Hy vọng rằng, với những ưu điểm nội trội của FGI những nhà nghiên cứu ở Việt Nam, đặc biệt là học viên cao học và nghiên cứu sinh, có thể áp dụng phương pháp phỏng vấn này với[r]
Trang 1Tập 167, số 07, 2017
Trang 2T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ
CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN – KINH TẾ
Nguyễn Đại Đồng - Hoạt động khai thác mỏ ở Lào Cai dưới thời Gia Long và Minh Mệnh 3
Dương Thị Huyền - Thương mại châu Âu và những tác động đến tình hình chính trị Đàng Trong thế kỷ XVI- XVIII 9
Trần Thị Nhung - Miêu tả tình tiết trong Truyện Kiều và Kim Vân Kiều Truyện 15
Nguyễn Thị Hải Phương - Bản chất của ngôn từ văn học (nghĩ từ bài viết Bản chất xã hội, thẩm mỹ của diễn
Phạm Thị Mai Hương, Nguyễn Thị Thu Trang, Ngô Thị Lan Anh - Ảnh hưởng của lễ hội Vu Lan đến đời
sống đạo đức của nhân dân huyện Quốc Oai, Hà Nội 25
Phạm Thị Ngọc Anh - Hình tượng văn thủy ba trong mỹ thuật cổ Việt Nam và các ứng dụng trên sản phẩm mỹ
thuật tạo hình hiện đại 31
Trương Thị Phương - Giải pháp ứng dụng hiệu quả thông tin đồ họa trên báo điện tử 37
Lương Thị Thanh Dung – Sự khác nhau về kết cấu chữ Nôm của văn bản Thiền tông bản hạnh giữa bản in
năm 1745 và bản in năm 1932 49
Nguyễn Thị Quế, Phạm Phương Hoa - Đánh giá sự phù hợp của giáo trình New English File đối với việc
giảng dạy sinh viên không chuyên ngữ tại Trường Đại học Khoa học – Đại học Thái Nguyên 55
Hoàng Thị Thắm - Nghiên cứu về siêu nhận thức trong nghe tiếng Anh của sinh viên chương trình tiên tiến tại
Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp – Đại học Thái Nguyên 61
Nguyễn Quỳnh Trang, Dương Công Đạt, Vũ Kiều Hạnh - Thiết kế chương trình bổ trợ nói cho học sinh lớp
10 Trường Trung học Phổ thông Thái Nguyên 67
Nguyễn Khánh Như - Sự phát triển của hệ thống các trường đại học sư phạm trọng điểm Trung Quốc hiện nay 73
Nguyễn Văn Hồng, Vũ Thị Thanh Thủy - Dạy học theo dự án và vấn đề phát triển năng lực nghiên cứu khoa
học cho học sinh trong dạy học Sinh thái học ở trung học phổ thông 79
Trần Thị Phương Thảo, Nguyễn Thị Hoa Hồng - Nâng cao tính ứng dụng trong xây dựng chương trình đào
tạo đại học tại Việt Nam – bài học từ chương trình giáo dục đại học định hướng nghề nghiệp ứng dụng (POHE) 85
Phạm Thị Bích Thảo, Nguyễn Thành Trung - Lựa chọn bài tập thể lực chuyên môn nâng cao kết quả học tập
chạy cự ly ngắn cho sinh viên khóa 14 Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên 91
Lê Huy Hoàng, Nguyễn Thị Huyền, Nguyễn Thị Ngân, Vũ Thị Vân Anh - Phát triển năng lực sử dụng ngôn
ngữ hóa học của học sinh phổ thông trong dạy học các nội dung về hóa học hữu cơ chương trình hóa học lớp 12
Nguyễn Trọng Du - Phỏng vấn ‘nhóm tập trung’: một phương pháp thu thập dữ liệu hiệu quả với các nghiên
Đỗ Thị Thái Thanh, Trương Tấn Hùng, Đào Ngọc Anh - Xây dựng hồ sơ năng lực bồi dưỡng giáo viên thể
dục các trường trung học phổ thông các tỉnh miền núi phía Bắc 109
Nguyễn Ngọc Bính, Dương Tố Quỳnh, Nguyễn Văn Thanh - Thực trạng sử dụng hệ thống phương tiện
chuyên môn trong giảng dạy môn bóng chuyền cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh -
Lê Văn Hùng, Nguyễn Nhạc - Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động câu lạc bộ bóng đá nam sinh viên
Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên 119
Journal of Science and Technology
N¨m 2017
