiệm, quản lý
Thanh khoản là một thuật ngữ chuyên ngành
nói về khả năng đáp ứng các nhu cầu về sử
dụng vốn khả dụng phục vụ cho hoạt động kinh
doanh tại mọi thời điểm như chi trả tiền gửi, cho
vay, thanh toán, giao dịch vốn Rủi ro thanh
khoản là tình trạng ngân hàng không đáp ứng
được nhu cầu sử dụng vốn khả dụng (nhu cầu
thanh khoản) Tình trạng này nhẹ thì gây thua
lỗ, hoạt động kinh doanh bị đình trệ, nặng thì
làm mất khả năng thanh toán dẫn đến ngân hàng
phá sản Một ngân hàng hoạt động trong tình
trạng tốt, nhưng rất có thể xảy ra đổ vỡ nếu
không quản lý thanh khoản tốt Nếu không có
phương pháp quản lý thanh khoản khoa học
cũng như năng lực quản lý tốt để có kế hoạch
dự trữ thanh khoản hợp lý, thì rất dễ gây sự xáo
động tâm lý của người gửi tiền Sự kiện rút tiền
ồ ạt tại một số NHTM cổ phần là hồi chuông
cảnh tỉnh cho công tác quản lý thanh khoản ở tất
cả các NHTM ở Việt Nam [8]
Hầu hết, các ngân hàng đều biết đến những
tác động nghiêm trọng khi RRTK xảy ra
nhưng để khắc phục được vấn đề này mỗi NH
lại có những cách thức riêng của mình Ngân
hàng ACB và các ngân hàng như:
Techcombank, Maritime Bank mặc dù được
*
Tel: 0986.466.246; Email: thuthuytn1211@gmail.com
thành lập cùng thời điểm nhưng định hướng kinh doanh khác nhau nên tình hình phát triển của mỗi ngân hàng thời gian qua có sự khác biệt Việc tham khảo kinh nghiệm của các NHTM có đặc điểm giống mình sẽ giúp ngân hàng ACB có tìm ra cách thức phù hợp nhằm khắc phục hạn chế trong hoạt động quản lý rủi ro thanh khoản Thêm vào đó, bài viết sẽ nghiên cứu kinh nghiệm quản lý rủi ro thanh khoản tại một ngân hàng nước ngoài có chi nhánh tại Việt Nam để giúp ACB có tầm nhìn
xa hơn trong hoạt động quản trị các rủi ro có thể xảy ra tại ngân hàng
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp thu thập số liệu: các tài liệu được tác giả thu thập tại báo cáo tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh của các NH; các phương tiện thông tin đại chúng như; sách, báo, đài…
- Phương pháp thống kê: tổng hợp số liệu thu thập được vào bảng biểu, bảng kết quả
- Phương pháp so sánh: trên cơ sở các kết quả đạt được tại NH, tác giả tiến hành đánh giá sự khác biệt giữa các năm và các ngân hàng
- Phương pháp chuyên gia: sử dụng các ý kiến, quan điểm của nhà quản lý, nhà lãnh đạo… để làm phong phú hơn phần thông tin
mà ta có được
Trang 5Nguyễn Thu Thủy và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 167(07): 231 - 236
232
KINH NGHIỆM TRONG QUẢN LÝ RỦI
RO THANH KHOẢN TẠI CÁC NHTM TẠI
VIỆT NAM
Hoạt động quản lý rủi ro thanh khoản của
ngân hàng HSBC
Trong hoạt động quản lý RRTK, ngoài việc
tuân thủ các chuẩn mực quốc tế, các qui định
bắt buộc tại các thị trường nơi HSBC hoạt
động, HSBC luôn có chính sách của riêng
mình Các chính sách quản lý RRTK của
HSBC được thiết kế nhằm phát hiện, phân tích,
đặt các mức giới hạn thích hợp cho loại hình
rủi ro này HSBC thường xuyên xem xét lại
