Đối với khán giả hiện tại- những người đã từng hoặc đang đến xem các chương trình của tổ chức, việc phát triển khán giả bao hàm những mục tiêu cụ thể như thuyết phục khán giả thử thưởng [r]
Trang 1PHÁT TRIỂN KHÁN GIẢ - NHU CẦU VÀ GIẢI PHÁP CHO CÁC TỔ CHỨC VĂN HÓA NGHỆ THUẬT VIỆT NAM
PHẠM BÍCH HUYỀN
Tóm tắt
Phát triển khán giả là những hoạt động khuyến khích công chúng đến xem hay tham dự các chương trình văn hóa nghệ thuật, nhờ đó làm tăng lượng khán giả cho
tổ chức văn hóa nghệ thuật Đây là điều kiện thiết yếu để một tổ chức có thể tồn tại
và phát triển bền vững Các tổ chức văn hóa nghệ thuật có thể thực hiện nhiều chiến lược nhằm tạo ra động cơ cho khán giả cũng như giúp họ vượt qua các rào cản để đến với văn hóa nghệ thuật Bài viết đề cập đến một số vấn đề lý luận cơ bản
về phát triển khán giả, nhu cầu phát triển khán giả của các tổ chức văn hóa nghệ thuật ở Việt Nam hiện nay và giải pháp cho vấn đề này.
(Audience Development are activities which encourage people to attend arts programmes; therefore, increase the number of audiences for arts organisations This is a fundamental factor for the development of any arts organisation Arts organisations could organise a variety of programmes to motivate people or to help them breaking down barriers to attending arts The article refers to some theoretical explanation of audience development as well as the need of and solutions for Vietnamese arts organisations.)
1. Khán giả - vấn đề sống còn của các tổ chức văn hóa nghệ thuật
Theo từ điển, khán giả được định nghĩa: “là những người xem hoặc nghe một
chương trình biểu diễn, buổi hòa nhạc, trưng bày, phim hoặc buổi thuyết giảng; là những người xem vô tuyến truyền hình, hoặc nghe đài phát thanh, xem tranh của nghệ sỹ, đọc sách của nhà văn hoặc nghe bài thuyết trình của các diễn giả”(2, tr.82) Trên thực tế, khán giả không chỉ xem, nghe mà còn có thể tham gia vào những hoạt động trong chương trình văn hóa nghệ thuật như các trò chơi, hoạt động giao lưu, tìm hiểu hay thậm chí biểu diễn cùng nghệ sĩ Như vậy, khán giả được dùng để chỉ tất cả những người thưởng thức hay tham dự các chương trình/sự kiện văn hóa nghệ thuật với tư cách là đối tượng thụ hưởng
Tổ chức văn hóa nghệ thuật là cách gọi chung cho các đơn vị, tổ chức, doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật Các loại hình tổ chức văn hóa nghệ thuật ở Việt Nam hiện nay khá đa dạng, phong phú Xét về quyền sở hữu có các tổ chức thuộc khu vực nhà nước, tư nhân, liên doanh hay có yếu tố nước ngoài Bên cạnh đó còn có thể chia các tổ chức này theo lĩnh vực văn hóa nghệ thuật mà
họ hoạt động như nghệ thuật biểu diễn, nghệ thuật thị giác, văn học, di sản, nghệ thuật tổng hợp…
Khán giả có ý nghĩa như thế nào đối với các tổ chức văn hóa nghệ thuật?
Trang 2Có thể nói, khán giả là điều kiện đặc biệt quan trọng để các tổ chức văn hóa nghệ thuật có thể tồn tại và phát triển Mọi loại hình nghệ thuật, mọi chương trình văn hóa nghệ thuật đều nhằm đến cái đích là khán giả Nghệ thuật không đến được với khán giả thì không thể phát huy những giá trị và ý nghĩa của nó Từ một vở chèo, tuồng, cải lương, kịch nói, một bộ phim hay triển lãm mỹ thuật, từ một lễ hội truyền thống hay liên hoan âm nhạc hiện đại… nếu không có khán giả thì làm sao
có thể truyền tải được giá trị văn hóa, nghệ thuật và phát huy được ảnh hưởng tới xã hội, cộng đồng Phan Thọ (2009) khi bàn về ý nghĩa của khán giả đối với nghệ thuật sân khấu cũng nhấn mạnh: “vở diễn mà không có người xem thì chẳng khác gì đồ vật để chơi trong nhà”(6, tr.188) Vì vậy, hoạt động nghệ thuật, dù xuất phát từ cảm xúc nội tâm, từ yếu tố chủ quan của nghệ sỹ, nhưng cuối cùng đều hướng tới khán giả, tìm đến sự sẻ chia, đón nhận, khẳng định từ phía khán giả
Khán giả không những là cái đích cần hướng tới mà còn là công cụ để đạt được các mục tiêu của tổ chức Tổ chức văn hóa nghệ thuật thường có các mục tiêu
về văn hóa nghệ thuật, chính trị- xã hội và mục tiêu kinh tế Phát triển khán giả là phương thức để đạt được các mục tiêu này(5, tr.7-8) Có thể thấy, dù mục tiêu của
