1. Trang chủ
  2. » Địa lí lớp 10

BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG QUẢN LÝ RỦI RO THANH KHOẢN ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU

9 43 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mười năm sau, uy tín của ngân hàng ACB lần nữa bị hạ thấp khi ông Nguyễn Đức Kiên – Nguyên Phó Chủ tịch hội đồng sáng lập ngân hàng ACB bị bắt vì những sai phạm trong hoạt động kin[r]

Trang 1

Tập 167, số 07, 2017

Trang 2

T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ

CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN – KINH TẾ

Nguyễn Đại Đồng - Hoạt động khai thác mỏ ở Lào Cai dưới thời Gia Long và Minh Mệnh 3

Dương Thị Huyền - Thương mại châu Âu và những tác động đến tình hình chính trị Đàng Trong thế kỷ XVI- XVIII 9

Trần Thị Nhung - Miêu tả tình tiết trong Truyện Kiều và Kim Vân Kiều Truyện 15

Nguyễn Thị Hải Phương - Bản chất của ngôn từ văn học (nghĩ từ bài viết Bản chất xã hội, thẩm mỹ của diễn

ngôn văn học của Trần Đình Sử) 21

Phạm Thị Mai Hương, Nguyễn Thị Thu Trang, Ngô Thị Lan Anh - Ảnh hưởng của lễ hội Vu Lan đến đời

sống đạo đức của nhân dân huyện Quốc Oai, Hà Nội 25

Phạm Thị Ngọc Anh - Hình tượng văn thủy ba trong mỹ thuật cổ Việt Nam và các ứng dụng trên sản phẩm mỹ

Trương Thị Phương - Giải pháp ứng dụng hiệu quả thông tin đồ họa trên báo điện tử 37

Phạm Thị Nhàn - Ẩn dụ từ vị giác “ngọt” trong tiếng Hán hiện đại 43

Lương Thị Thanh Dung – Sự khác nhau về kết cấu chữ Nôm của văn bản Thiền tông bản hạnh giữa bản in

Nguyễn Thị Quế, Phạm Phương Hoa - Đánh giá sự phù hợp của giáo trình New English File đối với việc

giảng dạy sinh viên không chuyên ngữ tại Trường Đại học Khoa học – Đại học Thái Nguyên 55

Hoàng Thị Thắm - Nghiên cứu về siêu nhận thức trong nghe tiếng Anh của sinh viên chương trình tiên tiến tại

Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp – Đại học Thái Nguyên 61

Nguyễn Quỳnh Trang, Dương Công Đạt, Vũ Kiều Hạnh - Thiết kế chương trình bổ trợ nói cho học sinh lớp

10 Trường Trung học Phổ thông Thái Nguyên 67

Nguyễn Khánh Như - Sự phát triển của hệ thống các trường đại học sư phạm trọng điểm Trung Quốc hiện nay 73

Nguyễn Văn Hồng, Vũ Thị Thanh Thủy - Dạy học theo dự án và vấn đề phát triển năng lực nghiên cứu khoa

học cho học sinh trong dạy học Sinh thái học ở trung học phổ thông 79

Trần Thị Phương Thảo, Nguyễn Thị Hoa Hồng - Nâng cao tính ứng dụng trong xây dựng chương trình đào

tạo đại học tại Việt Nam – bài học từ chương trình giáo dục đại học định hướng nghề nghiệp ứng dụng (POHE) 85

Phạm Thị Bích Thảo, Nguyễn Thành Trung - Lựa chọn bài tập thể lực chuyên môn nâng cao kết quả học tập

chạy cự ly ngắn cho sinh viên khóa 14 Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên 91

Lê Huy Hoàng, Nguyễn Thị Huyền, Nguyễn Thị Ngân, Vũ Thị Vân Anh - Phát triển năng lực sử dụng ngôn

ngữ hóa học của học sinh phổ thông trong dạy học các nội dung về hóa học hữu cơ chương trình hóa học lớp 12

Nguyễn Trọng Du - Phỏng vấn ‘nhóm tập trung’: một phương pháp thu thập dữ liệu hiệu quả với các nghiên

Đỗ Thị Thái Thanh, Trương Tấn Hùng, Đào Ngọc Anh - Xây dựng hồ sơ năng lực bồi dưỡng giáo viên thể

dục các trường trung học phổ thông các tỉnh miền núi phía Bắc 109

Nguyễn Ngọc Bính, Dương Tố Quỳnh, Nguyễn Văn Thanh - Thực trạng sử dụng hệ thống phương tiện

chuyên môn trong giảng dạy môn bóng chuyền cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh -

Lê Văn Hùng, Nguyễn Nhạc - Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động câu lạc bộ bóng đá nam sinh viên

Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên 119

Journal of Science and Technology

167 (07)