các chính sách và hệ thống quản lý rủi ro của
mình để phù hợp với những diễn biến trên thị
trường và những thay đổi trong chiến lược hoạt
động của HSBC HSBC duy trì tính nguyên
tắc, thận trọng, bảo thủ nhưng mang tính xây
dựng trong văn hóa quản lý RRTK [4]
HSBC có ban quản lý rủi ro do HĐQT và ban
giám đốc lập ra Tại các chi nhánh của HSBC
đều có bộ phận chuyên trách về RRTK, chịu
trách nhiệm trước giám đốc chi nhánh về các
vấn đề thanh khoản Các báo cáo về tình hình
thanh khoản của các chi nhánh thường xuyên
được cập nhật lên các chi nhánh cấp cao hơn
Hội nghị về Quản lý rủi ro (Risk Management
Meeeting) thường xuyên được tổ chức để báo
cáo và rà soát lại tình hình quản lý RRTK trên
toàn hệ thống
HSBC luôn nhấn mạnh từng chi nhánh, từng
văn phòng phải tự đảm bảo khả năng thanh
khoản của chính mình, dùng nguồn vốn của
chính chi nhánh, văn phòng đó để đáp ứng
các nhu cầu thanh khoản Chỉ những chi
nhánh hoặc văn phòng nào theo qui định
không được huy động tiền gửi tiết kiệm thì
mới được trụ sở hoặc các chi nhánh khác tài
trợ thanh khoản, nhưng việc tài trợ đó cũng
được diễn ra theo những qui định hết sức
nghiêm ngặt và mức giới hạn nhất định do
Hội đồng quản trị đặt ra Việc HSBC khống
chế lượng vốn hỗ trợ cho các chi nhánh là
hoàn toàn hợp lý vì như vậy sẽ làm tăng ý
thức quản lý RRTK trong toàn hệ thống của
tập đoàn này và tránh trường hợp RRTK tại
một chi nhánh có thể kéo theo sự sụp đổ của các chi nhánh khác Có 2 điểm nổi bật trong chính sách quản lý thanh khoản của HSBC:
- Chính sách quản lý thanh khoản phải phù hợp với từng thị trường cụ thể
- Các chi nhánh và văn phòng phải chủ động quản lý thanh khoản của chính mình
Qui trình quản lý rủi ro thanh khoản của HSBC như sau: [4]
- Bước 1: Lên kế hoạch dự báo các luồng tiền
vào và ra của các đồng tiền mạnh Trong trường hợp luồng tiền ra dự kiến lớn hơn luồng tiền vào dự kiến thì xem xét khả năng chuyển thành tiền của các tài sản để tài trợ cho khoảng chênh lệch đó
- Bước 2: Điều chỉnh các tỉ lệ thanh khoản
trên bảng cân đối theo các qui định bắt buộc
và các qui định trong nội bộ
- Bước 3: Duy trì một danh mục đa dạng các
nguồn cung thanh khoản trong đó có các phương án dự phòng
- Bước 4: Quản lý hồ sơ các khoản nợ, đặc
biệt là thời điểm đó hạn của các khoản nợ lớn
- Bước 5: Lên kế hoạch trả nợ
- Bước 6: Quản lý hồ sơ những người gửi
tiền, điều chỉnh sự tập trung của các nguồn tiền gửi, tránh bị phụ thuộc quá mức vào một
số khách hàng gửi tiền lớn
- Bước 7: Lập các báo cáo dự phòng và lên
các kế hoạch thực hiện nghĩa vụ tài chính trong trường hợp RRTK xảy ra Các báo cáo này chỉ ra dấu hiệu ban đầu của RRTK và chỉ
ra các việc cần làm trong trường hợp có khó khăn hoặc khủng hoảng hệ thống, giảm thiểu các mức tổn thất và những ảnh hưởng xấu đến HSBC
