1. Trang chủ
  2. » Lịch sử lớp 11

PHỎNG VẤN ‘NHÓM TẬP TRUNG’: MỘT PHƯƠNG PHÁP THU THẬP DỮ LIỆU HIỆU QUẢ VỚI CÁC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC XÃ HỘI

9 77 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hy vọng rằng, với những ưu điểm nội trội của FGI những nhà nghiên cứu ở Việt Nam, đặc biệt là học viên cao học và nghiên cứu sinh, có thể áp dụng phương pháp phỏng vấn này với[r]

Trang 1

Tập 167, số 07, 2017

Trang 2

T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ

CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN – KINH TẾ

Nguyễn Đại Đồng - Hoạt động khai thác mỏ ở Lào Cai dưới thời Gia Long và Minh Mệnh 3

Dương Thị Huyền - Thương mại châu Âu và những tác động đến tình hình chính trị Đàng Trong thế kỷ XVI- XVIII 9

Trần Thị Nhung - Miêu tả tình tiết trong Truyện Kiều và Kim Vân Kiều Truyện 15

Nguyễn Thị Hải Phương - Bản chất của ngôn từ văn học (nghĩ từ bài viết Bản chất xã hội, thẩm mỹ của diễn

Phạm Thị Mai Hương, Nguyễn Thị Thu Trang, Ngô Thị Lan Anh - Ảnh hưởng của lễ hội Vu Lan đến đời

sống đạo đức của nhân dân huyện Quốc Oai, Hà Nội 25

Phạm Thị Ngọc Anh - Hình tượng văn thủy ba trong mỹ thuật cổ Việt Nam và các ứng dụng trên sản phẩm mỹ

thuật tạo hình hiện đại 31

Trương Thị Phương - Giải pháp ứng dụng hiệu quả thông tin đồ họa trên báo điện tử 37

Lương Thị Thanh Dung – Sự khác nhau về kết cấu chữ Nôm của văn bản Thiền tông bản hạnh giữa bản in

năm 1745 và bản in năm 1932 49

Nguyễn Thị Quế, Phạm Phương Hoa - Đánh giá sự phù hợp của giáo trình New English File đối với việc

giảng dạy sinh viên không chuyên ngữ tại Trường Đại học Khoa học – Đại học Thái Nguyên 55

Hoàng Thị Thắm - Nghiên cứu về siêu nhận thức trong nghe tiếng Anh của sinh viên chương trình tiên tiến tại

Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp – Đại học Thái Nguyên 61

Nguyễn Quỳnh Trang, Dương Công Đạt, Vũ Kiều Hạnh - Thiết kế chương trình bổ trợ nói cho học sinh lớp

10 Trường Trung học Phổ thông Thái Nguyên 67

Nguyễn Khánh Như - Sự phát triển của hệ thống các trường đại học sư phạm trọng điểm Trung Quốc hiện nay 73

Nguyễn Văn Hồng, Vũ Thị Thanh Thủy - Dạy học theo dự án và vấn đề phát triển năng lực nghiên cứu khoa

học cho học sinh trong dạy học Sinh thái học ở trung học phổ thông 79

Trần Thị Phương Thảo, Nguyễn Thị Hoa Hồng - Nâng cao tính ứng dụng trong xây dựng chương trình đào

tạo đại học tại Việt Nam – bài học từ chương trình giáo dục đại học định hướng nghề nghiệp ứng dụng (POHE) 85

Phạm Thị Bích Thảo, Nguyễn Thành Trung - Lựa chọn bài tập thể lực chuyên môn nâng cao kết quả học tập

chạy cự ly ngắn cho sinh viên khóa 14 Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên 91

Lê Huy Hoàng, Nguyễn Thị Huyền, Nguyễn Thị Ngân, Vũ Thị Vân Anh - Phát triển năng lực sử dụng ngôn

ngữ hóa học của học sinh phổ thông trong dạy học các nội dung về hóa học hữu cơ chương trình hóa học lớp 12

Nguyễn Trọng Du - Phỏng vấn ‘nhóm tập trung’: một phương pháp thu thập dữ liệu hiệu quả với các nghiên

Đỗ Thị Thái Thanh, Trương Tấn Hùng, Đào Ngọc Anh - Xây dựng hồ sơ năng lực bồi dưỡng giáo viên thể

dục các trường trung học phổ thông các tỉnh miền núi phía Bắc 109

Nguyễn Ngọc Bính, Dương Tố Quỳnh, Nguyễn Văn Thanh - Thực trạng sử dụng hệ thống phương tiện

chuyên môn trong giảng dạy môn bóng chuyền cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh -

