1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA CÁN BỘ CÔNG CHỨC XÃ PHƯỜNG: NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH TẠI THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

9 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết này hướng đến xây dựng một khung lý thuyết nhằm phục vụ cho mục đích tìm hiểu các nhân tố chính tác động đến động lực làm việc của CBCC cấp xã, phường tại thành phố Thái Nguyê[r]

Trang 1

Tập 167, số 07, 2017

Trang 2

T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ

CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN – KINH TẾ

Nguyễn Thị Hải Phương - Bản chất của ngôn từ văn học (nghĩ từ bài viết Bản chất xã hội, thẩm mỹ của diễn

ngôn văn học của Trần Đình Sử) 21

Phạm Thị Mai Hương, Nguyễn Thị Thu Trang, Ngô Thị Lan Anh - Ảnh hưởng của lễ hội Vu Lan đến đời

sống đạo đức của nhân dân huyện Quốc Oai, Hà Nội 25

Phạm Thị Ngọc Anh - Hình tượng văn thủy ba trong mỹ thuật cổ Việt Nam và các ứng dụng trên sản phẩm mỹ

Lương Thị Thanh Dung – Sự khác nhau về kết cấu chữ Nôm của văn bản Thiền tông bản hạnh giữa bản in

Nguyễn Thị Quế, Phạm Phương Hoa - Đánh giá sự phù hợp của giáo trình New English File đối với việc

giảng dạy sinh viên không chuyên ngữ tại Trường Đại học Khoa học – Đại học Thái Nguyên 55

Hoàng Thị Thắm - Nghiên cứu về siêu nhận thức trong nghe tiếng Anh của sinh viên chương trình tiên tiến tại

Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp – Đại học Thái Nguyên 61

Nguyễn Quỳnh Trang, Dương Công Đạt, Vũ Kiều Hạnh - Thiết kế chương trình bổ trợ nói cho học sinh lớp

10 Trường Trung học Phổ thông Thái Nguyên 67

Nguyễn Văn Hồng, Vũ Thị Thanh Thủy - Dạy học theo dự án và vấn đề phát triển năng lực nghiên cứu khoa

học cho học sinh trong dạy học Sinh thái học ở trung học phổ thông 79

Trần Thị Phương Thảo, Nguyễn Thị Hoa Hồng - Nâng cao tính ứng dụng trong xây dựng chương trình đào

tạo đại học tại Việt Nam – bài học từ chương trình giáo dục đại học định hướng nghề nghiệp ứng dụng (POHE) 85

Phạm Thị Bích Thảo, Nguyễn Thành Trung - Lựa chọn bài tập thể lực chuyên môn nâng cao kết quả học tập

chạy cự ly ngắn cho sinh viên khóa 14 Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên 91

Lê Huy Hoàng, Nguyễn Thị Huyền, Nguyễn Thị Ngân, Vũ Thị Vân Anh - Phát triển năng lực sử dụng ngôn

ngữ hóa học của học sinh phổ thông trong dạy học các nội dung về hóa học hữu cơ chương trình hóa học lớp 12

Nguyễn Trọng Du - Phỏng vấn ‘nhóm tập trung’: một phương pháp thu thập dữ liệu hiệu quả với các nghiên

Đỗ Thị Thái Thanh, Trương Tấn Hùng, Đào Ngọc Anh - Xây dựng hồ sơ năng lực bồi dưỡng giáo viên thể

dục các trường trung học phổ thông các tỉnh miền núi phía Bắc 109

Nguyễn Ngọc Bính, Dương Tố Quỳnh, Nguyễn Văn Thanh - Thực trạng sử dụng hệ thống phương tiện

chuyên môn trong giảng dạy môn bóng chuyền cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh -

Lê Văn Hùng, Nguyễn Nhạc - Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động câu lạc bộ bóng đá nam sinh viên

Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên 119

Journal of Science and Technology

167 (07)

Trang 3

Nguyễn Văn Dũng, Lê Văn Hùng - Một số giải pháp giúp sinh viên lựa chọn môn học tự chọn trong chương

trình giáo dục thể chất dành cho sinh viên không chuyên thể dục thể thao Trường Đại học Sư phạm – Đại học

Đỗ Quỳnh Hoa - Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc xây dựng lối sống cho sinh viên Trường Đại học