Có thể thấy qui trình quản lý thanh khoản của HSBC rất chặt chẽ và rõ ràng Với văn hóa QLRR thận trọng, nguyên tắc, HSBC duy trì một qui trình quản lý RRTK mang tính phòng ngừa cao, hoạt động quản lý RRTK diễn ra liên tục ngay cả khi không có một dấu hiệu bất ổn gì từ phía thị trường HSBC kết hợp cả cung và cầu thanh khoản trong hoạt động quản lý RRTK Trong hoạt động quản lý
Trang 6Nguyễn Thu Thủy và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 167(07): 231 - 236
233
thanh khoản, HSBC đặc biệt chú trọng đến
thời điểm đáo hạn của các nghĩa vụ tài chính
và thực hiện hoạt động thống kê, dự đón các
luồng tiền ra thông qua các nghĩa vụ tài chính
Từ Bảng 1 có thể thấy, chi trả các khoản tiền
gửi và tài trợ các khoản cho vay đã cam kết là
hai nghĩa vụ lớn nhất trong tất cả các nghĩa vụ
của HSBC xét về mặt qui mô vốn Riêng về
tiền gửi, các khoản tiền gửi không kì hạn và
kì hạn ngắn dưới 3 tháng lần lượt là 698.187
và 332.207 triệu USD, chiếm 40,15% và
54,7% [1]
Bảng 1 Thời điểm đáo hạn của các nghĩa vụ
tài chính của HSBC (tính đến ngày 31 tháng 12
năm 2008)
(Đơn vị: Triệu USD)
Kì hạn
Loại
tiền gửi
Không kì
hạn
Dưới 3 tháng
3- 12 tháng
1- 5 năm
Từ các NH 45.884 82.514 8.734 4.875
Từ khách
hàng 698.187 332.207 69.721 34.537
Chứng
khoán nợ 481 56.590 53.174 68.169
Chứng
khoán phái
sinh
482.039 373 1.479 2.634
Các khoản
cho vay
phải giải
ngân
239.753 105.952 153.774 72.111
Các khoản
nợ thứ cấp 92 686 1.646 9.718
Phát sinh
từ các giao
dịch
247.652 - -
-Các nghĩa
vụ tài chính
khác
19.474 26.180 5.473 1.472
Tổng 1.738.927 607.215 300.970 228.371
(Nguồn: HSBC, Báo cáo thường niên 2008)
Đây là hai nghĩa vụ được ưu tiên hàng đầu và
luôn được xếp trước các nghĩa vụ khác trong
thứ tự chi trả Về phía cung thanh khoản, tiền
gửi tài khoản vãng lai và tiền gửi có kì hạn là
nguồn cung thanh khoản chính của HSBC và
HSBC luôn cố gắng duy trì tính ổn định của
nguồn cung này Để có thể duy trì được tính
ổn định đó, HSBC duy trì lòng tin của người gửi tiền vào nguồn vốn mạnh của HSBC và quan trọng nhất là thông qua việc công bố các thông tin về thanh khoản hết sức cụ thể, rõ ràng HSBC cũng thường xuyên tham gia vào thị trường tiền tệ ở các nước, duy trì vai trò của mình trên các thị trường đó để có thể dễ dàng tiếp cận nguồn cung thanh khoản từ thị trường này khi cần Đồng thời qua bảng trên cho thấy sự đa dạng trong các nguồn cung cầu thanh khoản của NH do HSBC có các dịch vụ tài chính rất phong phú Đây là một lợi thế của những NH lớn, cung cấp nhiều sản phẩm tài chính vì sự đa dạng hóa luôn là một biện pháp để hạn chế rủi ro
Tóm lại, hoạt động quản lý RRTK của HSBC
dù chưa đạt đến mức là “hình mẫu lý tưởng” nhưng cũng rất đáng để các NH khác học tập Thực tế đã chứng minh tính hiệu quả và đúng đắn của mô hình quản lý thanh khoản của HSBC - một trong những yếu tố hàng đầu giúp HSBC đạt được vị trí như ngày nay Xây dựng ba tuyến phòng thủ rủi ro ngân hàng tại Ngân hàng Techcombank
Trên thực tế, rủi ro ngân hàng khá đa dạng, với 3 loại rủi ro chính là rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động, trong đó, rủi ro hoạt động gồm có: rủi ro pháp lý, rủi ro tuân thủ, rủi ro hệ thống, rủi ro công nghệ thông tin, rủi ro về tài sản, rủi ro về con người…Tuy nhiên, theo TS Lê Xuân Nghĩa,