Lê Văn Hùng, Nguyễn Nhạc - Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động câu lạc bộ bóng đá nam sinh viên

Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên 119

Journal of Science and Technology

N¨m 2017

Trang 3

Nguyễn Văn Dũng, Lê Văn Hùng - Một số giải pháp giúp sinh viên lựa chọn môn học tự chọn trong chương

trình giáo dục thể chất dành cho sinh viên không chuyên thể dục thể thao Trường Đại học Sư phạm – Đại học

Nguyễn Văn Chiến, Nguyễn Trường Sơn, Đỗ Như Tiến - Một số kết quả ban đầu trong việc áp dụng CDIO

để xây dựng chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo tại Đại học Thái Nguyên 131

Đỗ Quỳnh Hoa - Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc xây dựng lối sống cho sinh viên Trường Đại học

Công nghệ Thông tin và Truyền thông – Đại học Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay 135

Phạm Văn Hùng, Nguyễn Huy Hùng - Đánh giá đầu ra của chương trình đào tạo qua mức độ đáp ứng chuẩn

Ngô Thị Lan Anh, Nguyễn Thị Thu Hiền - Yêu cầu khách quan của việc đổi mới quy trình kiểm tra đánh giá

kết quả học tập môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông nước ta hiện nay 147

Trương Thị Thu Hương, Trương Tuấn Anh - Ứng dụng dạy học dự án trong đào tạo giáo viên kỹ thuật tại

Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp - Đại học Thái Nguyên 153

Dương Quỳnh Phương, Trần Viết Khanh, Đồng Duy Khánh - Những nhân tố chi phối đến văn hóa tộc người

và văn hóa cộng đồng dân tộc dưới góc nhìn địa lí học 159

Nguyễn Thị Thanh Tâm, Trần Quyết Thắng, Đào Thị Hương - Đánh giá mức độ hài lòng của khách du lịch

đối với đội ngũ hướng dẫn viên du lịch tại một số công ty kinh doanh lữ hành trên địa bàn thành phố Thái

Nguyễn Văn Chung, Đinh Hồng Linh - Các yếu tố thành công cho website thương mại điện tử: trường hợp

doanh nghiệp du lịch nghỉ dưỡng vừa và nhỏ ở Quảng Bình 171

Đặng Thị Bích Huệ - Dự án hỗ trợ nông nghiệp, nông dân và nông thôn tỉnh Tuyên Quang và các tác động đến

đời sống người dân trên địa bàn xã Minh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang 177

Lương Văn Hinh, Lương Trung Thuyền - Nghiên cứu biến động giá đất ở trên địa bàn thị trấn Thất Khê,

huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011 – 2015 183

Nguyễn Tú Anh, Nguyễn Thị Lan Anh, Nguyễn Thành Minh - Nghiên cứu các mối quan hệ cung ứng dịch

vụ quản trị hoạt động có dịch vụ trách nhiệm xã hội: trường hợp điển cứu tại các công ty dịch vụ vận tải chở

khách vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 189

Nguyễn Thị Thu Thương, Hoàng Ngọc Hiệp - Thực trạng quản lý vốn ngân sách nhà nước cho đầu tư phát

triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên 193

Tạ Thị Thanh Huyền, Nguyễn Mạnh Dũng - Tăng cường quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách

nhà nước trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 199

Nguyễn Thị Kim Huyền - Ứng dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS): kinh nghiệm quốc tế và bài

Nguyễn Thị Nhung, Phan Thị Vân Giang - Tạo động lực cho các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư

nhân đầu tư trực tiếp ra nước ngoài 211

Phạm Thuỳ Linh, Phạm Hoàng Linh, Trần Thị Thu Trâm - Xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam trong bối

Nguyễn Thị Thu Trang, Trần Bích Thủy - Động lực làm việc của cán bộ công chức xã phường: nghiên cứu

Nguyễn Thu Thủy, Hoàng Thái Sơn - Bài học kinh nghiệm trong quản lý rủi ro thanh khoản đối với Ngân

hàng Thương mại Cổ phần Á Châu 231

Ngô Thúy Hà - Định hướng phát triển dịch vụ tín dụng cho hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đến năm 2020 237

Đoàn Quang Thiệu - Một số kết quả xây dựng mô hình học tập, thực hành về kế toán doanh nghiệp 243