Trang 3

Nguyễn Văn Dũng, Lê Văn Hùng - Một số giải pháp giúp sinh viên lựa chọn môn học tự chọn trong chương

trình giáo dục thể chất dành cho sinh viên không chuyên thể dục thể thao Trường Đại học Sư phạm – Đại học

Nguyễn Văn Chiến, Nguyễn Trường Sơn, Đỗ Như Tiến - Một số kết quả ban đầu trong việc áp dụng CDIO

Đỗ Quỳnh Hoa - Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc xây dựng lối sống cho sinh viên Trường Đại học

Công nghệ Thông tin và Truyền thông – Đại học Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay 135

Phạm Văn Hùng, Nguyễn Huy Hùng - Đánh giá đầu ra của chương trình đào tạo qua mức độ đáp ứng chuẩn

Ngô Thị Lan Anh, Nguyễn Thị Thu Hiền - Yêu cầu khách quan của việc đổi mới quy trình kiểm tra đánh giá

kết quả học tập môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông nước ta hiện nay 147

Trương Thị Thu Hương, Trương Tuấn Anh - Ứng dụng dạy học dự án trong đào tạo giáo viên kỹ thuật tại

Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp - Đại học Thái Nguyên 153

Dương Quỳnh Phương, Trần Viết Khanh, Đồng Duy Khánh - Những nhân tố chi phối đến văn hóa tộc người

và văn hóa cộng đồng dân tộc dưới góc nhìn địa lí học 159

Nguyễn Thị Thanh Tâm, Trần Quyết Thắng, Đào Thị Hương - Đánh giá mức độ hài lòng của khách du lịch

đối với đội ngũ hướng dẫn viên du lịch tại một số công ty kinh doanh lữ hành trên địa bàn thành phố Thái

Nguyễn Văn Chung, Đinh Hồng Linh - Các yếu tố thành công cho website thương mại điện tử: trường hợp

doanh nghiệp du lịch nghỉ dưỡng vừa và nhỏ ở Quảng Bình 171

Đặng Thị Bích Huệ - Dự án hỗ trợ nông nghiệp, nông dân và nông thôn tỉnh Tuyên Quang và các tác động đến

Lương Văn Hinh, Lương Trung Thuyền - Nghiên cứu biến động giá đất ở trên địa bàn thị trấn Thất Khê,

huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011 – 2015 183

Nguyễn Tú Anh, Nguyễn Thị Lan Anh, Nguyễn Thành Minh - Nghiên cứu các mối quan hệ cung ứng dịch

vụ quản trị hoạt động có dịch vụ trách nhiệm xã hội: trường hợp điển cứu tại các công ty dịch vụ vận tải chở

khách vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 189

Nguyễn Thị Thu Thương, Hoàng Ngọc Hiệp - Thực trạng quản lý vốn ngân sách nhà nước cho đầu tư phát

triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên 193

Tạ Thị Thanh Huyền, Nguyễn Mạnh Dũng - Tăng cường quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách

nhà nước trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 199

Nguyễn Thị Kim Huyền - Ứng dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS): kinh nghiệm quốc tế và bài

Nguyễn Thị Nhung, Phan Thị Vân Giang - Tạo động lực cho các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư

nhân đầu tư trực tiếp ra nước ngoài 211

Phạm Thuỳ Linh, Phạm Hoàng Linh, Trần Thị Thu Trâm - Xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam trong bối

Nguyễn Thị Thu Trang, Trần Bích Thủy - Động lực làm việc của cán bộ công chức xã phường: nghiên cứu

Nguyễn Thu Thủy, Hoàng Thái Sơn - Bài học kinh nghiệm trong quản lý rủi ro thanh khoản đối với Ngân

Ngô Thúy Hà - Định hướng phát triển dịch vụ tín dụng cho hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đến năm 2020 237

Trang 4

Nguyễn Thu Thủy và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 167(07): 231 - 236

231

BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG QUẢN LÝ RỦI RO THANH KHOẢN

ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU

Nguyễn Thu Thủy1*, Hoàng Thái Sơn2

1

Trường Đại học Kinh tế & Quản trị kinh doanh – ĐH Thái Nguyên

2

Đại học Thái Nguyên

TÓM TẮT

Năm 2003, từ những tin đồn thất thiệt khách hàng đồng loạt rút tiền tại ngân hàng (NH) thương mại cổ phần Á Châu (ACB) gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của NH Mười năm sau,

uy tín của ngân hàng ACB lần nữa bị hạ thấp khi ông Nguyễn Đức Kiên – Nguyên Phó Chủ tịch hội đồng sáng lập ngân hàng ACB bị bắt vì những sai phạm trong hoạt động kinh tế khiến hàng nghìn tỷ đồng của NH bị người dân rút ra chỉ trong vài ngày… Điều này cho thấy công tác quản trị rủi ro thanh khoản (RRTK) tại ngân hàng còn nhiều lỗ hổng cần phải khắc phục ở nhiều khâu Bài viết sẽ nghiên cứu kinh nghiệm quản lý rủi ro tại các ngân hàng thương mại (NHTM) của Viêt Nam để từ đó rút ra những bài học cho ngân hàng ACB nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh trong thời gian tới