Trang 3Nguyễn Văn Dũng, Lê Văn Hùng - Một số giải pháp giúp sinh viên lựa chọn môn học tự chọn trong chương
trình giáo dục thể chất dành cho sinh viên không chuyên thể dục thể thao Trường Đại học Sư phạm – Đại học
Nguyễn Văn Chiến, Nguyễn Trường Sơn, Đỗ Như Tiến - Một số kết quả ban đầu trong việc áp dụng CDIO
để xây dựng chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo tại Đại học Thái Nguyên 131
Đỗ Quỳnh Hoa - Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc xây dựng lối sống cho sinh viên Trường Đại học
Công nghệ Thông tin và Truyền thông – Đại học Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay 135
Phạm Văn Hùng, Nguyễn Huy Hùng - Đánh giá đầu ra của chương trình đào tạo qua mức độ đáp ứng chuẩn
Ngô Thị Lan Anh, Nguyễn Thị Thu Hiền - Yêu cầu khách quan của việc đổi mới quy trình kiểm tra đánh giá
kết quả học tập môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông nước ta hiện nay 147
Trương Thị Thu Hương, Trương Tuấn Anh - Ứng dụng dạy học dự án trong đào tạo giáo viên kỹ thuật tại
Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp - Đại học Thái Nguyên 153
Dương Quỳnh Phương, Trần Viết Khanh, Đồng Duy Khánh - Những nhân tố chi phối đến văn hóa tộc người
và văn hóa cộng đồng dân tộc dưới góc nhìn địa lí học 159
Nguyễn Thị Thanh Tâm, Trần Quyết Thắng, Đào Thị Hương - Đánh giá mức độ hài lòng của khách du lịch
đối với đội ngũ hướng dẫn viên du lịch tại một số công ty kinh doanh lữ hành trên địa bàn thành phố Thái
Nguyễn Văn Chung, Đinh Hồng Linh - Các yếu tố thành công cho website thương mại điện tử: trường hợp
doanh nghiệp du lịch nghỉ dưỡng vừa và nhỏ ở Quảng Bình 171
Đặng Thị Bích Huệ - Dự án hỗ trợ nông nghiệp, nông dân và nông thôn tỉnh Tuyên Quang và các tác động đến
đời sống người dân trên địa bàn xã Minh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang 177
Lương Văn Hinh, Lương Trung Thuyền - Nghiên cứu biến động giá đất ở trên địa bàn thị trấn Thất Khê,
huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011 – 2015 183
Nguyễn Tú Anh, Nguyễn Thị Lan Anh, Nguyễn Thành Minh - Nghiên cứu các mối quan hệ cung ứng dịch
vụ quản trị hoạt động có dịch vụ trách nhiệm xã hội: trường hợp điển cứu tại các công ty dịch vụ vận tải chở
khách vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 189
Nguyễn Thị Thu Thương, Hoàng Ngọc Hiệp - Thực trạng quản lý vốn ngân sách nhà nước cho đầu tư phát
triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên 193
Tạ Thị Thanh Huyền, Nguyễn Mạnh Dũng - Tăng cường quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách
nhà nước trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 199
Nguyễn Thị Kim Huyền - Ứng dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS): kinh nghiệm quốc tế và bài
Nguyễn Thị Nhung, Phan Thị Vân Giang - Tạo động lực cho các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư
nhân đầu tư trực tiếp ra nước ngoài 211
Phạm Thuỳ Linh, Phạm Hoàng Linh, Trần Thị Thu Trâm - Xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam trong bối
Nguyễn Thị Thu Trang, Trần Bích Thủy - Động lực làm việc của cán bộ công chức xã phường: nghiên cứu
Nguyễn Thu Thủy, Hoàng Thái Sơn - Bài học kinh nghiệm trong quản lý rủi ro thanh khoản đối với Ngân
hàng Thương mại Cổ phần Á Châu 231
Ngô Thúy Hà - Định hướng phát triển dịch vụ tín dụng cho hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đến năm 2020 237