Trang 4

Nguyễn Trọng Du Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 167(07): 103 - 108

103

PHỎNG VẤN ‘NHÓM TẬP TRUNG’: MỘT PHƯƠNG PHÁP THU THẬP

DỮ LIỆU HIỆU QUẢ VỚI CÁC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC XÃ HỘI

Khoa Ngoại ngữ - ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Bài viết giới thiệu một phương pháp phỏng vấn mới trong nghiên cứu khoa học xã hội, đó là phương pháp phỏng vấn ‘nhóm tập trung’ Tuy phương pháp này đã được sử dụng khá rộng rãi trên thế giới, nhưng nó chưa được áp dụng nhiều ở Việt Nam, đặc biệt là trong ngôn ngữ học ứng dụng Bài viết mở đầu bằng việc làm rõ đặc tính quan trọng nhất của phương pháp này giúp phân biệt nó với các phương pháp phỏng vấn khác như phỏng vấn cá nhân hoặc phỏng vấn nhóm thông thường Sau đó bài viết nêu lên các ưu điểm nổi trội cũng như một số hạn chế của nó, và trình bày các bước chuẩn bị và tiến hành phỏng vấn Cuối cùng, bài viết gợi ý các nhà nghiên cứu sử dụng thường xuyên hơn phương pháp phỏng vấn này vì những ưu điểm nội bật của nó

Từ khoá: phỏng vấn, phỏng vấn ‘nhóm tập trung’, phỏng vấn nhóm thông thường, phỏng vấn cá

nhân, câu hỏi phỏng vấn

Trong các nghiên cứu khoa học xã hội

(KHXH) phỏng vấn đã trở thành một phương

pháp thu thập dữ liệu phổ biến vì tính hữu

dụng của nó Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên

cứu mới chỉ biết đến phương pháp phỏng vấn

cá nhân mà chưa biết đến hoặc chưa từng sử

dụng phỏng vấn ‘nhóm tập trung’, có tên

tiếng Anh là Focus Group Interview (sau đây

được gọi tắt là FGI)

Vậy FGI là gì và có gì khác với phỏng vấn cá

nhân Có lẽ các nhà nghiên cứu không khó để

nhận thấy sự khác biệt giữa hai loại phỏng

vấn này, nó nằm ngay ở số lượng người tham

gia trong mỗi cuộc phỏng vấn: với phỏng vấn

cá nhân, mỗi lần phỏng vấn chỉ có một người

được phỏng vấn, còn với FGI mỗi lần phỏng

vấn có nhiều người tham gia Tuy nhiên, số

lượng người tham gia trong một cuộc phỏng

vấn không phải là sự khác nhau căn bản giữa

phỏng vấn cá nhân và FGI, mà quan trọng

hơn là sự tương tác giữa những người tham

gia phỏng vấn Đây cũng chính là sự khác biệt

giữa FGI với phỏng vấn nhóm thông thường

Đã có nhiều định nghĩa về FGI và phân biệt

nó với phương pháp phỏng vấn theo nhóm

thông thường khác nhưng nhìn chung những

học giả chuyên về lĩnh vực này như Baker &

*Tel: 0912452262; Email: nguyentrongdu.sfl@tnu.edu.vn

Hinton [1], Bloor, Frankland, Thomas & Robson [2], Marková, Linell, Grossen & Orvig [9], và Stewart & Shamdasani [12] đều thống nhất rằng FGI là loại phỏng vấn mà các thành viên trong nhóm cùng thảo luận về một hay một vài chủ đề cụ thể để xây dựng nên khối dữ liệu phỏng vấn Cụm từ ‘cùng thảo luận’ được chúng tôi in đậm vì nó thể hiện sự khác biệt căn bản giữa FGI với phỏng vấn nhóm thông thường Ở phỏng vấn nhóm thông thường, những người được phỏng vấn

sẽ lần lượt trả lời mỗi câu hỏi được người phỏng vấn nêu ra, họ chỉ tương tác với người phỏng vấn chứ hầu như không có tương tác gì với nhau Trái lại, với FGI điều quan trọng nhất là sự tương tác giữa các thành viên trong nhóm với nhau để xây dựng nên khối dữ liệu; người phỏng vấn chủ yếu đóng vai trò trung gian, điều hành cuộc phỏng vấn sao cho nó tập trung vào chủ đề Chính vì vậy người phỏng vấn còn thường được gọi là người điều hành (moderator) và trong quá trình phỏng vấn, người phỏng vấn có trách nhiệm hỗ trợ cho cuộc phỏng vấn được tiến triển tốt nhưng không nên can thiệp quá sâu vào sự tranh luận của những người tham gia Do đó, ngoài câu hỏi nghiên cứu do người phỏng vấn nêu ra, việc đặt những câu hỏi dẫn dắt hay kiểm tra không chỉ là nhiệm vụ của riêng người phỏng vấn mà còn có thể của chính những người