do đặc thù của hoạt động ngân hàng Việt Nam là trên 70% thu nhập đến từ tín dụng, có ngân hàng có tỷ lệ này tới hơn 90%, nên hầu hết các ngân hàng chỉ chủ yếu chú trọng rủi ro tín dụng Việc xem nhẹ công tác quản trị các loại rủi ro khác dẫn đến hệ quả là, khi thị trường tài chính - tiền tệ biến động, khó khăn, một loạt ngân hàng rơi vào rủi ro mất thanh
khoản “Ít ngân hàng Việt Nam có được hệ thống quản trị rủi ro tốt”, TS Lê Xuân Nghĩa
cho biết Hiện nay, một số NH tại Việt Nam đang thực hiện mô hình 3 tuyến phòng thủ và quản trị rủi ro toàn ngân hàng để đảm bảo tính
an toàn cho các hoạt động và đem lại hiệu quả khá tốt, trong đó Ngân hàng Techcombank đạt được thành tựu nhất định [5]
Trang 7Nguyễn Thu Thủy và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 167(07): 231 - 236
234
Một ưu điểm của phương thức này là tất cả
thành viên trong hệ thống đều phải tham gia
quá trình quản trị rủi ro Do vậy, mô hình đảm
bảo mọi rủi ro trong mỗi tác vụ của NH được
nhận diện, kiểm soát và giảm thiểu Theo đó,
ngân hàng đã xây dựng mô hình 3 tuyến
phòng thủ như sau:
- Tuyến phòng thủ thứ nhất là các khối kinh
doanh, bán hàng, các chuyên viên khách hàng,
chi nhánh, các đơn vị vận hành tại hội sở
Nhiệm vụ chính của các đơn vị này là xác
định, đánh giá, ngăn ngừa, báo cáo và theo
dõi các rủi ro phát sinh trong hoạt động kinh
doanh (cho vay) và các quy trình vận hành
khác; bảo vệ lợi ích của đơn vị thông qua việc
tự đánh giá rủi ro và kiểm soát tính hiệu quả
của từng đơn vị
- Tuyến phòng thủ thứ hai là khối quản trị rủi
ro, khối tuân thủ, quản trị rủi ro hoạt động và
pháp chế Tuyến này có rất nhiều nhiệm vụ,
trong đó quan trọng hơn cả là việc độc lập
đánh giá và kiểm soát (kiểm tra và cân đối)
tính hiệu quả của hệ thống ở tuyến phòng thủ
thứ nhất; quản lý rủi ro chính thông qua việc
thiết lập khẩu vị rủi ro/chính sách cho vay,
xây dựng quy trình/hướng dẫn tín dụng và
cho vay, theo dõi, cảnh báo sớm, quản trị
danh mục…; giám sát các chương trình kiểm
soát nội bộ, tuân thủ…
- Tuyến phòng thủ thứ ba là bộ phận kiểm
toán nội bộ Đây là bộ phận trực thuộc Ban
kiểm soát và không thuộc Ban điều hành của
Ngân hàng, nên việc đánh giá 2 tuyến phòng
thủ trước và các rủi ro có thể xảy ra được thực
hiện độc lập và khách quan
Kết quả quan trọng sau một thời gian tuân thủ
nghiêm ngặt mô hình quản trị phòng thủ 3 lớp
tại Ngân hàng là các chuẩn mực an toàn đã
được tuân thủ và dần tiệm cận các chuẩn mực
quản trị tiên tiến trên thế giới, đặc biệt, tạo
nên văn hóa ý thức và kiểm soát rủi ro trong
mỗi nhân viên của ngân hàng Mỗi cá nhân,
từ chuyên viên khách hàng tới nhân viên các
khối hỗ trợ, đều phải tuân thủ quy định, quy
trình và ý thức được trách nhiệm đánh giá,
phát hiện sớm rủi ro và tìm cách ngăn ngừa