Đoàn Quang Thiệu - Một số kết quả xây dựng mô hình học tập, thực hành về kế toán doanh nghiệp 243
Trang 4Nguyễn Trọng Du Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 167(07): 103 - 108
103
PHỎNG VẤN ‘NHÓM TẬP TRUNG’: MỘT PHƯƠNG PHÁP THU THẬP
DỮ LIỆU HIỆU QUẢ VỚI CÁC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC XÃ HỘI
Khoa Ngoại ngữ - ĐH Thái Nguyên
TÓM TẮT
Bài viết giới thiệu một phương pháp phỏng vấn mới trong nghiên cứu khoa học xã hội, đó là phương pháp phỏng vấn ‘nhóm tập trung’ Tuy phương pháp này đã được sử dụng khá rộng rãi trên thế giới, nhưng nó chưa được áp dụng nhiều ở Việt Nam, đặc biệt là trong ngôn ngữ học ứng dụng Bài viết mở đầu bằng việc làm rõ đặc tính quan trọng nhất của phương pháp này giúp phân biệt nó với các phương pháp phỏng vấn khác như phỏng vấn cá nhân hoặc phỏng vấn nhóm thông thường Sau đó bài viết nêu lên các ưu điểm nổi trội cũng như một số hạn chế của nó, và trình bày các bước chuẩn bị và tiến hành phỏng vấn Cuối cùng, bài viết gợi ý các nhà nghiên cứu sử dụng thường xuyên hơn phương pháp phỏng vấn này vì những ưu điểm nội bật của nó
Từ khoá: phỏng vấn, phỏng vấn ‘nhóm tập trung’, phỏng vấn nhóm thông thường, phỏng vấn cá
nhân, câu hỏi phỏng vấn
Trong các nghiên cứu khoa học xã hội
(KHXH) phỏng vấn đã trở thành một phương
pháp thu thập dữ liệu phổ biến vì tính hữu
dụng của nó Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên
cứu mới chỉ biết đến phương pháp phỏng vấn
cá nhân mà chưa biết đến hoặc chưa từng sử
dụng phỏng vấn ‘nhóm tập trung’, có tên
tiếng Anh là Focus Group Interview (sau đây
được gọi tắt là FGI)
Vậy FGI là gì và có gì khác với phỏng vấn cá
nhân Có lẽ các nhà nghiên cứu không khó để
nhận thấy sự khác biệt giữa hai loại phỏng
vấn này, nó nằm ngay ở số lượng người tham
gia trong mỗi cuộc phỏng vấn: với phỏng vấn
cá nhân, mỗi lần phỏng vấn chỉ có một người
được phỏng vấn, còn với FGI mỗi lần phỏng
vấn có nhiều người tham gia Tuy nhiên, số
lượng người tham gia trong một cuộc phỏng
vấn không phải là sự khác nhau căn bản giữa
phỏng vấn cá nhân và FGI, mà quan trọng
hơn là sự tương tác giữa những người tham
gia phỏng vấn Đây cũng chính là sự khác biệt
giữa FGI với phỏng vấn nhóm thông thường
Đã có nhiều định nghĩa về FGI và phân biệt
nó với phương pháp phỏng vấn theo nhóm
thông thường khác nhưng nhìn chung những
học giả chuyên về lĩnh vực này như Baker &
*Tel: 0912452262; Email: nguyentrongdu.sfl@tnu.edu.vn
Hinton [1], Bloor, Frankland, Thomas & Robson [2], Marková, Linell, Grossen & Orvig [9], và Stewart & Shamdasani [12] đều thống nhất rằng FGI là loại phỏng vấn mà các thành viên trong nhóm cùng thảo luận về một hay một vài chủ đề cụ thể để xây dựng nên khối dữ liệu phỏng vấn Cụm từ ‘cùng thảo luận’ được chúng tôi in đậm vì nó thể hiện sự khác biệt căn bản giữa FGI với phỏng vấn nhóm thông thường Ở phỏng vấn nhóm thông thường, những người được phỏng vấn
sẽ lần lượt trả lời mỗi câu hỏi được người phỏng vấn nêu ra, họ chỉ tương tác với người phỏng vấn chứ hầu như không có tương tác gì với nhau Trái lại, với FGI điều quan trọng nhất là sự tương tác giữa các thành viên trong nhóm với nhau để xây dựng nên khối dữ liệu; người phỏng vấn chủ yếu đóng vai trò trung gian, điều hành cuộc phỏng vấn sao cho nó tập trung vào chủ đề Chính vì vậy người phỏng vấn còn thường được gọi là người điều hành (moderator) và trong quá trình phỏng vấn, người phỏng vấn có trách nhiệm hỗ trợ cho cuộc phỏng vấn được tiến triển tốt nhưng không nên can thiệp quá sâu vào sự tranh luận của những người tham gia Do đó, ngoài câu hỏi nghiên cứu do người phỏng vấn nêu ra, việc đặt những câu hỏi dẫn dắt hay kiểm tra không chỉ là nhiệm vụ của riêng người phỏng vấn mà còn có thể của chính những người