Trang 5

Nguyễn Trọng Du Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 167(07): 103 - 108

104

được phỏng vấn trong quá trình họ thảo luận

Tức là trong quá trình phỏng vấn, những

người tham gia được khuyến khích thảo luận,

thậm chí tranh luận hay phản bác lẫn nhau, và

nêu những quan điểm riêng của mình Ở

phương pháp phỏng vấn nhóm thông thường,

nhà nghiên cứu phỏng vấn lần lượt từng

người và không có sự thảo luận nào giữa các

thành viên trong nhóm

Dù không nhiều nhà nghiên cứu biết đến và

sử dụng phương pháp phỏng vấn này, FGI đã

có lịch sử phát triển khá lâu Ngay từ sau Thế

chiến lần thứ II, nó đã được sử dụng rộng rãi

[12] đặc biệt trong lĩnh vực tiếp thị Chẳng

hạn hãng máy bay Boeing đã sử dụng phương

pháp này để thăm dò ý kiến của thị trường về

những mẫu máy bay mới [12] Sau 40 năm

phát triển với nhiều thăng trầm, đến cuối

những năm 80 và đầu những năm 90 của thế

kỷ trước, FGI mới được sử dụng rộng rãi ở

các ngành KHXH như xã hội học, nhân chủng

học, khoa học sức khoẻ, khoa học giáo dục,

tâm lý học xã hội, liệu pháp tâm lý, đánh giá

chương trình, và ngôn ngữ học

ỨNG DỤNG CỦA FGI TRONG NGHIÊN

CỨU KHXH

FGI có khả năng được sử dụng hiệu quả ở

những nghiên cứu liên quan đến việc tìm hiểu

và thăm dò ý kiến, kinh nghiệm, ý tưởng,

quan điểm của con người về một vấn đề

nghiên cứu cụ thể Vì phương pháp nghiên

cứu này khuyến khích những người tham gia

nêu lên những quan điểm cá nhân của riêng

mình và tranh luận với những người khác để

bảo vệ quan điểm của mình hay phản bác một

quan điểm nào đó, nhà nghiên cứu có thể hiểu

sâu về vấn đề mình đang nghiên cứu

Khi so sánh với những phương pháp thu thập

dữ liệu khác như đi thực tế hiện trường (field

work) hay phỏng vấn cá nhân, Kitzinger &

Barbour [6] cho rằng nếu phương pháp thâm

nhập thực tế phù hợp hơn với những vấn đề

rộng thì FGI phù hợp hơn với những vấn đề

cụ thể; nếu phỏng vấn cá nhân thường cho dữ

liệu về thông số cá nhân của người được

phỏng vấn thì FGI giúp nhà nghiên cứu khai

thác được kiến thức, ý tưởng, và cách thể hiện của những người tham gia

FGI có thể được dùng như là phương pháp thu thập dữ liệu chính và độc lập của một nghiên cứu, cũng có thể dùng kết hợp với các phương pháp khác, cả định tính và định lượng Nếu kết hợp, FGI cũng có thể được sử dụng ở bất cứ giai đoạn nào của nghiên cứu

Nó có thể được sử dụng ở giai đoạn đầu giúp nhà nghiên cứu tổng hợp ý kiến và coi đó là giả thuyết cho bước nghiên cứu tiếp theo Nó cũng có thể được áp dụng ở giai đoạn sau nhằm củng cố thêm hay tìm hiểu sâu thêm về

dữ liệu đã được thu thập bởi các phương pháp khác từ giai đoạn trước Chẳng hạn như khi nghiên cứu về hiệu quả của một phương pháp giảng dạy tiếng Anh cụ thể, nhà nghiên cứu

có thể sử dụng FGI như là công cụ nghiên cứu chính để phỏng vấn một số giáo viên và sinh viên, hoặc cũng có thể chỉ phỏng vấn một số giáo viên làm cơ sở để xây dựng bảng hỏi điều tra với sinh viên

ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ CỦA FGI

Ưu điểm Các học giả về phương pháp phỏng vấn đã chỉ

ra rằng FGI có khá nhiều điểm mạnh Stewart, Shamdasani & Rook [13] đã thống kê ưu điểm của FGI theo những nội dung sau:

- Tính tập hợp (synergism): Đây là điểm mạnh nhất của FGI và nó phân biệt FGI với phỏng vấn nhóm thông thường khác và tất nhiên với phỏng vấn cá nhân Chỉ FGI mới có

sự tương tác, trao đổi giữa các thành viên tham gia phỏng vấn Sự tranh luận của họ tạo

ra nhiều thông tin, ý tưởng, quan điểm hơn là việc tổng hợp ý kiến của từng cuộc phỏng vấn

cá nhân

- Tính lan truyền (snowballing): Ý kiến hay quan điểm của một thành viên thường sẽ khơi dậy ý tưởng của những người khác trong nhóm

- Tính kích thích (stimulation): Khi cuộc tranh luận đã ‘vào guồng’ thì các thành viên trong nhóm sẽ sôi nổi chia sẻ ý kiến quan điểm của mình

- Tính an toàn (security): Ở các cuộc phỏng vấn cá nhân, người được phỏng vấn thường

Trang 6

Nguyễn Trọng Du Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 167(07): 103 - 108

105

cảm thấy e ngại hơn khi phải trình bày ý kiến

của mình với người phỏng vấn Tuy nhiên ở

FGI, các thành viên thường cảm thấy thoải

mái hơn vì họ thường nghĩ rằng ý kiến hay

quan điểm của họ thường không khác nhiều

với ý kiến hay quan điểm của các thành viên

khác trong nhóm Mặt khác, họ có thể nêu

quan điểm mà không nhất thiết phải bắt buộc

giải thích hay bảo vệ quan điểm đó Nói

chung họ thường cởi mở hơn vì họ hiểu rằng

trọng tâm của FGI là quan điểm của cả nhóm

chứ không phải của riêng cá nhân nào

- Tính tự nhiên (spontaneity): Ở FGI, những

người tham gia thường sẽ tranh luận khi họ

cảm thấy cần phải làm rõ một vấn đề nào đó

chứ không phải do câu hỏi yêu cầu họ phải trả

lời Có nghĩa là sự trả lời của họ thường là tự

nhiên chứ không bị ép buộc

- Tính bất ngờ (serendipity): Ở FGI ý kiến

hay quan điểm của các thành viên thường

được đưa ra bất ngờ hơn là ở các cuộc phỏng

vấn cá nhân, và thường các thành viên khác

sẽ phát triển thêm ý kiến hay quan điểm đó

- Tính chuyên nghiệp (specialization): Vì

phải điều hành một nhóm người tham gia thảo

luận nên các FGI thường sử dụng những

người phỏng vấn/điều hành (có thể là nhà

nghiên cứu hoặc cộng tác viên) được đào tạo

chuyên nghiệp

- Tính giám sát (scrutiny): Ý kiến hay quan

điểm của bất cứ thành viên nào thường sẽ

được đồng ý, kiểm chứng, bổ sung, hay phản

bác của các thành viên khác trong nhóm

- Tính kết cấu (structure): FGI có tính kết

cấu cao ở chỗ người phỏng vấn có thể quay

lại vấn đề mà đã được thảo luận từ trước

nhưng chưa đủ sâu

- Tính nhanh chóng (speed): FGI có thể

phỏng vấn được nhiều người hơn so với

phỏng vấn cá nhân trong cùng một khoảng

thời gian

Những hạn chế

Stewart, Shamdasani & Rook [13] nêu ra một

số hạn chế của phỏng vấn nói chung và của

FGI nói riêng như sau:

- Kết quả phân tích dữ liệu của FGI thường hạn chế trong việc ứng dụng rộng rãi ra phạm

vi rộng hơn

- Ý kiến hay quan điểm của các thành viên

có thể không độc lập vì có thể bị ảnh hưởng bởi ý kiến hay quan điểm của những người khác Đôi khi dữ liệu thu thập được có thể mang tính chủ quan, thiên lệch do có thể có một số thành viên “chiếm lĩnh” diễn đàn

- Tính tự nhiên và bất ngờ của FGI làm cho nhà nghiên cứu phải trung thành với kết quả nghiên cứu hơn là dựa vào những quan niệm