Từ khóa: Rủi ro, thanh khoản, ngân hàng, kinh nghiệm, quản lý

Thanh khoản là một thuật ngữ chuyên ngành

nói về khả năng đáp ứng các nhu cầu về sử

dụng vốn khả dụng phục vụ cho hoạt động kinh

doanh tại mọi thời điểm như chi trả tiền gửi, cho

vay, thanh toán, giao dịch vốn Rủi ro thanh

khoản là tình trạng ngân hàng không đáp ứng

được nhu cầu sử dụng vốn khả dụng (nhu cầu

thanh khoản) Tình trạng này nhẹ thì gây thua

lỗ, hoạt động kinh doanh bị đình trệ, nặng thì

làm mất khả năng thanh toán dẫn đến ngân hàng

phá sản Một ngân hàng hoạt động trong tình

trạng tốt, nhưng rất có thể xảy ra đổ vỡ nếu

không quản lý thanh khoản tốt Nếu không có

phương pháp quản lý thanh khoản khoa học

cũng như năng lực quản lý tốt để có kế hoạch

dự trữ thanh khoản hợp lý, thì rất dễ gây sự xáo

động tâm lý của người gửi tiền Sự kiện rút tiền

ồ ạt tại một số NHTM cổ phần là hồi chuông

cảnh tỉnh cho công tác quản lý thanh khoản ở tất

cả các NHTM ở Việt Nam [8]

Hầu hết, các ngân hàng đều biết đến những

tác động nghiêm trọng khi RRTK xảy ra

nhưng để khắc phục được vấn đề này mỗi NH

lại có những cách thức riêng của mình Ngân

hàng ACB và các ngân hàng như:

Techcombank, Maritime Bank mặc dù được

*

Tel: 0986.466.246; Email: thuthuytn1211@gmail.com

thành lập cùng thời điểm nhưng định hướng kinh doanh khác nhau nên tình hình phát triển của mỗi ngân hàng thời gian qua có sự khác biệt Việc tham khảo kinh nghiệm của các NHTM có đặc điểm giống mình sẽ giúp ngân hàng ACB có tìm ra cách thức phù hợp nhằm khắc phục hạn chế trong hoạt động quản lý rủi ro thanh khoản Thêm vào đó, bài viết sẽ nghiên cứu kinh nghiệm quản lý rủi ro thanh khoản tại một ngân hàng nước ngoài có chi nhánh tại Việt Nam để giúp ACB có tầm nhìn

xa hơn trong hoạt động quản trị các rủi ro có thể xảy ra tại ngân hàng

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Phương pháp thu thập số liệu: các tài liệu được tác giả thu thập tại báo cáo tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh của các NH; các phương tiện thông tin đại chúng như; sách, báo, đài…

- Phương pháp thống kê: tổng hợp số liệu thu thập được vào bảng biểu, bảng kết quả

- Phương pháp so sánh: trên cơ sở các kết quả đạt được tại NH, tác giả tiến hành đánh giá sự khác biệt giữa các năm và các ngân hàng

- Phương pháp chuyên gia: sử dụng các ý kiến, quan điểm của nhà quản lý, nhà lãnh đạo… để làm phong phú hơn phần thông tin

mà ta có được

Trang 5

Nguyễn Thu Thủy và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 167(07): 231 - 236

232

KINH NGHIỆM TRONG QUẢN LÝ RỦI

RO THANH KHOẢN TẠI CÁC NHTM TẠI

VIỆT NAM

Hoạt động quản lý rủi ro thanh khoản của

ngân hàng HSBC

Trong hoạt động quản lý RRTK, ngoài việc

tuân thủ các chuẩn mực quốc tế, các qui định

bắt buộc tại các thị trường nơi HSBC hoạt

động, HSBC luôn có chính sách của riêng

mình Các chính sách quản lý RRTK của

HSBC được thiết kế nhằm phát hiện, phân tích,

đặt các mức giới hạn thích hợp cho loại hình

rủi ro này HSBC thường xuyên xem xét lại

các chính sách và hệ thống quản lý rủi ro của

mình để phù hợp với những diễn biến trên thị

trường và những thay đổi trong chiến lược hoạt

động của HSBC HSBC duy trì tính nguyên

tắc, thận trọng, bảo thủ nhưng mang tính xây

dựng trong văn hóa quản lý RRTK [4]