Trang 5Nguyễn Trọng Du Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 167(07): 103 - 108
104
được phỏng vấn trong quá trình họ thảo luận
Tức là trong quá trình phỏng vấn, những
người tham gia được khuyến khích thảo luận,
thậm chí tranh luận hay phản bác lẫn nhau, và
nêu những quan điểm riêng của mình Ở
phương pháp phỏng vấn nhóm thông thường,
nhà nghiên cứu phỏng vấn lần lượt từng
người và không có sự thảo luận nào giữa các
thành viên trong nhóm
Dù không nhiều nhà nghiên cứu biết đến và
sử dụng phương pháp phỏng vấn này, FGI đã
có lịch sử phát triển khá lâu Ngay từ sau Thế
chiến lần thứ II, nó đã được sử dụng rộng rãi
[12] đặc biệt trong lĩnh vực tiếp thị Chẳng
hạn hãng máy bay Boeing đã sử dụng phương
pháp này để thăm dò ý kiến của thị trường về
những mẫu máy bay mới [12] Sau 40 năm
phát triển với nhiều thăng trầm, đến cuối
những năm 80 và đầu những năm 90 của thế
kỷ trước, FGI mới được sử dụng rộng rãi ở
các ngành KHXH như xã hội học, nhân chủng
học, khoa học sức khoẻ, khoa học giáo dục,
tâm lý học xã hội, liệu pháp tâm lý, đánh giá
chương trình, và ngôn ngữ học
ỨNG DỤNG CỦA FGI TRONG NGHIÊN
CỨU KHXH
FGI có khả năng được sử dụng hiệu quả ở
những nghiên cứu liên quan đến việc tìm hiểu
và thăm dò ý kiến, kinh nghiệm, ý tưởng,
quan điểm của con người về một vấn đề
nghiên cứu cụ thể Vì phương pháp nghiên
cứu này khuyến khích những người tham gia
nêu lên những quan điểm cá nhân của riêng
mình và tranh luận với những người khác để
bảo vệ quan điểm của mình hay phản bác một
quan điểm nào đó, nhà nghiên cứu có thể hiểu
sâu về vấn đề mình đang nghiên cứu
Khi so sánh với những phương pháp thu thập
dữ liệu khác như đi thực tế hiện trường (field
work) hay phỏng vấn cá nhân, Kitzinger &
Barbour [6] cho rằng nếu phương pháp thâm
nhập thực tế phù hợp hơn với những vấn đề
rộng thì FGI phù hợp hơn với những vấn đề
cụ thể; nếu phỏng vấn cá nhân thường cho dữ
liệu về thông số cá nhân của người được
phỏng vấn thì FGI giúp nhà nghiên cứu khai
thác được kiến thức, ý tưởng, và cách thể hiện của những người tham gia
FGI có thể được dùng như là phương pháp thu thập dữ liệu chính và độc lập của một nghiên cứu, cũng có thể dùng kết hợp với các phương pháp khác, cả định tính và định lượng Nếu kết hợp, FGI cũng có thể được sử dụng ở bất cứ giai đoạn nào của nghiên cứu
Nó có thể được sử dụng ở giai đoạn đầu giúp nhà nghiên cứu tổng hợp ý kiến và coi đó là giả thuyết cho bước nghiên cứu tiếp theo Nó cũng có thể được áp dụng ở giai đoạn sau nhằm củng cố thêm hay tìm hiểu sâu thêm về
dữ liệu đã được thu thập bởi các phương pháp khác từ giai đoạn trước Chẳng hạn như khi nghiên cứu về hiệu quả của một phương pháp giảng dạy tiếng Anh cụ thể, nhà nghiên cứu
có thể sử dụng FGI như là công cụ nghiên cứu chính để phỏng vấn một số giáo viên và sinh viên, hoặc cũng có thể chỉ phỏng vấn một số giáo viên làm cơ sở để xây dựng bảng hỏi điều tra với sinh viên
ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ CỦA FGI