đã được hình thành từ trước

- Tính cởi mở trong FGI làm cho việc tổng hợp và phân tích dữ liệu gặp nhiều khó khăn

vì có nhiều ý kiến quan điểm khác nhau

- Nhà nghiên cứu cũng có thể làm sai lệch kết quả bằng cách đưa ra những gợi ý về cách trả lời cho những người tham gia

Tuy nhiên Stewart, Shamdasani & Rook [13]

và Edley & Litosseliti [4] cho rằng những hạn chế này hoàn toàn có thể được khắc phục nếu nhà nghiên cứu chuẩn bị kỹ quá trình phỏng vấn, từ việc chuẩn bị câu hỏi, chọn người tham gia, đến chọn địa điểm phỏng vấn và cách thức phỏng vấn Các tác giả đều cho rằng bất cứ phương pháp nào cũng có hạn chế riêng của nó, và FGI không phải là ngoại lệ CÁC BƯỚC CHUẨN BỊ VÀ TIẾN HÀNH FGI

Với người phỏng vấn/ điều hành và nhà nghiên cứu

Đối với những dự án nghiên cứu lớn, nhà nghiên cứu có thể tuyển mộ và đào tạo các

‘phỏng vấn viên’ để điều hành các cuộc phỏng vấn Đối với những đề tài nghiên cứu nhỏ như luận văn tốt nghiệp đại học, thạc sỹ, hay luận án tiến sỹ, thì người phỏng vấn/người điều hành các cuộc phỏng vấn thường chính là nhà nghiên cứu

Người phỏng vấn/điều hành cần xác định đúng vai trò của mình trong cuộc phỏng vấn Theo Kryzanowski [7] người phỏng vấn/điều hành có vai trò hỗ trợ và điều khiển cuộc phỏng vấn đi đúng hướng, tức là làm cho

Trang 7

Nguyễn Trọng Du Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 167(07): 103 - 108

106

cuộc phỏng vấn tập trung vào chủ đề nghiên

cứu Tuy nhiên họ không nên can thiệp quá

sâu vào quá trình tranh luận của những người

tham gia theo hướng áp đặt theo ý mình Trái

lại họ phải ‘ẩn’ mình phía sau, quan sát và hỗ

trợ cho sự tranh luận của những người tham

gia phỏng vấn Họ chỉ nên tham gia vào cuộc

tranh luận một cách khéo léo như thể họ cũng

là một người tham gia hơn là một người

phỏng vấn Sự tham gia của họ nên ở dạng

khuyến khích hay thúc đẩy sự tranh luận giữa

những người tham gia tiến xa hơn so với

phỏng vấn thông thường bằng cách kích thích

họ thảo luận thêm về những bất đồng Do

vậy, để làm tốt ai trò chủa mình, người phỏng

vấn phải chuẩn bị kỹ các câu hỏi phỏng vấn

và phải linh hoạt đưa ra những câu hỏi bổ

xung phù hợp phát sinh trong quá trình phỏng

vấn Họ phải là những người biết lắng nghe,

biết khuyến khích những người tham gia nêu

lên quan điểm của mình, đặc biệt là quan

điểm trái chiều Ngoài ra họ cũng cần phải có

khả năng tạo ra bầu không khí thân mật cởi

mở trong quá trình phỏng vấn

Câu hỏi phỏng vấn

Có 3 loại câu hỏi phỏng vấn:

- Câu hỏi chính: là những câu hỏi nghiên

cứu đã được nhà nghiên cứu chuẩn bị thiết kế

từ trước Những câu hỏi này có thể được thiết

kế dựa vào một tình huống, một kịch bản cụ

thể nào đó

- Câu hỏi ‘dẫn dắt’: là loại câu hỏi có tác

dụng giúp nhà nghiên cứu tìm hiểu sâu thêm

về một quan điểm được một thành viên nào

đó nêu ra, thường là các câu hỏi tại sao Các

câu hỏi dạng này thường phát sinh trong quá

trình phỏng vấn và phụ thuộc vào phần trả lời

của những người tham gia

- Câu hỏi ‘kiểm tra’: là loại câu hỏi dùng để

kiểm chứng những ý kiến, quan điểm một

thành viên nào đó nêu ra Giống như câu hỏi

‘dẫn dắt’, câu hỏi kiểm tra thường được hình

thành từ phần trả lời của những người được

phỏng vấn

Người tham gia phỏng vấn

Có nhiều quan niệm khác nhau về số lượng

thành viên trong một nhóm phỏng vấn Ví dụ

Stewart, Shadamasani & Rook [13] cho rằng một nhóm phỏng vấn thường có khoảng 6-12 người tham gia, Marková, Linell, Grossen & Orvig [9] thì cho rằng số người trong một nhóm thường từ 4-12 người, Kitzinger & Barbour [6] thì cho rằng 8-12 người, Bloor, Frankland, Thomas & Robson [2] thì cho rằng 6-8 là tối ưu, trong khi đó Michell [10] thì cho rằng 3-6 người là phù hợp nhất cho các nghiên cứu xã hội