HSBC có ban quản lý rủi ro do HĐQT và ban

giám đốc lập ra Tại các chi nhánh của HSBC

đều có bộ phận chuyên trách về RRTK, chịu

trách nhiệm trước giám đốc chi nhánh về các

vấn đề thanh khoản Các báo cáo về tình hình

thanh khoản của các chi nhánh thường xuyên

được cập nhật lên các chi nhánh cấp cao hơn

Hội nghị về Quản lý rủi ro (Risk Management

Meeeting) thường xuyên được tổ chức để báo

cáo và rà soát lại tình hình quản lý RRTK trên

toàn hệ thống

HSBC luôn nhấn mạnh từng chi nhánh, từng

văn phòng phải tự đảm bảo khả năng thanh

khoản của chính mình, dùng nguồn vốn của

chính chi nhánh, văn phòng đó để đáp ứng

các nhu cầu thanh khoản Chỉ những chi

nhánh hoặc văn phòng nào theo qui định

không được huy động tiền gửi tiết kiệm thì

mới được trụ sở hoặc các chi nhánh khác tài

trợ thanh khoản, nhưng việc tài trợ đó cũng

được diễn ra theo những qui định hết sức

nghiêm ngặt và mức giới hạn nhất định do

Hội đồng quản trị đặt ra Việc HSBC khống

chế lượng vốn hỗ trợ cho các chi nhánh là

hoàn toàn hợp lý vì như vậy sẽ làm tăng ý

thức quản lý RRTK trong toàn hệ thống của

tập đoàn này và tránh trường hợp RRTK tại

một chi nhánh có thể kéo theo sự sụp đổ của các chi nhánh khác Có 2 điểm nổi bật trong chính sách quản lý thanh khoản của HSBC:

- Chính sách quản lý thanh khoản phải phù hợp với từng thị trường cụ thể

- Các chi nhánh và văn phòng phải chủ động quản lý thanh khoản của chính mình

Qui trình quản lý rủi ro thanh khoản của HSBC như sau: [4]

- Bước 1: Lên kế hoạch dự báo các luồng tiền

vào và ra của các đồng tiền mạnh Trong trường hợp luồng tiền ra dự kiến lớn hơn luồng tiền vào dự kiến thì xem xét khả năng chuyển thành tiền của các tài sản để tài trợ cho khoảng chênh lệch đó

- Bước 2: Điều chỉnh các tỉ lệ thanh khoản

trên bảng cân đối theo các qui định bắt buộc

và các qui định trong nội bộ

- Bước 3: Duy trì một danh mục đa dạng các

nguồn cung thanh khoản trong đó có các phương án dự phòng

- Bước 4: Quản lý hồ sơ các khoản nợ, đặc

biệt là thời điểm đó hạn của các khoản nợ lớn

- Bước 5: Lên kế hoạch trả nợ

- Bước 6: Quản lý hồ sơ những người gửi

tiền, điều chỉnh sự tập trung của các nguồn tiền gửi, tránh bị phụ thuộc quá mức vào một

số khách hàng gửi tiền lớn

- Bước 7: Lập các báo cáo dự phòng và lên

các kế hoạch thực hiện nghĩa vụ tài chính trong trường hợp RRTK xảy ra Các báo cáo này chỉ ra dấu hiệu ban đầu của RRTK và chỉ

ra các việc cần làm trong trường hợp có khó khăn hoặc khủng hoảng hệ thống, giảm thiểu các mức tổn thất và những ảnh hưởng xấu đến HSBC

Có thể thấy qui trình quản lý thanh khoản của HSBC rất chặt chẽ và rõ ràng Với văn hóa QLRR thận trọng, nguyên tắc, HSBC duy trì một qui trình quản lý RRTK mang tính phòng ngừa cao, hoạt động quản lý RRTK diễn ra liên tục ngay cả khi không có một dấu hiệu bất ổn gì từ phía thị trường HSBC kết hợp cả cung và cầu thanh khoản trong hoạt động quản lý RRTK Trong hoạt động quản lý

Trang 6

Nguyễn Thu Thủy và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 167(07): 231 - 236

233

thanh khoản, HSBC đặc biệt chú trọng đến

thời điểm đáo hạn của các nghĩa vụ tài chính

và thực hiện hoạt động thống kê, dự đón các

luồng tiền ra thông qua các nghĩa vụ tài chính

Từ Bảng 1 có thể thấy, chi trả các khoản tiền

gửi và tài trợ các khoản cho vay đã cam kết là

hai nghĩa vụ lớn nhất trong tất cả các nghĩa vụ

của HSBC xét về mặt qui mô vốn Riêng về

tiền gửi, các khoản tiền gửi không kì hạn và

kì hạn ngắn dưới 3 tháng lần lượt là 698.187

và 332.207 triệu USD, chiếm 40,15% và

54,7% [1]