Ưu điểm Các học giả về phương pháp phỏng vấn đã chỉ
ra rằng FGI có khá nhiều điểm mạnh Stewart, Shamdasani & Rook [13] đã thống kê ưu điểm của FGI theo những nội dung sau:
- Tính tập hợp (synergism): Đây là điểm mạnh nhất của FGI và nó phân biệt FGI với phỏng vấn nhóm thông thường khác và tất nhiên với phỏng vấn cá nhân Chỉ FGI mới có
sự tương tác, trao đổi giữa các thành viên tham gia phỏng vấn Sự tranh luận của họ tạo
ra nhiều thông tin, ý tưởng, quan điểm hơn là việc tổng hợp ý kiến của từng cuộc phỏng vấn
cá nhân
- Tính lan truyền (snowballing): Ý kiến hay quan điểm của một thành viên thường sẽ khơi dậy ý tưởng của những người khác trong nhóm
- Tính kích thích (stimulation): Khi cuộc tranh luận đã ‘vào guồng’ thì các thành viên trong nhóm sẽ sôi nổi chia sẻ ý kiến quan điểm của mình
- Tính an toàn (security): Ở các cuộc phỏng vấn cá nhân, người được phỏng vấn thường
Trang 6Nguyễn Trọng Du Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 167(07): 103 - 108
105
cảm thấy e ngại hơn khi phải trình bày ý kiến
của mình với người phỏng vấn Tuy nhiên ở
FGI, các thành viên thường cảm thấy thoải
mái hơn vì họ thường nghĩ rằng ý kiến hay
quan điểm của họ thường không khác nhiều
với ý kiến hay quan điểm của các thành viên
khác trong nhóm Mặt khác, họ có thể nêu
quan điểm mà không nhất thiết phải bắt buộc
giải thích hay bảo vệ quan điểm đó Nói
chung họ thường cởi mở hơn vì họ hiểu rằng
trọng tâm của FGI là quan điểm của cả nhóm
chứ không phải của riêng cá nhân nào
- Tính tự nhiên (spontaneity): Ở FGI, những
người tham gia thường sẽ tranh luận khi họ
cảm thấy cần phải làm rõ một vấn đề nào đó
chứ không phải do câu hỏi yêu cầu họ phải trả
lời Có nghĩa là sự trả lời của họ thường là tự
nhiên chứ không bị ép buộc
- Tính bất ngờ (serendipity): Ở FGI ý kiến
hay quan điểm của các thành viên thường
được đưa ra bất ngờ hơn là ở các cuộc phỏng
vấn cá nhân, và thường các thành viên khác
sẽ phát triển thêm ý kiến hay quan điểm đó
- Tính chuyên nghiệp (specialization): Vì
phải điều hành một nhóm người tham gia thảo
luận nên các FGI thường sử dụng những
người phỏng vấn/điều hành (có thể là nhà
nghiên cứu hoặc cộng tác viên) được đào tạo
chuyên nghiệp
- Tính giám sát (scrutiny): Ý kiến hay quan
điểm của bất cứ thành viên nào thường sẽ
được đồng ý, kiểm chứng, bổ sung, hay phản
bác của các thành viên khác trong nhóm
- Tính kết cấu (structure): FGI có tính kết
cấu cao ở chỗ người phỏng vấn có thể quay
lại vấn đề mà đã được thảo luận từ trước
nhưng chưa đủ sâu
- Tính nhanh chóng (speed): FGI có thể
phỏng vấn được nhiều người hơn so với
phỏng vấn cá nhân trong cùng một khoảng
thời gian
Những hạn chế
Stewart, Shamdasani & Rook [13] nêu ra một
số hạn chế của phỏng vấn nói chung và của
FGI nói riêng như sau:
- Kết quả phân tích dữ liệu của FGI thường hạn chế trong việc ứng dụng rộng rãi ra phạm
vi rộng hơn
- Ý kiến hay quan điểm của các thành viên
có thể không độc lập vì có thể bị ảnh hưởng bởi ý kiến hay quan điểm của những người khác Đôi khi dữ liệu thu thập được có thể mang tính chủ quan, thiên lệch do có thể có một số thành viên “chiếm lĩnh” diễn đàn
- Tính tự nhiên và bất ngờ của FGI làm cho nhà nghiên cứu phải trung thành với kết quả nghiên cứu hơn là dựa vào những quan niệm
đã được hình thành từ trước
- Tính cởi mở trong FGI làm cho việc tổng hợp và phân tích dữ liệu gặp nhiều khó khăn