Công nghệ Thông tin và Truyền thông – Đại học Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay 135

Phạm Văn Hùng, Nguyễn Huy Hùng - Đánh giá đầu ra của chương trình đào tạo qua mức độ đáp ứng chuẩn

Ngô Thị Lan Anh, Nguyễn Thị Thu Hiền - Yêu cầu khách quan của việc đổi mới quy trình kiểm tra đánh giá

kết quả học tập môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông nước ta hiện nay 147

Trương Thị Thu Hương, Trương Tuấn Anh - Ứng dụng dạy học dự án trong đào tạo giáo viên kỹ thuật tại

Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp - Đại học Thái Nguyên 153

Dương Quỳnh Phương, Trần Viết Khanh, Đồng Duy Khánh - Những nhân tố chi phối đến văn hóa tộc người

và văn hóa cộng đồng dân tộc dưới góc nhìn địa lí học 159

Nguyễn Thị Thanh Tâm, Trần Quyết Thắng, Đào Thị Hương - Đánh giá mức độ hài lòng của khách du lịch

đối với đội ngũ hướng dẫn viên du lịch tại một số công ty kinh doanh lữ hành trên địa bàn thành phố Thái

Nguyễn Văn Chung, Đinh Hồng Linh - Các yếu tố thành công cho website thương mại điện tử: trường hợp

doanh nghiệp du lịch nghỉ dưỡng vừa và nhỏ ở Quảng Bình 171

Đặng Thị Bích Huệ - Dự án hỗ trợ nông nghiệp, nông dân và nông thôn tỉnh Tuyên Quang và các tác động đến

Lương Văn Hinh, Lương Trung Thuyền - Nghiên cứu biến động giá đất ở trên địa bàn thị trấn Thất Khê,

huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011 – 2015 183

Nguyễn Tú Anh, Nguyễn Thị Lan Anh, Nguyễn Thành Minh - Nghiên cứu các mối quan hệ cung ứng dịch

vụ quản trị hoạt động có dịch vụ trách nhiệm xã hội: trường hợp điển cứu tại các công ty dịch vụ vận tải chở

khách vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 189

Nguyễn Thị Thu Thương, Hoàng Ngọc Hiệp - Thực trạng quản lý vốn ngân sách nhà nước cho đầu tư phát

triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên 193

Tạ Thị Thanh Huyền, Nguyễn Mạnh Dũng - Tăng cường quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách

nhà nước trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 199

Nguyễn Thị Kim Huyền - Ứng dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS): kinh nghiệm quốc tế và bài

Nguyễn Thị Nhung, Phan Thị Vân Giang - Tạo động lực cho các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư

nhân đầu tư trực tiếp ra nước ngoài 211

Phạm Thuỳ Linh, Phạm Hoàng Linh, Trần Thị Thu Trâm - Xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam trong bối

Nguyễn Thị Thu Trang, Trần Bích Thủy - Động lực làm việc của cán bộ công chức xã phường: nghiên cứu

Nguyễn Thu Thủy, Hoàng Thái Sơn - Bài học kinh nghiệm trong quản lý rủi ro thanh khoản đối với Ngân

Đoàn Quang Thiệu - Một số kết quả xây dựng mô hình học tập, thực hành về kế toán doanh nghiệp 243

Trang 4

Nguyễn Thị Thu Trang và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 167(07): 225 - 230

225

ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA CÁN BỘ CÔNG CHỨC XÃ PHƯỜNG:

NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH TẠI THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

Trường Đại học Kinh tế & Quản trị kinh doanh – ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Trong hệ thống chính quyền ở nước ta, thì chính quyền cơ sở có một vị trí rất quan trọng, là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền nhà nước với nhân dân thông qua đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền cấp xã nói riêng và hệ thống chính trị nói chung xét đến cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực, và hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ công chức (CBCC) cấp xã, phường Nghiên cứu về động lực làm việc (ĐLLV) của CBCC

xã phường tại thành phố Thái Nguyên là thật sự cấp thiết Bài viết này hướng đến xây dựng một khung lý thuyết nhằm phục vụ cho mục đích tìm hiểu các nhân tố chính tác động đến động lực làm việc của CBCC cấp xã, phường tại thành phố Thái Nguyên Khung lý thuyết do tác giả đề xuất là

sự điều chỉnh từ mô hình gốc Tháp nhu cầu của Maslow (1943) và mô hình của Nevis (1983), Hoàng Thị Hồng Lộc (2014) cho phù hợp với đối tượng nghiên cứu là CBCC xã, phường tại thành phố Thái Nguyên