Bảng 1 Thời điểm đáo hạn của các nghĩa vụ

tài chính của HSBC (tính đến ngày 31 tháng 12

năm 2008)

(Đơn vị: Triệu USD)

Kì hạn

Loại

tiền gửi

Không kì

hạn

Dưới 3 tháng

3- 12 tháng

1- 5 năm

Từ các NH 45.884 82.514 8.734 4.875

Từ khách

hàng 698.187 332.207 69.721 34.537

Chứng

khoán nợ 481 56.590 53.174 68.169

Chứng

khoán phái

sinh

482.039 373 1.479 2.634

Các khoản

cho vay

phải giải

ngân

239.753 105.952 153.774 72.111

Các khoản

nợ thứ cấp 92 686 1.646 9.718

Phát sinh

từ các giao

dịch

247.652 - -

-Các nghĩa

vụ tài chính

khác

19.474 26.180 5.473 1.472

Tổng 1.738.927 607.215 300.970 228.371

(Nguồn: HSBC, Báo cáo thường niên 2008)

Đây là hai nghĩa vụ được ưu tiên hàng đầu và

luôn được xếp trước các nghĩa vụ khác trong

thứ tự chi trả Về phía cung thanh khoản, tiền

gửi tài khoản vãng lai và tiền gửi có kì hạn là

nguồn cung thanh khoản chính của HSBC và

HSBC luôn cố gắng duy trì tính ổn định của

nguồn cung này Để có thể duy trì được tính

ổn định đó, HSBC duy trì lòng tin của người gửi tiền vào nguồn vốn mạnh của HSBC và quan trọng nhất là thông qua việc công bố các thông tin về thanh khoản hết sức cụ thể, rõ ràng HSBC cũng thường xuyên tham gia vào thị trường tiền tệ ở các nước, duy trì vai trò của mình trên các thị trường đó để có thể dễ dàng tiếp cận nguồn cung thanh khoản từ thị trường này khi cần Đồng thời qua bảng trên cho thấy sự đa dạng trong các nguồn cung cầu thanh khoản của NH do HSBC có các dịch vụ tài chính rất phong phú Đây là một lợi thế của những NH lớn, cung cấp nhiều sản phẩm tài chính vì sự đa dạng hóa luôn là một biện pháp để hạn chế rủi ro

Tóm lại, hoạt động quản lý RRTK của HSBC

dù chưa đạt đến mức là “hình mẫu lý tưởng” nhưng cũng rất đáng để các NH khác học tập Thực tế đã chứng minh tính hiệu quả và đúng đắn của mô hình quản lý thanh khoản của HSBC - một trong những yếu tố hàng đầu giúp HSBC đạt được vị trí như ngày nay Xây dựng ba tuyến phòng thủ rủi ro ngân hàng tại Ngân hàng Techcombank

Trên thực tế, rủi ro ngân hàng khá đa dạng, với 3 loại rủi ro chính là rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động, trong đó, rủi ro hoạt động gồm có: rủi ro pháp lý, rủi ro tuân thủ, rủi ro hệ thống, rủi ro công nghệ thông tin, rủi ro về tài sản, rủi ro về con người…Tuy nhiên, theo TS Lê Xuân Nghĩa,

do đặc thù của hoạt động ngân hàng Việt Nam là trên 70% thu nhập đến từ tín dụng, có ngân hàng có tỷ lệ này tới hơn 90%, nên hầu hết các ngân hàng chỉ chủ yếu chú trọng rủi ro tín dụng Việc xem nhẹ công tác quản trị các loại rủi ro khác dẫn đến hệ quả là, khi thị trường tài chính - tiền tệ biến động, khó khăn, một loạt ngân hàng rơi vào rủi ro mất thanh

khoản “Ít ngân hàng Việt Nam có được hệ thống quản trị rủi ro tốt”, TS Lê Xuân Nghĩa

cho biết Hiện nay, một số NH tại Việt Nam đang thực hiện mô hình 3 tuyến phòng thủ và quản trị rủi ro toàn ngân hàng để đảm bảo tính

an toàn cho các hoạt động và đem lại hiệu quả khá tốt, trong đó Ngân hàng Techcombank đạt được thành tựu nhất định [5]

Trang 7

Nguyễn Thu Thủy và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 167(07): 231 - 236

234

Một ưu điểm của phương thức này là tất cả

thành viên trong hệ thống đều phải tham gia

quá trình quản trị rủi ro Do vậy, mô hình đảm

bảo mọi rủi ro trong mỗi tác vụ của NH được

nhận diện, kiểm soát và giảm thiểu Theo đó,

ngân hàng đã xây dựng mô hình 3 tuyến

phòng thủ như sau:

- Tuyến phòng thủ thứ nhất là các khối kinh

doanh, bán hàng, các chuyên viên khách hàng,

chi nhánh, các đơn vị vận hành tại hội sở

Nhiệm vụ chính của các đơn vị này là xác

định, đánh giá, ngăn ngừa, báo cáo và theo

dõi các rủi ro phát sinh trong hoạt động kinh

doanh (cho vay) và các quy trình vận hành

khác; bảo vệ lợi ích của đơn vị thông qua việc

tự đánh giá rủi ro và kiểm soát tính hiệu quả

của từng đơn vị

- Tuyến phòng thủ thứ hai là khối quản trị rủi

ro, khối tuân thủ, quản trị rủi ro hoạt động và

pháp chế Tuyến này có rất nhiều nhiệm vụ,

trong đó quan trọng hơn cả là việc độc lập

đánh giá và kiểm soát (kiểm tra và cân đối)

tính hiệu quả của hệ thống ở tuyến phòng thủ

thứ nhất; quản lý rủi ro chính thông qua việc

thiết lập khẩu vị rủi ro/chính sách cho vay,

xây dựng quy trình/hướng dẫn tín dụng và

cho vay, theo dõi, cảnh báo sớm, quản trị

danh mục…; giám sát các chương trình kiểm

soát nội bộ, tuân thủ…

- Tuyến phòng thủ thứ ba là bộ phận kiểm

toán nội bộ Đây là bộ phận trực thuộc Ban

kiểm soát và không thuộc Ban điều hành của

Ngân hàng, nên việc đánh giá 2 tuyến phòng

thủ trước và các rủi ro có thể xảy ra được thực

hiện độc lập và khách quan

Kết quả quan trọng sau một thời gian tuân thủ

nghiêm ngặt mô hình quản trị phòng thủ 3 lớp

tại Ngân hàng là các chuẩn mực an toàn đã

được tuân thủ và dần tiệm cận các chuẩn mực

quản trị tiên tiến trên thế giới, đặc biệt, tạo

nên văn hóa ý thức và kiểm soát rủi ro trong

mỗi nhân viên của ngân hàng Mỗi cá nhân,

từ chuyên viên khách hàng tới nhân viên các

khối hỗ trợ, đều phải tuân thủ quy định, quy

trình và ý thức được trách nhiệm đánh giá,

phát hiện sớm rủi ro và tìm cách ngăn ngừa

các rủi ro phát sinh Tức là, quản trị rủi ro được thực hiện bởi cả hệ thống, chứ không phải là trách nhiệm riêng của khối quản trị rủi

ro Nhờ đó kết quả hoat động kinh doanh của toàn NH có những tín hiệu đáng mừng so với năm 2009 [3]

Bảng 2 Một số chỉ tiêu kinh doanh đạt được tại

Ngân hàng Techcombank năm 2010

Năm

Chỉ tiêu

2009 2010 ±Δ 2016/

2015 (%) Lợi nhuận

sau thuế (tỷ đồng)

1700 2603 903 153

Tiền gửi (tỷ đồng) 63009 80651 17642 128 Điểm giao

dich điểm) 190 280 90 147 Lượng máy

ATM (máy) 564 740 176 131

(Nguồn: Phòng kế toán tài chính năm 2010)

Hơn nữa, trong công tác quản lý rủi ro tỷ lệ cho vay trên tiền gửi ở mức 65% tại thời điểm kết thúc năm 2010 Bên cạnh đó, thực hiện thành công mô hình đánh giá rủi ro tín dụng cho SME và phương pháp đánh giá rủi ro tín dụng định tính (QCA) để tăng tính hiệu quả cho quy trình cho vay

Chương trình quản lý rủi ro Kondor+ đối với quá trình quản trị rủi ro tại ngân hàng Maritime Bank

Rủi ro hệ thống ngân hàng đang tăng lên nhanh chóng là lý do khiến không ít ngân hàng ngày càng chú trọng đến quản trị rủi ro hoạt động Năm 2011 ngân hàng Maritime Bank (MSB) quyết định mua chương trình quản lý rủi ro Kondor+ của công ty Thomson Reuters, nhằm quản lý rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản, đảm bảo trạng thái thanh toán Trong vòng sáu tháng, với sự hợp tác của công ty tư vấn McKinsey, MSB đã ban hành hàng loạt văn bản, chính sách về rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản và rủi ro hoạt động áp dụng cho hệ thống nội bộ Phần mềm Kondor+ giúp giảm thiểu rủi ro hoạt động phát sinh từ công việc thủ công bằng việc tự động kiểm soát các hạn mức, tự động tính toán lãi lỗ tạm tính, quản lý dòng