vì có nhiều ý kiến quan điểm khác nhau
- Nhà nghiên cứu cũng có thể làm sai lệch kết quả bằng cách đưa ra những gợi ý về cách trả lời cho những người tham gia
Tuy nhiên Stewart, Shamdasani & Rook [13]
và Edley & Litosseliti [4] cho rằng những hạn chế này hoàn toàn có thể được khắc phục nếu nhà nghiên cứu chuẩn bị kỹ quá trình phỏng vấn, từ việc chuẩn bị câu hỏi, chọn người tham gia, đến chọn địa điểm phỏng vấn và cách thức phỏng vấn Các tác giả đều cho rằng bất cứ phương pháp nào cũng có hạn chế riêng của nó, và FGI không phải là ngoại lệ CÁC BƯỚC CHUẨN BỊ VÀ TIẾN HÀNH FGI
Với người phỏng vấn/ điều hành và nhà nghiên cứu
Đối với những dự án nghiên cứu lớn, nhà nghiên cứu có thể tuyển mộ và đào tạo các
‘phỏng vấn viên’ để điều hành các cuộc phỏng vấn Đối với những đề tài nghiên cứu nhỏ như luận văn tốt nghiệp đại học, thạc sỹ, hay luận án tiến sỹ, thì người phỏng vấn/người điều hành các cuộc phỏng vấn thường chính là nhà nghiên cứu
Người phỏng vấn/điều hành cần xác định đúng vai trò của mình trong cuộc phỏng vấn Theo Kryzanowski [7] người phỏng vấn/điều hành có vai trò hỗ trợ và điều khiển cuộc phỏng vấn đi đúng hướng, tức là làm cho
Trang 7Nguyễn Trọng Du Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 167(07): 103 - 108
106
cuộc phỏng vấn tập trung vào chủ đề nghiên
cứu Tuy nhiên họ không nên can thiệp quá
sâu vào quá trình tranh luận của những người
tham gia theo hướng áp đặt theo ý mình Trái
lại họ phải ‘ẩn’ mình phía sau, quan sát và hỗ
trợ cho sự tranh luận của những người tham
gia phỏng vấn Họ chỉ nên tham gia vào cuộc
tranh luận một cách khéo léo như thể họ cũng
là một người tham gia hơn là một người
phỏng vấn Sự tham gia của họ nên ở dạng
khuyến khích hay thúc đẩy sự tranh luận giữa
những người tham gia tiến xa hơn so với
phỏng vấn thông thường bằng cách kích thích
họ thảo luận thêm về những bất đồng Do
vậy, để làm tốt ai trò chủa mình, người phỏng
vấn phải chuẩn bị kỹ các câu hỏi phỏng vấn
và phải linh hoạt đưa ra những câu hỏi bổ
xung phù hợp phát sinh trong quá trình phỏng
vấn Họ phải là những người biết lắng nghe,
biết khuyến khích những người tham gia nêu
lên quan điểm của mình, đặc biệt là quan
điểm trái chiều Ngoài ra họ cũng cần phải có
khả năng tạo ra bầu không khí thân mật cởi
mở trong quá trình phỏng vấn
Câu hỏi phỏng vấn
Có 3 loại câu hỏi phỏng vấn:
- Câu hỏi chính: là những câu hỏi nghiên
cứu đã được nhà nghiên cứu chuẩn bị thiết kế
từ trước Những câu hỏi này có thể được thiết
kế dựa vào một tình huống, một kịch bản cụ
thể nào đó
- Câu hỏi ‘dẫn dắt’: là loại câu hỏi có tác
dụng giúp nhà nghiên cứu tìm hiểu sâu thêm
về một quan điểm được một thành viên nào
đó nêu ra, thường là các câu hỏi tại sao Các
câu hỏi dạng này thường phát sinh trong quá
trình phỏng vấn và phụ thuộc vào phần trả lời
của những người tham gia
- Câu hỏi ‘kiểm tra’: là loại câu hỏi dùng để
kiểm chứng những ý kiến, quan điểm một
thành viên nào đó nêu ra Giống như câu hỏi
‘dẫn dắt’, câu hỏi kiểm tra thường được hình
thành từ phần trả lời của những người được
phỏng vấn
Người tham gia phỏng vấn
Có nhiều quan niệm khác nhau về số lượng
thành viên trong một nhóm phỏng vấn Ví dụ
Stewart, Shadamasani & Rook [13] cho rằng một nhóm phỏng vấn thường có khoảng 6-12 người tham gia, Marková, Linell, Grossen & Orvig [9] thì cho rằng số người trong một nhóm thường từ 4-12 người, Kitzinger & Barbour [6] thì cho rằng 8-12 người, Bloor, Frankland, Thomas & Robson [2] thì cho rằng 6-8 là tối ưu, trong khi đó Michell [10] thì cho rằng 3-6 người là phù hợp nhất cho các nghiên cứu xã hội