Từ khóa: Động lực làm việc, khu vực công, cán bộ công chức, chính quyền, khung lý thuyết

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đã trở

thành nội dung tâm điểm trên rất nhiều diễn

đàn ở nước ta hiện nay Thực tế cho thấy, chủ

trương cải cách hành chính nhằm thúc đẩy

phát triển kinh tế chỉ có thể thành công khi

hiệu quả làm việc của các cán bộ công chức,

viên chức được cải thiện Tại Nghị quyết số

30c/NQ-CP về Chương trình tổng thể cải cách

hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 đã

chỉ rõ một trong những nhiệm vụ trọng tâm

của cải cách hành chính là: nâng cao chất

lượng đội ngũ CBCC viên chức, chú trọng cải

cách chính sách tiền lương nhằm tạo động lực

thực sự để CBCC viên chức thực thi công vụ

có chất lượng và hiệu quả cao; nâng cao chất

lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch

vụ công Có thể khẳng định, một khi hiệu suất

và hiệu quả làm việc của các cán bộ quản lý

và người thực thi công vụ được cải thiện sẽ

trở thành nền tảng vững chắc cho quá trình

cải cách hành chính và cải cách thể chế Tuy

nhiên, thực tế cho thấy, khu vực công với chế

độ chức nghiệp gần như trọn đời, hoạt động

bằng ngân sách nhà nước, ràng buộc chặt chẽ

về thứ bậc, quyền hạn lại là khu vực dễ nảy

*

Tel: 0975818986; Email: nguyentrang.tueba@gmail.com

sinh sự trì trệ, quan liêu và tâm lý ỷ lại ở các nhân viên nhà nước Vì thế, các nhà lãnh đạo luôn phải đối mặt với thách thức tìm kiếm những động lực thúc đẩy để nhân viên của họ làm việc hăng say và cho năng suất cao hơn Trong hệ thống chính quyền ở nước ta, thì chính quyền cơ sở có một vị trí rất quan trọng, là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền nhà nước với nhân dân thông qua đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền cấp xã nói riêng

và hệ thống chính trị nói chung xét đến cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực, và hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ công chức cấp xã, phường

Tính đến hết năm 2016, Thành phố Thái Nguyên có 19 phường, 8 xã với 286 CBCC Trong những năm vừa qua, được sự quan tâm của các cấp uỷ đảng, chính quyền và các đoàn thể chính trị - xã hội, đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường của thành phố Thái Nguyên

đã tăng về số lượng (cụ thể năm 2016 tăng 14% so với năm 2015), có bước tiến bộ rõ rệt

về chất lượng và năng lực thực tiễn, tích cực tham mưu thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở Bên cạnh những ưu điểm và tích cực, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, phường còn có những mặt

Trang 5

Nguyễn Thị Thu Trang và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 167(07): 225 - 230

226

hạn chế, yếu kém như : Trình độ chuyên môn,

nghiệp vụ, năng lực công tác không đồng đều

giữa các chức danh; Một số chức danh bầu cử

không đủ tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ;