Nhìn chung các tác giả nêu trên đều thống nhất rằng số lượng ít quá (3 người chẳng hạn) thì cuộc phỏng vấn hơi tẻ nhạt, và nguy cơ huỷ bỏ sẽ cao vì rất có thể có thành viên ngại tham gia hoặc vì một lý do nào đó không đến được buổi phỏng vấn Tuy nhiên nhiều người quá (trên 12 chẳng hạn) thì cơ hội cho mọi người tham gia tranh luận tương đối ít vì có thể sẽ có một hoặc vài người nào đó ‘cướp diễn đàn’ Theo kinh nghiệm của cá nhân tác giả bài viết này thì số người tham gia FGI tối

ưu nhất cho các đề tài luận văn luận án của lĩnh vực khoa học xã hội là từ 4-6 người Ngoài ra, có ý kiến khác nhau về đặc điểm của người tham gia phỏng vấn Có tác giả cho rằng những người tham gia nên là những người chưa quen biết nhau, đến từ những lĩnh vực công tác khác nhau vì họ có thể đưa ra những quan điểm khác nhau, dưới những lăng kính khác nhau về cùng một vấn đề [5] Cũng

có ý kiến cho rằng thành viên trong mỗi nhóm nên là những người đã quen biết nhau từ trước và có một số kiến thức nền chung vì họ

sẽ cảm thấy thoải mái và tự tin hơn khi thảo luận với những người quen biết Kitzinger & Barbour [6] thì cho rằng các nghiên cứu về thị trường thì hay tuyển mộ những người không quen vào một nhóm, còn các nghiên cứu khoa học xã hội thì hay làm việc với các nhóm đã quen biết nhau Đối với người Việt Nam, theo

ý kiến chủ quan của tác giả bài viết, nhà nghiên cứu nên chọn những người tham gia trong cùng nhóm là những người đã quen nhau Theo Nguyễn Cầm [3], Nguyễn Đăng Liêm [8], và Trần Ngọc Thêm [14] người Việt Nam thường e dè, nhút nhát với người lạ nhưng sôi nổi, bạo dạn và nói nhiều với những người quen

Trang 8

Nguyễn Trọng Du Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 167(07): 103 - 108

107

KẾT LUẬN

Bài viết này giới thiệu phương pháp thu thập

dữ liệu nghiên cứu bằng FGI - không mới

nhưng chưa được sử dụng nhiều trong các

nghiên cứu xã hội, đặc biệt là trong nghiên

cứu về ngôn ngữ và văn hoá, về chính sách

giáo dục nói chung và đánh giá chương trình

nói riêng, và về phương pháp dạy và học

ngoại ngữ Hy vọng rằng, với những ưu điểm

nội trội của FGI những nhà nghiên cứu ở Việt

Nam, đặc biệt là học viên cao học và nghiên

cứu sinh, có thể áp dụng phương pháp phỏng

vấn này với những nghiên cứu của mình

Còn một phần quan trọng chưa được đề cập

đến trong bài viết là công cụ tổng hợp, giải

thích và phân tích dữ liệu thu được Xét thấy

nội dung này tương đối lớn nên chúng tôi xin

được trình bày trong một bài viết khác

Để thay cho lời kết, chúng tôi xin được trích

dẫn lời của hai tác giả Myers & Macnaghten

[11] nhận xét về ưu điểm của FGI như sau:

“Điểm mạnh lớn nhất của FGI là ở tính sinh

động, phức tạp và không thể đoán trước

Những người được phỏng vấn có thể nêu lên

những quan điểm bất ngờ làm cho nhà nghiên

cứu gặp khó khăn trong việc tổng hợp và

phân tích dữ liệu, nhưng chính những quan

điểm bất ngờ đó lại gợi lên những ý tưởng

mới cho nhà nghiên cứu”