Nhìn chung các tác giả nêu trên đều thống nhất rằng số lượng ít quá (3 người chẳng hạn) thì cuộc phỏng vấn hơi tẻ nhạt, và nguy cơ huỷ bỏ sẽ cao vì rất có thể có thành viên ngại tham gia hoặc vì một lý do nào đó không đến được buổi phỏng vấn Tuy nhiên nhiều người quá (trên 12 chẳng hạn) thì cơ hội cho mọi người tham gia tranh luận tương đối ít vì có thể sẽ có một hoặc vài người nào đó ‘cướp diễn đàn’ Theo kinh nghiệm của cá nhân tác giả bài viết này thì số người tham gia FGI tối
ưu nhất cho các đề tài luận văn luận án của lĩnh vực khoa học xã hội là từ 4-6 người Ngoài ra, có ý kiến khác nhau về đặc điểm của người tham gia phỏng vấn Có tác giả cho rằng những người tham gia nên là những người chưa quen biết nhau, đến từ những lĩnh vực công tác khác nhau vì họ có thể đưa ra những quan điểm khác nhau, dưới những lăng kính khác nhau về cùng một vấn đề [5] Cũng
có ý kiến cho rằng thành viên trong mỗi nhóm nên là những người đã quen biết nhau từ trước và có một số kiến thức nền chung vì họ
sẽ cảm thấy thoải mái và tự tin hơn khi thảo luận với những người quen biết Kitzinger & Barbour [6] thì cho rằng các nghiên cứu về thị trường thì hay tuyển mộ những người không quen vào một nhóm, còn các nghiên cứu khoa học xã hội thì hay làm việc với các nhóm đã quen biết nhau Đối với người Việt Nam, theo
ý kiến chủ quan của tác giả bài viết, nhà nghiên cứu nên chọn những người tham gia trong cùng nhóm là những người đã quen nhau Theo Nguyễn Cầm [3], Nguyễn Đăng Liêm [8], và Trần Ngọc Thêm [14] người Việt Nam thường e dè, nhút nhát với người lạ nhưng sôi nổi, bạo dạn và nói nhiều với những người quen
Trang 8Nguyễn Trọng Du Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 167(07): 103 - 108
107
KẾT LUẬN
Bài viết này giới thiệu phương pháp thu thập
dữ liệu nghiên cứu bằng FGI - không mới
nhưng chưa được sử dụng nhiều trong các
nghiên cứu xã hội, đặc biệt là trong nghiên
cứu về ngôn ngữ và văn hoá, về chính sách
giáo dục nói chung và đánh giá chương trình
nói riêng, và về phương pháp dạy và học
ngoại ngữ Hy vọng rằng, với những ưu điểm
nội trội của FGI những nhà nghiên cứu ở Việt
Nam, đặc biệt là học viên cao học và nghiên
cứu sinh, có thể áp dụng phương pháp phỏng
vấn này với những nghiên cứu của mình
Còn một phần quan trọng chưa được đề cập
đến trong bài viết là công cụ tổng hợp, giải
thích và phân tích dữ liệu thu được Xét thấy
nội dung này tương đối lớn nên chúng tôi xin
được trình bày trong một bài viết khác
Để thay cho lời kết, chúng tôi xin được trích
dẫn lời của hai tác giả Myers & Macnaghten
[11] nhận xét về ưu điểm của FGI như sau:
“Điểm mạnh lớn nhất của FGI là ở tính sinh
động, phức tạp và không thể đoán trước
Những người được phỏng vấn có thể nêu lên
những quan điểm bất ngờ làm cho nhà nghiên
cứu gặp khó khăn trong việc tổng hợp và
phân tích dữ liệu, nhưng chính những quan
điểm bất ngờ đó lại gợi lên những ý tưởng
mới cho nhà nghiên cứu”
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Baker R & Hinton R (1999), “Do focus groups
facilitate meaningful participation in social
research?” In Babour R S & Kitzinger J (Eds.),
Developing focus group research, London, Sage