Tinh thần trách nhiệm của một số cán bộ,

công chức chưa cao, còn gây phiền hà, sách

nhiễu nhân dân; Công tác quản lý cán bộ,

công chức của một số địa phương chưa chặt

chẽ; tính cục bộ địa phương, dòng họ ảnh

hưởng trực tiếp đến công tác cán bộ; Chưa

kiên quyết trong việc phê duyệt nhân sự và

giải quyết chế độ, chính sách đối với những

người không đủ tiêu chuẩn Những hạn chế,

yếu kém trên đã tác động trực tiếp đến hiệu quả

hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở

Một trong các giải pháp đề xuất nhằm khắc

phục hạn chế, yếu kém kể trên là nâng cao

động lực làm việc cho CBCC Vì vậy, cần

phải có nghiên cứu cụ thể nhằm làm rõ yếu tố

nào thực sự ảnh hưởng đến ĐLLV của CBCC

xã phường tại thành phố Thái Nguyên Trong

những năm qua, nghiên cứu về động lực làm

việc (ĐLLV) của CBCC xã phường tại thành

phố Thái Nguyên vẫn còn nhiều khoảng

trống Chính vì vậy, bài viết này hướng đến

xây dựng một khung lý thuyết nhằm phục vụ

cho mục đích tìm hiểu các nhân tố chính tác

động đến ĐLLV của CBCC cấp xã, phường

tại Thái Nguyên Khung lý thuyết do tác giả

đề xuất là sự điều chỉnh từ mô hình gốc Tháp

nhu cầu của Maslow (1943) [6] và mô hình

của Nevis (1983) [7], Hoàng Thị Hồng Lộc

(2014) [2] cho phù hợp với đối tượng nghiên cứu

là CBCC xã, phường tại thành phố Thái Nguyên

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN

CỨU ĐIỂN HÌNH

Để trả lời được câu hỏi liệu những nhân tố

nào có ảnh hưởng đến động lực làm việc của

người lao động trong khu vực công, thì trước

hết cần phải làm rõ khái niệm “động lực làm

việc” Theo Kleinginna & Kleinginna

(1981) [5], đã có ít nhất 140 định nghĩa

khác nhau về ĐLLV Tác giả ủng hộ quan

điểm của Herzberg (1959) [4] cho rằng

“ĐLLV là sự khao khát và tự nguyện của

người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm

hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức”

Lý thuyết thang bậc nhu cầu của Maslow Theo Maslow (1943) [6], hành vi của con người bắt nguồn từ mong muốn thỏa mãn các nhu cầu cá nhân Nhu cầu của con người được chia thành 5 bậc từ thấp (cấp thiết

nhất) đến cao (ít cấp thiết) gồm: nhu cầu

sinh lý – nhu cầu an toàn – nhu cầu xã hội – nhu cầu được tôn trọng – nhu cầu tự thể hiện bản thân Tháp nhu cầu Maslow được

xây dựng dựa trên các giả định: (1) Nhu cầu chính là cơ sở hình thành nên động cơ thôi thúc con người hành động Con người

cố gắng thỏa mãn trước hết là những nhu cầu quan trọng nhất Tuy nhiên, khi một nhu cầu đã được thỏa mãn thì nó không còn là động cơ hiện thời nữa, và người ta lại cố gắng tìm cách thỏa mãn nhu cầu quan trọng nhất tiếp theo (2) Nhu cầu bậc cao chỉ xuất hiện khi nhu cầu ở bậc thấp hơn đã được

thỏa mãn (Hình 1)

Những khác biệt từ thực tiễn nghiên cứu ứng dụng thuyết Tháp nhu cầu Maslow Khi ứng dụng lý thuyết Tháp nhu cầu Maslow nhằm tạo ĐLLV cho người lao động trong môi trường tổ chức, Trương Minh Đức (2011) [1] xây dựng thang đo cho các biến độc lập là: (1) Nhu cầu sinh học cơ bản; (2) Nhu cầu an toàn; (3) Nhu cầu quan hệ xã hội; (4) Nhu cầu được tôn trọng; (5) Nhu cầu tự thể hiện bản thân Ứng dụng thuyết Tháp nhu cầu Maslow của Smith (2003) [9] thực hiện trong khu vực công cho thấy rằng nhu cầu “Sự an toàn thuộc

về tổ chức” cần được đề cập đến, trong đó nhấn mạnh sự đại diện của Công đoàn để bảo

vệ người lao động trong các tổ chức công Nevis (1983) [7] chỉ ra điểm khác biệt lớn nhất giữa Tháp nhu cầu của người Trung Quốc so với Tháp nhu cầu Maslow chính là ở

vị trí thứ bậc của “nhu cầu xã hội”, và sự loại

bỏ “nhu cầu được tôn trọng” ra khỏi Tháp nhu cầu Cụ thể, thứ bậc từ thấp đến cao trong