các rủi ro phát sinh Tức là, quản trị rủi ro được thực hiện bởi cả hệ thống, chứ không phải là trách nhiệm riêng của khối quản trị rủi
ro Nhờ đó kết quả hoat động kinh doanh của toàn NH có những tín hiệu đáng mừng so với năm 2009 [3]
Bảng 2 Một số chỉ tiêu kinh doanh đạt được tại
Ngân hàng Techcombank năm 2010
Năm
Chỉ tiêu
2009 2010 ±Δ 2016/
2015 (%) Lợi nhuận
sau thuế (tỷ đồng)
1700 2603 903 153
Tiền gửi (tỷ đồng) 63009 80651 17642 128 Điểm giao
dich điểm) 190 280 90 147 Lượng máy
ATM (máy) 564 740 176 131
(Nguồn: Phòng kế toán tài chính năm 2010)
Hơn nữa, trong công tác quản lý rủi ro tỷ lệ cho vay trên tiền gửi ở mức 65% tại thời điểm kết thúc năm 2010 Bên cạnh đó, thực hiện thành công mô hình đánh giá rủi ro tín dụng cho SME và phương pháp đánh giá rủi ro tín dụng định tính (QCA) để tăng tính hiệu quả cho quy trình cho vay
Chương trình quản lý rủi ro Kondor+ đối với quá trình quản trị rủi ro tại ngân hàng Maritime Bank
Rủi ro hệ thống ngân hàng đang tăng lên nhanh chóng là lý do khiến không ít ngân hàng ngày càng chú trọng đến quản trị rủi ro hoạt động Năm 2011 ngân hàng Maritime Bank (MSB) quyết định mua chương trình quản lý rủi ro Kondor+ của công ty Thomson Reuters, nhằm quản lý rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản, đảm bảo trạng thái thanh toán Trong vòng sáu tháng, với sự hợp tác của công ty tư vấn McKinsey, MSB đã ban hành hàng loạt văn bản, chính sách về rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản và rủi ro hoạt động áp dụng cho hệ thống nội bộ Phần mềm Kondor+ giúp giảm thiểu rủi ro hoạt động phát sinh từ công việc thủ công bằng việc tự động kiểm soát các hạn mức, tự động tính toán lãi lỗ tạm tính, quản lý dòng
Trang 8Nguyễn Thu Thủy và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 167(07): 231 - 236
235
tiền… Hệ thống sẽ tự động kiểm tra hạn mức
được thiết lập trên KGR và MLS trước khi
đơn vị kinh doanh duyệt giao dịch Kondor+
cũng khắc phục được những nhược điểm đã
tồn tại trước đây như: kiểm tra tự động sự bất
thường trong giá giao dịch so với giá quy
định khi sự chênh lệch này vượt quá mức chịu
đựng cho phép, lập sẵn các báo cáo quản lý
hạn mức, cảnh báo các trường hợp vượt hạn
mức và không có hạn mức… Từ những cảnh
báo này, Ngân hàng có thể đưa ra các quyết
định thức thời với từng giao dịch, đảm bảo sự
an toàn
Sau một năm vận hành, hiệu quả chương trình
quản lý rủi ro đã mang lại tín hiệu đáng
mừng Trước đây, trong những giao dịch gửi
vốn của MSB trên thị trường liên ngân hàng,
hay những giao dịch trên thị trường ngoại hối
(FX), MSB phần lớn làm thủ công, không
kiểm soát hết quy trình, và luôn bị ảnh hưởng
bởi con người, thì nay hệ thống này giảm
thiểu các công đoạn thủ công, tự động kiểm
tra sự bất thường trong giá giao dịch so với
giá quy định, cảnh báo các trường hợp vượt
hạn mức “Lúc trước, các hạn mức hoạt
động cho các giao dịch viên rất thấp vì ngân
hàng lo sợ rủi ro, giờ đã cao hơn nhiều vì có
thể kiểm soát nhanh chóng và an toàn Nghĩa