Trang 8

Nguyễn Thu Thủy và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 167(07): 231 - 236

235

tiền… Hệ thống sẽ tự động kiểm tra hạn mức

được thiết lập trên KGR và MLS trước khi

đơn vị kinh doanh duyệt giao dịch Kondor+

cũng khắc phục được những nhược điểm đã

tồn tại trước đây như: kiểm tra tự động sự bất

thường trong giá giao dịch so với giá quy

định khi sự chênh lệch này vượt quá mức chịu

đựng cho phép, lập sẵn các báo cáo quản lý

hạn mức, cảnh báo các trường hợp vượt hạn

mức và không có hạn mức… Từ những cảnh

báo này, Ngân hàng có thể đưa ra các quyết

định thức thời với từng giao dịch, đảm bảo sự

an toàn

Sau một năm vận hành, hiệu quả chương trình

quản lý rủi ro đã mang lại tín hiệu đáng

mừng Trước đây, trong những giao dịch gửi

vốn của MSB trên thị trường liên ngân hàng,

hay những giao dịch trên thị trường ngoại hối

(FX), MSB phần lớn làm thủ công, không

kiểm soát hết quy trình, và luôn bị ảnh hưởng

bởi con người, thì nay hệ thống này giảm

thiểu các công đoạn thủ công, tự động kiểm

tra sự bất thường trong giá giao dịch so với

giá quy định, cảnh báo các trường hợp vượt

hạn mức “Lúc trước, các hạn mức hoạt

động cho các giao dịch viên rất thấp vì ngân

hàng lo sợ rủi ro, giờ đã cao hơn nhiều vì có

thể kiểm soát nhanh chóng và an toàn Nghĩa

là, khi rủi ro được quản lý, nhiều thứ trước

đây MSB không dám làm, hoặc làm không tới,

thì nay MSB đã tiến tới”, ông Nguyễn Đình

Tùng, phó tổng giám đốc ngân hàng Maritime

Bank chia sẻ Thêm vào đó, trong năm 2012

Maritime Bank đã triển khai đồng bộ các giải

pháp, áp dụng nhiều quyết sách nhanh nhạy

phù hợp với chính sách của Ngân hàng Nhà

nước và thực tế thị trường như chỉ đạo tổ

chức thực hiện tốt công tác cân đối và điều

hòa vốn, nghiêm túc thực hiện việc phân loại

nợ, trích lập dự phòng rủi ro theo đúng quy

định của Ngân hàng Nhà nước, ngân hàng còn

triển khai các sản phẩm dịch vụ mới để thu

hút khách hàng, nâng cao chất lượng hoạt

động tại các trung tâm khách hàng, mở rộng

phân khúc thị trường bằng việc thử nghiệm áp

dụng mô hình ngân hàng đại chúng, nâng cấp

hệ thống công nghệ thông tin hỗ trợ tối đa các hoạt động tác nghiệp, ngăn ngừa rủi ro hoạt động… nên NH đã được vinh dự nhận giải thưởng “thương hiệu mạnh 2012” Nhờ đó, Maritime Bank đã được Ngân hàng Nhà nước tin tưởng cấp mức tăng trưởng tín dụng là 17% và xếp hạng trong nhóm 1 - nhóm các ngân hàng hoạt động an toàn, hiệu quả tại Việt Nam Kết thúc năm tài chính 2012, quy

mô tổng tài sản Maritime Bank của đạt 110.000 tỷ đồng, tổng lợi nhuận trước trích lập dự phòng rủi ro đạt 1.005 tỷ đồng, số điểm giao dịch đạt 216 điểm [2]

Với việc được trang bị hệ thống quản trị rủi

ro, năm 2013 MSB tiếp tục mở rộng hoạt động kinh doanh của mình hơn, đặc biệt sẽ đẩy mạnh hoạt động trên thị trường ngoại hối trong và ngoài nước

BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG ACB

Thứ nhất, sử dụng các công cụ đo lường và

theo dõi RRTK, tính toán chính xác nhu cầu, khả năng thanh toán NH cần đo lường, phân tích và tính toán con số hợp lý về dự trữ thanh khoản để vừa không dư thừa một lượng tiền mặt trong ngân quỹ, lại vừa có thể đảm bảo được an toàn thanh khoản Điều kiện thanh khoản thường được đảm bảo không những bằng các khoản tín dụng ngắn hạn, có chất lượng mà còn là khoản đầu tư vào giấy tờ có giá dễ chuyển đổi ra tiền trên thị trường