Tháp nhu cầu của người Trung Quốc như sau:

nhu cầu xã hội – nhu cầu sinh lý – nhu cầu an toàn – nhu cầu tự thể hiện Kết quả nghiên

cứu cho thấy, cần có sự điều chỉnh mô hình gốc của Maslow trước khi áp dụng ở các quốc gia có nền văn hóa tập thể như Trung Quốc và các nước Đông Á khác

Trang 6

Nguyễn Thị Thu Trang và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 167(07): 225 - 230

227

Hình 1 Tháp nhu cầu của Maslow

(Nguồn: Maslow (1943))

Buelens & Van den Broeck (2007) [3] đã

triển khai nghiên cứu “Phân tích sự khác biệt

trong động lực làm việc giữa những tổ chức ở

khu vực công và khu vực tư” Nghiên cứu

được thực hiện nhằm tìm ra sự khác biệt về

động lực làm việc của người lao động ở khu

vực công so với khu vực tư nhân Dữ liệu

nghiên cứu được thu thập từ cuộc điều tra

gồm 3314 nhân viên ở khu vực tư, và 409

nhân viên làm việc ở khu vực công tại Vương

quốc Bỉ Nghiên cứu này đã tiến hành kiểm

định 7 giả thuyết bao gồm H1: So với khu

vực tư nhân, những người lao động ở khu vực

công ít được thúc đẩy làm việc bởi các phần

thưởng là tiền; H2: So với khu vực tư nhân,

những người lao động ở khu vực công được

khuyến khích làm việc nhiều hơn bởi các yếu

tố bên trong như: tinh thần trách nhiệm và sự

tự phát triển; H3: So với khu vực tư nhân,

những người lao động ở khu vực công được

thúc đẩy nhiều hơn bởi một môi trường làm

việc có đầy đủ sự cảm thông và sự hỗ trợ; H4:

So với khu vực tư nhân, những người lao

động ở khu vực công làm việc ít giờ hơn, và ít

sẵn lòng nỗ lực vì các lợi ích của tổ chức; H5:

Sự khác biệt về tôn ti trật tự là yếu tố quan

trọng hơn sự khác biệt về khu vực làm việc

của người lao động; H6: Để giải thích sự khác

nhau về động lực làm việc giữa khu vực công

và khu vực tư nhân thì yếu tố khu vực làm việc chiếm vai trò quan trọng hơn so với các yếu tố nhân khẩu học như: giới tính, tuổi, trình độ học vấn; H7: So với khu vực tư nhân, những người lao động ở khu vực công ít gặp phải mâu thuẫn giữa gia đình và công việc Kết quả phân tích dữ liệu cho thấy nghiên cứu này chấp nhận và ủng hộ các giả thuyết H1; H3; H4; H5; H7 Giả thuyết H2; H6 bị bác bỏ Ngoài ra, nghiên cứu này còn chỉ ra sự khác biệt trong động lực làm việc giữa phụ nữ và nam giới

MÔ HÌNH ĐỀ XUẤT Với đối tượng nghiên cứu là ĐLLV của CBCC xã phường ở Việt Nam nói chung, ở thành phố Thái Nguyên nói riêng CBCC cấp

xã hầu hết là người địa phương, sinh sống tại địa phương, có quan hệ dòng tộc và gắn bó mật thiết với nhân dân Cấp xã là nơi giải quyết trực tiếp các vấn đề của người dân, so với các cấp quản lý khác (Trung ương; Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) thì quy

mô của cấp xã nhỏ hơn nhưng các vấn đề phải giải quyết thường phức tạp Do đó, việc xem xét các đặc trưng của nền văn hóa tập thể và những đặc điểm riêng có của CBCC cấp xã là cần thiết

Nhu cầu được tôn trọng

Nhu cầu xã hội

Nhu cầu an toàn

Nhu cầu sinh lý

NC tự

cao

Cấp thấp

Trang 7

Nguyễn Thị Thu Trang và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 167(07): 225 - 230