là, khi rủi ro được quản lý, nhiều thứ trước
đây MSB không dám làm, hoặc làm không tới,
thì nay MSB đã tiến tới”, ông Nguyễn Đình
Tùng, phó tổng giám đốc ngân hàng Maritime
Bank chia sẻ Thêm vào đó, trong năm 2012
Maritime Bank đã triển khai đồng bộ các giải
pháp, áp dụng nhiều quyết sách nhanh nhạy
phù hợp với chính sách của Ngân hàng Nhà
nước và thực tế thị trường như chỉ đạo tổ
chức thực hiện tốt công tác cân đối và điều
hòa vốn, nghiêm túc thực hiện việc phân loại
nợ, trích lập dự phòng rủi ro theo đúng quy
định của Ngân hàng Nhà nước, ngân hàng còn
triển khai các sản phẩm dịch vụ mới để thu
hút khách hàng, nâng cao chất lượng hoạt
động tại các trung tâm khách hàng, mở rộng
phân khúc thị trường bằng việc thử nghiệm áp
dụng mô hình ngân hàng đại chúng, nâng cấp
hệ thống công nghệ thông tin hỗ trợ tối đa các hoạt động tác nghiệp, ngăn ngừa rủi ro hoạt động… nên NH đã được vinh dự nhận giải thưởng “thương hiệu mạnh 2012” Nhờ đó, Maritime Bank đã được Ngân hàng Nhà nước tin tưởng cấp mức tăng trưởng tín dụng là 17% và xếp hạng trong nhóm 1 - nhóm các ngân hàng hoạt động an toàn, hiệu quả tại Việt Nam Kết thúc năm tài chính 2012, quy
mô tổng tài sản Maritime Bank của đạt 110.000 tỷ đồng, tổng lợi nhuận trước trích lập dự phòng rủi ro đạt 1.005 tỷ đồng, số điểm giao dịch đạt 216 điểm [2]
Với việc được trang bị hệ thống quản trị rủi
ro, năm 2013 MSB tiếp tục mở rộng hoạt động kinh doanh của mình hơn, đặc biệt sẽ đẩy mạnh hoạt động trên thị trường ngoại hối trong và ngoài nước
BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG ACB
Thứ nhất, sử dụng các công cụ đo lường và
theo dõi RRTK, tính toán chính xác nhu cầu, khả năng thanh toán NH cần đo lường, phân tích và tính toán con số hợp lý về dự trữ thanh khoản để vừa không dư thừa một lượng tiền mặt trong ngân quỹ, lại vừa có thể đảm bảo được an toàn thanh khoản Điều kiện thanh khoản thường được đảm bảo không những bằng các khoản tín dụng ngắn hạn, có chất lượng mà còn là khoản đầu tư vào giấy tờ có giá dễ chuyển đổi ra tiền trên thị trường
Thứ hai, nâng cao vai trò của bộ máy quản lý
RRTK, hơn nữa lãnh đạo ngân hàng cần phải tỉnh táo và chủ động trong nhận dạng và phòng ngừa RRTK Ban quản trị RRTK cần
có các biện pháp nhằm phối hợp giữa quản lý thanh khoản tài sản nợ và quản lý thanh khoản tài sản có để có thể tận dụng được giá trị của tiền mặt trong ngân quỹ vừa có thể đảm bảo huy động vốn trong trường hợp cầu thanh khoản tăng cao Trong đó, NHTM cần nhận thức rõ rủi ro nào cũng có thể ảnh hưởng đến an toàn thanh khoản của NH Trong đó, NHTM cần nhận thức rõ rủi ro nào cũng có thể ảnh hưởng đến an toàn thanh khoản của
NH, đặc biệt là rủi ro tín dụng Rủi ro tín
Trang 9Nguyễn Thu Thủy và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 167(07): 231 - 236
236
dụng và RRTK có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau, với tốc độ tăng trưởng tín dụng như
mấy năm trở lại đây, NH càng cần phải lưu