tổ chức là gìn giữ và phát huy một loại hình nghệ thuật, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, hay đạt được lợi nhuận, phát triển khán giả đều là điều kiện tiên quyết Ví dụ, không thể bảo tồn và phát triển nghệ thuật chèo một cách bền vững nếu không có khán giả cho loại hình nghệ thuật này Tuyên truyền chủ trương của nhà nước thông qua một chương trình nghệ thuật nhưng nếu không ai đến xem thì chắc chắn chủ trương không thể đến được người dân Tương tự như vậy, khi nguồn thu cơ bản của các tổ chức văn hóa nghệ thuật là bán vé mà thiếu vắng khán giả thì tổ chức không thể đảm bảo điều kiện tài chính để tồn tại và phát triển
Xét theo quan điểm kinh tế học văn hóa, khán giả là bên cầu còn các tổ chức văn hóa nghệ thuật là bên cung trên thị trường văn hóa nghệ thuật Như vậy, khán giả là động lực thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức văn hóa nghệ thuật vì khi nhu cầu tăng đồng nghĩa với cơ hội cho sự phát triển của các sản phẩm và dịch vụ văn hóa nghệ thuật Ngược lại, nếu lượng khán giả giảm sút hay khán giả thờ ơ với nghệ thuật thì các tổ chức văn hóa nghệ thuật sẽ hoạt động khó khăn vì thiếu đầu ra cho sản phẩm và dịch vụ của mình Chính vì vậy, ở một số quốc gia như Hàn Quốc, chính phủ không chỉ tài trợ cho “bên cung” như các nghệ sĩ, nhà hát, bảo tàng mà ngày càng quan tâm đầu tư cho “bên cầu” là khán giả như những biện pháp kích cầu nhằm đảm bảo sự phát triển mạnh mẽ và lâu dài cho lĩnh vực văn hóa nghệ thuật (1)
Tình hình Việt Nam
Ở nước ta, trong nền kinh tế bao cấp trước đây, do cơ chế quản lý cũ nên nhiều
tổ chức văn hóa nghệ thuật chưa quan tâm đầy đủ đến khán giả Các tổ chức chưa chú ý nghiên cứu, tìm hiểu khán giả của mình là ai, có đặc điểm gì, nhu cầu về văn hóa nghệ thuật của họ ra sao, họ thích gì và mong muốn gì ở các chương trình nghệ thuật vv Nhiều tổ chức còn nhận định chung chung, mơ hồ về khán giả mà không hiểu rằng mỗi nhóm khán giả đều có đặc điểm và nhu cầu khác nhau
Trang 3Hiện nay, khi nước ta chuyển sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, những thay đổi về chính sách, đặc biệt là chính sách tài chính đã đặt các
tổ chức văn hóa nghệ thuật trước yêu cầu phải chủ động về tài chính và tăng nguồn thu từ bán vé Vì vậy, các tổ chức phải cạnh tranh trong việc thu hút công chúng, phải tìm cách để tăng trưởng và mở rộng các nhóm khán giả Bên cạnh đó, để xây dựng và phát triển thương hiệu cho tổ chức, để có căn cứ cho đề xuất tăng cường nguồn ngân sách đầu tư của nhà nước hay thu hút tài trợ từ các tổ chức và cá nhân, các tổ chức văn hóa nghệ thuật phải thể hiện được khả năng thu hút và phục vụ khán giả của mình
Trong khi đó, trên thực tế, các tổ chức văn hóa nghệ thuật của chúng ta đang lâm vào tình trạng “khủng hoảng về khán giả”: “càng làm vở thì càng vắng khách, sân khấu cố tìm đến khán giả thì khán giả lại càng xa cách hơn” (6,tr.200) Nghệ thuật biểu diễn truyền thống thiếu vắng khán giả, đặc biệt là khán giả trẻ, nghệ thuật hiện đại cũng gặp không ít khó khăn trên con đường tiếp cận và chinh phục công chúng Không chỉ giới hạn ở nghệ thuật biểu diễn, các loại hình nghệ thuật khác cũng đứng trước những thách thức tương tự
Chính vì vậy, các tổ chức văn hóa nghệ thuật Việt Nam ngày càng nhận thấy tầm quan trọng của khán giả và vấn đề phát triển khán giả Để tồn tại và phát triển trong điều kiện mới, nhất thiết phải lôi cuốn được khán giả đến với chương trình văn hóa nghệ thuật Do đó, vấn đề phát triển khán giả đã và đang trở thành mối quan tâm đặc biệt trong lý luận và thực tiễn quản lý văn hóa ở nước ta
2. Mục đích và nhiệm vụ phát triển khán giả
Mục đích của phát triển khán giả