228

Xét về khía cạnh văn hóa thì mô hình của

Nevis (1983) [7] được cho là phù hợp hơn mô

hình của Maslow khi áp dụng vào Việt Nam

do sự tương đồng về văn hóa giữa Việt Nam

và Trung Quốc Theo Nevis, đối với phần lớn

người Trung Quốc, trong một tổ chức làm việc

thì xây dựng mối quan hệ mật thiết với đồng

nghiệp hay các thành viên khác trong cùng một

nhóm được xem là quan trọng hơn nhiệm vụ

thực hiện tốt công việc Do đó, nhu cầu xã hội

trở thành nhu cầu ở bậc thấp nhất (nhu cầu

quan trọng nhất) Bên cạnh đó, do chủ nghĩa cá

nhân không được chú trọng và lợi ích cá nhân

lại được định nghĩa theo lợi ích nhóm nên nhu

cầu được tôn trọng bị loại ra khỏi mô hình của

Nevis Tuy nhiên, việc loại bỏ hay giữ lại nhu

cầu được tôn trọng trong mô hình cần phải

được suy xét kỹ lưỡng Trải qua nhiều cuộc cải

cách, hội nhập quốc tế sâu rộng ở cả Trung

Quốc và Việt Nam, bối cảnh xã hội hiện nay

đã thay đổi khá nhiều so với những năm đầu

thập niên 80 Tôi cho rằng việc giữ lại nhu cầu

được tôn trọng trong mô hình phân tích các

nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc

(ĐLLV) là cần thiết

Chính vì vậy, mô hình nghiên cứu (Hình 2)

được nhóm tác giả đề xuất nhằm mục

đích xây dựng thang đo cụ thể cho 5 nhu

cầu (nhu cầu xã hội – nhu cầu cơ bản– nhu

cầu an toàn – nhu cầu được tôn trọng – nhu

cầu tự thể hiện) Từ đó, các học giả có thể

tìm được những nhân tố tác động mạnh mẽ

và có ý nghĩa thống kê đến ĐLLV của CBCC

cấp xã tại thành phố Thái Nguyên

Mối quan hệ giữa 5 nhu cầu và Động lực

làm việc

Nhu cầu xã hội: Từ kết quả nghiên cứu thực

nghiệm của Trương Minh Đức (2011) [1], tại

Việt Nam; Song & ctg (2007) [10] thực hiện

tại Trung Quốc cho thấy nhu cầu xã hội có tác

động thuận chiều đến ĐLLV

Nhu cầu cơ bản: Trương Minh Đức (2011)

[1], Song & ctg (2007) [10] đã chỉ ra rằng,

mong muốn có được mức tiền lương cao sẽ

thúc đẩy nhân viên khát khao làm việc chăm

chỉ và hiệu quả hơn nhằm thỏa mãn mục tiêu

về vật chất của cá nhân

Nhu cầu an toàn: Theo Smith (2003) [9],

trong các tổ chức công thì nhu cầu về sự an toàn của người lao động bao gồm sự an toàn

cá nhân, và sự an toàn thuộc về tổ chức mà trong đó nhấn mạnh đến sự tồn tại của tổ chức Công đoàn nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động Nghiên cứu của Trương Minh Đức (2011) [1], Song & ctg (2007) [10] cho thấy nhu cầu an toàn là yếu tố có tác động thuận chiều đến ĐLLV

Nhu cầu được tôn trọng thuộc nhóm nhu cầu

bậc cao của con người Các nghiên cứu của Trương Minh Đức (2011) [1], Song & ctg (2007) [10] đều ủng hộ rằng để có địa vị cao hơn trong tổ chức, người lao động sẽ nỗ lực thể hiện các hành vi tích cực nhằm đạt được mục tiêu và sự thừa nhận của đồng nghiệp, lãnh đạo Điều này cho thấy nhu cầu được tôn trọng có tác động đồng biến đến ĐLLV

Nhu cầu tự thể hiện bản thân: là nhu cầu ở

bậc cao nhất trong Tháp nhu cầu Maslow Theo Trương Minh Đức (2011) [1], Song & ctg (2007) [10] mong muốn trải nghiệm những công việc mang tính thử thách sẽ tác động tích cực đến ĐLLV của nhân viên, khiến cho họ chăm chỉ và cố gắng hơn để giải quyết các nhiệm vụ khó khăn Như vậy, nhu cầu tự thể hiện bản thân có ảnh hưởng thuận chiều đến ĐLLV