tâm đến quản trị RRTK [4]
Thứ ba, cần phải kiểm soát hiệu quả hoạt
động tín dụng bằng các chuẩn mực cụ thể,
tránh tình trạng cho vay tràn lan với quy trình
thẩm định lỏng lẻo Đặc biệt với các nhóm
ngành như bất động sản, dù là khoản vay cho
mục đích đầu tư bất động sản hay sử dụng bất
động sản như tài sản thế chấp/đảm bảo cho
khoản vay thì NH cũng cần có các quy định
nghiêm ngặt để giám sát cả trước và sau khi
giải ngân [3]
Thứ tư, ngân hàng cũng phải nâng cao công
tác dự báo kinh tế vĩ mô nhằm chuẩn bị tinh
thần cho những biến động thị trường tài chính
tiền tệ, những biến động xảy ra một cách bất
ngờ có thể ảnh hưởng nặng nề đến hoạt động
kinh doanh của ngân hàng
Thứ năm, để giảm thiểu ảnh hưởng của
RRTK nếu có, NH cần có các biện pháp tài
trợ cho RRTK ví dụ như ký kết các hợp đồng
bảo hiểm tiền gửi, nâng cao công tác quản trị
RRTK trong toàn hệ thống nhằm nhận diện,
đo lường và phân tích chính xác mức độ rủi ro thanh khoản
Cuối cùng, NHTM cần có công tác quản trị
thông tin minh bạch, tránh những tin đồn thất thiệt xảy ra gây ảnh hửởng đến uy tín của NH
và khủng hoảng lòng tin trong công chúng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Báo cáo kết quả kinh doanh thường niên của ngân hàng HSBC năm 2008
2 Báo cáo kết quả kinh doanh thường niên của ngân hàng Maritime Bank năm 2012
3 Báo cáo kết quả kinh doanh thường niên của ngân hàng Techcombank năm 2010
4 Nguyễn Bảo Huyền, (2016), Rủi ro thanh khoản
tại các NHTM Việt Nam, Luận án tiến sỹ, Học
viện Ngân hàng, Hà Nội
5 Nguyễn Đắc Hưng (2008), “Trao đổi về quản
trị rủi ro thanh khoản các ngân hàng thương mại”,
Tạp chí Ngân hàng, 24,tr 25 -30
6 Nguyễn Đức Hưởng (2009), Khủng hoảng
thanh khoản tài chính toàn cầu – thách thức với Việt Nam, Nhà xuất bản Thanh niên
7 Nguyễn Văn Tiến (2010), Quản trị rủi ro trong
kinh doanh ngân hàng, Nhà xuất bản Thống kê
8 Rudolf Duttweiler (2010), Quản lý thanh khoản
ngân hàng, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí
Minh
SUMMARY
EXPERIENCES IN MANAGING LIQUIDITY RISK
FOR ASIA COMMERCIAL BANK
1
University of Economics and Business Administration - TNU
2 Thai Nguyen University
In 2003, from bad rumors, customers withdrew money at Asia Commercial Bank (ACB), which severely affected banks' operations Ten years later, ACB's prestige was lowered again when Nguyen Duc Kien, the former vice chairman of ACB's founding board, was arrested for his bankruptcy of thousands of billion VN dong People are drawn in just a few days This shows that the management of liquidity risk at the bank still has many holes need to overcome in many stages The article will study the risk management experience at commercial banks in Vietnam to experience for ACB to improve business efficiency in the coming time
Keywords: Risk, liquidity, bank, experiences, manager
Ngày nhận bài: 19/4/2017; Ngày phản biện: 24/4/2017; Ngày duyệt đăng: 28/6/2017
*
Tel: 0986.466.246; Email: thuthuytn1211@gmail.com