Thứ hai, nâng cao vai trò của bộ máy quản lý

RRTK, hơn nữa lãnh đạo ngân hàng cần phải tỉnh táo và chủ động trong nhận dạng và phòng ngừa RRTK Ban quản trị RRTK cần

có các biện pháp nhằm phối hợp giữa quản lý thanh khoản tài sản nợ và quản lý thanh khoản tài sản có để có thể tận dụng được giá trị của tiền mặt trong ngân quỹ vừa có thể đảm bảo huy động vốn trong trường hợp cầu thanh khoản tăng cao Trong đó, NHTM cần nhận thức rõ rủi ro nào cũng có thể ảnh hưởng đến an toàn thanh khoản của NH Trong đó, NHTM cần nhận thức rõ rủi ro nào cũng có thể ảnh hưởng đến an toàn thanh khoản của

NH, đặc biệt là rủi ro tín dụng Rủi ro tín

Trang 9

Nguyễn Thu Thủy và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 167(07): 231 - 236

236

dụng và RRTK có mối quan hệ chặt chẽ với

nhau, với tốc độ tăng trưởng tín dụng như

mấy năm trở lại đây, NH càng cần phải lưu

tâm đến quản trị RRTK [4]

Thứ ba, cần phải kiểm soát hiệu quả hoạt

động tín dụng bằng các chuẩn mực cụ thể,

tránh tình trạng cho vay tràn lan với quy trình

thẩm định lỏng lẻo Đặc biệt với các nhóm

ngành như bất động sản, dù là khoản vay cho

mục đích đầu tư bất động sản hay sử dụng bất

động sản như tài sản thế chấp/đảm bảo cho

khoản vay thì NH cũng cần có các quy định

nghiêm ngặt để giám sát cả trước và sau khi

giải ngân [3]

Thứ tư, ngân hàng cũng phải nâng cao công

tác dự báo kinh tế vĩ mô nhằm chuẩn bị tinh

thần cho những biến động thị trường tài chính

tiền tệ, những biến động xảy ra một cách bất

ngờ có thể ảnh hưởng nặng nề đến hoạt động

kinh doanh của ngân hàng

Thứ năm, để giảm thiểu ảnh hưởng của

RRTK nếu có, NH cần có các biện pháp tài

trợ cho RRTK ví dụ như ký kết các hợp đồng

bảo hiểm tiền gửi, nâng cao công tác quản trị

RRTK trong toàn hệ thống nhằm nhận diện,

đo lường và phân tích chính xác mức độ rủi ro thanh khoản

Cuối cùng, NHTM cần có công tác quản trị

thông tin minh bạch, tránh những tin đồn thất thiệt xảy ra gây ảnh hửởng đến uy tín của NH

và khủng hoảng lòng tin trong công chúng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Báo cáo kết quả kinh doanh thường niên của ngân hàng HSBC năm 2008

2 Báo cáo kết quả kinh doanh thường niên của ngân hàng Maritime Bank năm 2012

3 Báo cáo kết quả kinh doanh thường niên của ngân hàng Techcombank năm 2010

4 Nguyễn Bảo Huyền, (2016), Rủi ro thanh khoản

tại các NHTM Việt Nam, Luận án tiến sỹ, Học

viện Ngân hàng, Hà Nội

5 Nguyễn Đắc Hưng (2008), “Trao đổi về quản

trị rủi ro thanh khoản các ngân hàng thương mại”,

Tạp chí Ngân hàng, 24,tr 25 -30

6 Nguyễn Đức Hưởng (2009), Khủng hoảng

thanh khoản tài chính toàn cầu – thách thức với Việt Nam, Nhà xuất bản Thanh niên

7 Nguyễn Văn Tiến (2010), Quản trị rủi ro trong

kinh doanh ngân hàng, Nhà xuất bản Thống kê

8 Rudolf Duttweiler (2010), Quản lý thanh khoản

ngân hàng, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí

Minh

SUMMARY

EXPERIENCES IN MANAGING LIQUIDITY RISK

FOR ASIA COMMERCIAL BANK

1

University of Economics and Business Administration - TNU

2 Thai Nguyen University

In 2003, from bad rumors, customers withdrew money at Asia Commercial Bank (ACB), which severely affected banks' operations Ten years later, ACB's prestige was lowered again when Nguyen Duc Kien, the former vice chairman of ACB's founding board, was arrested for his bankruptcy of thousands of billion VN dong People are drawn in just a few days This shows that the management of liquidity risk at the bank still has many holes need to overcome in many stages The article will study the risk management experience at commercial banks in Vietnam to experience for ACB to improve business efficiency in the coming time

Keywords: Risk, liquidity, bank, experiences, manager

Ngày nhận bài: 19/4/2017; Ngày phản biện: 24/4/2017; Ngày duyệt đăng: 28/6/2017

*

Tel: 0986.466.246; Email: thuthuytn1211@gmail.com

Ngày đăng: 15/01/2021, 05:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w