Trên cơ sở các nghiên cứu trước và mối quan

hệ giữa các loại nhu cầu với ĐLLV, mô hình bên dưới được đề xuất nhằm nhận dạng và đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến ĐLLV, với 6 giả thuyết: H1: Nhu cầu xã hội có tác động đồng biến đến ĐLLV; H2: Nhu cầu cơ bản có tác động đồng biến đến ĐLLV; H3: Nhu cầu

an toàn có tác động đồng biến đến ĐLLV; H4: Nhu cầu được tôn trọng có tác động đồng biến đến ĐLLV; H5: Nhu cầu tự thể hiện bản thân có tác động đồng biến đến ĐLLV; H6: Các yếu tố nhân khẩu học tạo nên sự khác biệt đối với ĐLLV

Trang 8

Nguyễn Thị Thu Trang và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 167(07): 225 - 230

229

Hình 2 Mô hình động lực làm việc của CBCC xã phường

(Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp)

KẾT LUẬN

Nevis (1983) [7] đã điều chỉnh lý thuyết Tháp

nhu cầu của Maslow (1943) [6] cho phù hợp

với đặc trưng của chủ nghĩa tập thể trong nền

văn hóa Trung Quốc Tác giả đã kế thừa có

bổ sung kết quả nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu gồm 23 biến đo lường cho 5 loại nhu cầu gồm Nhu cầu xã hội, Nhu cầu

+

+

+

+

+

2 Nhu cầu cơ bản (CB)

- Tiền lương cơ bản hiện tại (CB1)

- Thu nhập từ công việc hiện tại đem lại

(CB2)

- Lãnh đạo quan tâm đến đời sống vật

chất của nhân viên (CB3)

- Điều kiện làm việc, cơ sở vật chất nơi

làm việc (CB4)

1 Nhu cầu xã hội (XH)

- Mối quan hệ với đồng nghiệp (XH1)

- Mối quan hệ với lãnh đạo (XH2)

- Mối quan hệ với công dân (XH3)

- Mối quan hệ với gia đình (XH4)

- Sự hỗ trợ của lãnh đạo & đồng

nghiệp trong công việc (XH5)

3 Nhu cầu an toàn (AT)

- An toàn lao động (AT1)

- Áp lực công việc (AT2)

- Công việc ổn định lâu dài (AT3)

- Chế độ dành cho nhân viên nghỉ

ốm/thai sản/ biến cố gia đình (AT4)

đáng của người lao động (AT5)

4 Nhu cầu được tôn trọng (TT)

- Vị trí hiện tại trong tổ chức (TT1)

- Sự ghi nhận của lãnh đạo và tập thể về

những đóng góp của cá nhân (TT2)

- Sự động viên, khích lệ của lãnh đạo đối

với nhân viên (TT3)

- Sự tôn trọng của đồng nghiệp (TT4)

5 Nhu cầu tự thể hiện bản thân (TH)

- Được chủ động trong công việc (TH1)

- Cơ hội được học tập (TH2)

- Cơ hội được thăng tiến (TH3)

- Công việc phù hợp, có điều kiện phát

huy chuyên môn nghiệp vụ (TH4)

- Bản chất công việc thú vị, có nhiều

thử thách, nhiều ý nghĩa xã hội (TH5)

ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA CÁN BỘ CÔNG CHỨC

XÃ PHƯỜNG

6 Nhân khẩu học (NKH)

- Tuổi (NKH1)

- Giới tính (NKH2)

- Kiểu gia đình (NKH3)

Yếu tố NKH tạo nên sự khác biệt đối với động lực làm việc

Trang 9

Nguyễn Thị Thu Trang và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 167(07): 225 - 230

230

sinh lý, Nhu cầu an toàn, Nhu cầu được tôn

trọng, Nhu cầu tự thể hiện bản thân Trên cơ

sở mô hình nghiên cứu đề xuất, các nhà

nghiên cứu, nhà quản lý cần phải nhìn nhận

một cách nghiêm túc việc thỏa mãn các nhu

cầu nhằm tạo động lực làm việc cho CBCC

cấp xã phường Bên cạnh đó, mô hình còn

giúp ta kiểm định sự khác biệt về động lực

làm việc giữa CBCC thuộc các nhóm tuổi,

học vấn, giới tính, cấp bậc quản lý khác nhau

Từ đó, các nhà lãnh đạo có cơ sơ đề xuất biện

pháp thúc đẩy nhân viên theo những hình

thức khác nhau, phù hợp với đặc điểm của

từng nhóm đối tượng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Trương Minh Đức (2011), “Ứng dụng mô hình