Publications Ltd., pp 79-98
2 Bloor M., Frankland, J., Thomas M., & Robson
K (2001), Focus groups in social research,
London, Sage Publications Ltd
communication between Vietnamese and
non-Vietnamese”, In Nguyễn X T (Ed.), Vietnamese
studies in a multicultural world, Melbourne,
Brown Prior Anderson
“Contemplating interviews and focus groups”, In
Lia L (Ed.), Research methods in linguistics,
London, Continuum
5 Kitzinger J (1994), “The methodology of Focus Groups: the importance of interaction between
research participants”, Sociology of Health and
Illness, 16(1), pp 103-121
6 Kitzinger J & Barbour R S (1999),
“Introduction: Challenge and promise of focus groups”, In Barbour R S & Kitzinger J (Eds.),
Developing focus group research: politics, theory and practice, London: Sage Publications Ltd., pp
1-20
7 Krzyzanowski M (2008), “Analyzing focus group discussions” In Wodak R & Krzyzanowski
M (Eds.), Qualitative discourse analysis in the
social sciences, Hampshire: Palgrave Macmillan,
pp 162-181
8 Nguyễn Đăng Liêm (1994), “Indochinese cross-cultural communication and adjunct” In Nguyễn
X T (Ed.), Vietnamese studies in a multicultural
world, Melbourne: Brown Prior Anderson
9 Marková I., Linell P., Grossen M., & Orvig A
S (2007), Dialogue in focus groups: exploring
socially shared knowledge, London: Oakville, CT:
Equinox
10 Michell L (1999), “Combining focus groups and interviews: telling how it is; telling how it feels” In Barbour R S & Kitzinger J (Eds.),
Developing focus group research: politics, theory and practice, London: Sage Publications Ltd., pp
36-46
11 Myers G & Macnaghten P (1999), “Can focus groups be analysed as talk?” In Barbour R
S & Kitzinger J (Eds.), Developing focus group
research: politics, theory and practice, London:
SAGE, pp 173-185
12 Stewart D W & Shamdasani P N (2014),
Focus groups: Theory and practice (3nd ed.)
California: Sage Publications
13 Stewart D W., Shamdasani P N & Rook D
W (2007), Focus groups: Theory and practice
(2nd ed.), California: Sage Publications
14 Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hoá Việt
Nam (Foundation of Vietnamese culture) Hồ Chí
Minh: Nxb Giáo dục
Trang 9Nguyễn Trọng Du Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 167(07): 103 - 108
108
SUMMARY
FOCUS GROUP INTERVIEW: AN EFFICIENT METHOD
OF GENERATING DATA IN SOCIAL SCIENCE RESEARCH
School of Foreign Language – TNU
The article introduces a new method of interviewing in social science research, that is, focus group interview Though this method has been used relatively widely in the world, it is not sufficiently paid attention to in Vietnam especially in applied linguistic research The article starts by comparing it with other methods of interviewing such as individual interviews and normal group interivews Then the article provides readers with its prominent advantages as well as some minor disadvantages, and introduces the procedures in preparing and conducting it The article concludes
by suggesting that social science researchers use this method more often due to the pre-eminence
of its strengths over its weaknesses
Key words: interviewing, focus group interview, group interview, individual interview,
interviewing question
Ngày nhận bài: 08/3/2017; Ngày phản biện: 27/3/2017; Ngày duyệt đăng: 28/6/2017
*Tel: 0912452262; Email: nguyentrongdu.sfl@tnu.edu.vn