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Baker R & Hinton R (1999), “Do focus groups

facilitate meaningful participation in social

research?” In Babour R S & Kitzinger J (Eds.),

Developing focus group research, London, Sage

Publications Ltd., pp 79-98

2 Bloor M., Frankland, J., Thomas M., & Robson

K (2001), Focus groups in social research,

London, Sage Publications Ltd

communication between Vietnamese and

non-Vietnamese”, In Nguyễn X T (Ed.), Vietnamese

studies in a multicultural world, Melbourne,

Brown Prior Anderson

“Contemplating interviews and focus groups”, In

Lia L (Ed.), Research methods in linguistics,

London, Continuum

5 Kitzinger J (1994), “The methodology of Focus Groups: the importance of interaction between

research participants”, Sociology of Health and

Illness, 16(1), pp 103-121

6 Kitzinger J & Barbour R S (1999),

“Introduction: Challenge and promise of focus groups”, In Barbour R S & Kitzinger J (Eds.),

Developing focus group research: politics, theory and practice, London: Sage Publications Ltd., pp

1-20

7 Krzyzanowski M (2008), “Analyzing focus group discussions” In Wodak R & Krzyzanowski

M (Eds.), Qualitative discourse analysis in the

social sciences, Hampshire: Palgrave Macmillan,

pp 162-181

8 Nguyễn Đăng Liêm (1994), “Indochinese cross-cultural communication and adjunct” In Nguyễn

X T (Ed.), Vietnamese studies in a multicultural

world, Melbourne: Brown Prior Anderson

9 Marková I., Linell P., Grossen M., & Orvig A

S (2007), Dialogue in focus groups: exploring

socially shared knowledge, London: Oakville, CT:

Equinox

10 Michell L (1999), “Combining focus groups and interviews: telling how it is; telling how it feels” In Barbour R S & Kitzinger J (Eds.),

Developing focus group research: politics, theory and practice, London: Sage Publications Ltd., pp

36-46

11 Myers G & Macnaghten P (1999), “Can focus groups be analysed as talk?” In Barbour R

S & Kitzinger J (Eds.), Developing focus group

research: politics, theory and practice, London:

SAGE, pp 173-185

12 Stewart D W & Shamdasani P N (2014),

Focus groups: Theory and practice (3nd ed.)

California: Sage Publications

13 Stewart D W., Shamdasani P N & Rook D

W (2007), Focus groups: Theory and practice

(2nd ed.), California: Sage Publications

14 Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hoá Việt

Nam (Foundation of Vietnamese culture) Hồ Chí

Minh: Nxb Giáo dục

Trang 9

Nguyễn Trọng Du Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 167(07): 103 - 108

108

SUMMARY

FOCUS GROUP INTERVIEW: AN EFFICIENT METHOD

OF GENERATING DATA IN SOCIAL SCIENCE RESEARCH

School of Foreign Language – TNU

The article introduces a new method of interviewing in social science research, that is, focus group interview Though this method has been used relatively widely in the world, it is not sufficiently paid attention to in Vietnam especially in applied linguistic research The article starts by comparing it with other methods of interviewing such as individual interviews and normal group interivews Then the article provides readers with its prominent advantages as well as some minor disadvantages, and introduces the procedures in preparing and conducting it The article concludes

by suggesting that social science researchers use this method more often due to the pre-eminence

of its strengths over its weaknesses

Key words: interviewing, focus group interview, group interview, individual interview,

interviewing question

Ngày nhận bài: 08/3/2017; Ngày phản biện: 27/3/2017; Ngày duyệt đăng: 28/6/2017

*Tel: 0912452262; Email: nguyentrongdu.sfl@tnu.edu.vn

Ngày đăng: 15/01/2021, 05:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Dương Thị Huyền - Thương mại châu Âu và những tác động đến tình hình chính trị Đàng Trong thế kỷ XVI- XVIII 9 - PHỎNG VẤN ‘NHÓM TẬP TRUNG’: MỘT PHƯƠNG PHÁP THU THẬP DỮ LIỆU HIỆU QUẢ VỚI CÁC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC XÃ HỘI
ng Thị Huyền - Thương mại châu Âu và những tác động đến tình hình chính trị Đàng Trong thế kỷ XVI- XVIII 9 (Trang 2)
điển hình tại thành phố Thái Nguyên 225 - PHỎNG VẤN ‘NHÓM TẬP TRUNG’: MỘT PHƯƠNG PHÁP THU THẬP DỮ LIỆU HIỆU QUẢ VỚI CÁC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC XÃ HỘI
i ển hình tại thành phố Thái Nguyên 225 (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w