định lượng đánh giá mức độ tạo động lực làm việc

cho nhân viên Công ty Trách nhiệm hữu hạn

ERICSSON Việt Nam”, Tạp chí Khoa học

ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh, 27, tr 240 – 247

2 Hoàng Thị Hồng Lộc (2014), “Xây dựng khung

lý thuyết về động lực làm việc ở khu vực công tại

Việt Nam”, Tạp chí khoa học trường Đại học Cần

Thơ, 32, tr 97-105

3 Buelens, Marc and Van den Broeck, Herman (2007), “An Analysis of Differences in Work Motivation between Public and Private Organizations”,

Public Administration Review, 67(1), pp 65 – 74

4 Herzberg, Frederick (1959), The motivation to

work, Wiley Publisher, New York

5 Kleinginna, Paul R Jr., and Kleinginna, Anne

M (1981), “A Categorized List of Emotion Definitions, with Suggestions for a Consensual

Definition”, Journal: Motivation and Emotion,

5(4), pp 263 – 291

6 Maslow, Abraham H (1943), “A Theory of

Human Motivation”, Psychological Review, 50(4),

pp 370 – 396

7 Nevis, Edwin C (1983), "Using an American perspective in understanding another culture: Toward a hierarchy of needs for the People's

Republic of China", The Journal of Applied

Behavioral Science, 19(3), pp 249-264

8 Smith, Louise J (2003), Evaluating the

applicability of Maslow's theory of motivation to ancillary staff, Diss Sheffield Hallam University

9 Song, Lianke & Wang, Yonggui & Wei,

preference within the Chinese context: an

empirical study”, Chinese Management Studies,

1(1), pp 25 – 41

SUMMARY

WORK MOTIVATION OF COMMUNAL CIVIL SERVANTS:

RESEARCH IN THAI NGUYEN CITY

University of Economics and Business Administration - TNU

In the governmentl system of our country, the grassroots government is very important position, is the direct bridge of government system to the people through the communal civil servants The validity and effectiveness of the commune-level civil administration in particular and the political system in general are determined by the quality, capacity and effectiveness of the work of communal civil servants This writing aims at building the theorical framework theory for researching the factors that affecting the work motivation of communal civil servants in Thai Nguyen Theoretical framework is proposed by the author is the adjustment of the maslow's hierarchy of needs theory (1943) and theory of Nevis (1983), Hoang Thi Hong Loc (2014) to suit with the subjects of this research are communal civil servants in Thai Nguyen

Keywords: Motivation to work, Public area, communal civil servants, governmentl, theorical

framework

Ngày nhận bài: 12/4/2017; Ngày phản biện: 02/5/2017; Ngày duyệt đăng: 28/6/2017

*

Tel: 0975818986; Email: nguyentrang.tueba@gmail.com

Ngày đăng: 15/01/2021, 05:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Dương Thị Huyền - Thương mại châu Âu và những tác động đến tình hình chính trị Đàng Trong thế kỷ XVI- XVIII 9 - ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA CÁN BỘ CÔNG CHỨC XÃ PHƯỜNG: NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH TẠI THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
ng Thị Huyền - Thương mại châu Âu và những tác động đến tình hình chính trị Đàng Trong thế kỷ XVI- XVIII 9 (Trang 2)
điển hình tại thành phố Thái Nguyên 225 - ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA CÁN BỘ CÔNG CHỨC XÃ PHƯỜNG: NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH TẠI THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
i ển hình tại thành phố Thái Nguyên 225 (Trang 3)
Hình 1. Tháp nhu cầu của Maslow - ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA CÁN BỘ CÔNG CHỨC XÃ PHƯỜNG: NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH TẠI THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
Hình 1. Tháp nhu cầu của Maslow (Trang 6)
Hình 2. Mô hình động lực làm việc của CBCC xã phường - ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA CÁN BỘ CÔNG CHỨC XÃ PHƯỜNG: NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH TẠI THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
Hình 2. Mô hình động lực làm việc của CBCC xã phường (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w