Phát triển khán giả là những hoạt động khuyến khích công chúng đến xem hay tham dự các chương trình văn hóa nghệ thuật nhiều hơn, thường xuyên hơn Nói cách khác, phát triển khán giả nhằm tăng lượng khán giả cho văn hóa nghệ thuật Như vậy, phát triển khán giả chính là việc phát triển mối quan hệ giữa cá nhân và nghệ thuật, giữa cá nhân với tổ chức văn hóa nghệ thuật Đây là những tác động nhằm thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của những người đã hoặc chưa từng tham dự nghệ thuật, nhằm thu hút họ đến với các sản phẩm/chương trình Công việc này cần nhiều thời gian và sự tham gia chủ động của các tổ chức văn hóa nghệ thuật Phát triển khán giả cho hôm nay và mai sau sẽ đảm bảo tương lai của văn hóa nghệ thuật nói chung và của các tổ chức văn hóa nghệ thuật nói riêng
Cụ thể, phát triển khán giả nhằm duy trì khán giả hiện tại và thu hút khán giả mới cho loại hình nghệ thuật hoặc cho tổ chức văn hóa nghệ thuật Đối với khán giả hiện tại- những người đã từng hoặc đang đến xem các chương trình của tổ chức, việc phát triển khán giả bao hàm những mục tiêu cụ thể như thuyết phục khán giả thử thưởng thức những sản phẩm hoặc chương trình văn hóa nghệ thuật mới, tham
dự một loại hình nghệ thuật chưa quen thuộc, đến xem các chương trình nghệ thuật của tổ chức một cách thường xuyên hơn, tham dự nghệ thuật trở lại sau một thời gian không đi xem, nâng cao hiểu biết và khả năng cảm thụ về loại hình nghệ thuật, xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với tổ chức như trở thành “khán giả thân thiết”,
Trang 4thành viên, nhà tài trợ, tình nguyện viên hoặc người ủng hộ tổ chức… Như vậy, phát triển khán giả hiện tại sẽ xây dựng đội ngũ khán giả cốt lõi của tổ chức
Với nhóm khán giả mới, những khán giả chưa từng xem chương trình nghệ thuật hoặc chưa đến xem tại một tổ chức văn hóa nghệ thuật cụ thể, phát triển khán giả nhằm khuyến khích họ đến tham dự lần đầu Nhóm khán giả mới có thể là những người có đặc điểm về nhân khẩu học (ví dụ: giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn…) giống như những khán giả hiện tại của tổ chức hoặc thuộc nhóm những người có hoàn cảnh đặc biệt mà trước đây chưa được quan tâm đúng mức (ví dụ nhóm trẻ em mồ côi, lang thang, cơ nhỡ hay nhóm dân tộc thiểu số tại một địa phương) (5, tr.9-10)
Tóm lại, dù hướng tới khán giả hiện tại hay khán giả mới, phát triển khán giả bao giờ cũng gồm việc cải thiện, tăng cường hiểu biết và khả năng cảm thụ nghệ thuật của những nhóm công chúng đối với loại hình nghệ thuật cụ thể, giúp họ cảm thấy tự tin, yêu thích văn hóa nghệ thuật và sẵn sàng đến tham dự các chương trình nghệ thuật
Nhiệm vụ của phát triển khán giả
Để khuyến khích khán giả đến với nghệ thuật nhiều hơn, các hoạt động phát triển khán giả phải nhằm vào việc phá bỏ các rào cản ngăn trở công chúng tham dự các chương trình nghệ thuật Một số rào cản cơ bản có thể kể đến là rào cản mang tính vật lý và tâm lý
Rào cản vật lý là những khó khăn khách quan về tiếp cận sản phẩm văn hóa nghệ thuật như thiếu sự sẵn có của sản phẩm xét về mặt không gian hay thời gian Chẳng hạn công chúng muốn xem các chương trình biểu diễn nghệ thuật truyền thống nhưng địa điểm biểu diễn quá xa nơi người dân cư trú, trong khi các phương tiện giao thông công cộng không thuận tiện, hoặc chương trình diễn ra vào thời điểm không thích hợp khiến nhiều người không thể thu xếp đến xem Một lý do khác có thể kể đến là sự thiếu vắng những chương trình nghệ thuật có thể loại hoặc chủ đề mà khán giả yêu thích Ví dụ, nhiều người muốn xem chương trình múa đương đại nhưng rất hiếm khi có chương trình như vậy ở địa phương Rào cản khách quan khác có thể là vấn đề tài chính khi giá vé quá cao so với khả năng thu nhập của những bộ phận khán giả khiến họ không thể thường xuyên mua vé và đi xem nghệ thuật
Trong khi đó, rào cản tâm lý liên quan đến thái độ và quan niệm của những bộ phận công chúng về loại hình nghệ thuật hoặc về tổ chức nghệ thuật Những cảm nhận hay định kiến chủ quan này có thể đúng hoặc không đúng với thực tế Chẳng hạn, nhiều người thường cho rằng ballet hay opera rất khó hiểu mặc dù trên thực tế,
có những công cụ hỗ trợ khán giả nắm bắt và cảm nhận chương trình nghệ thuật như các tờ chương trình giới thiệu nội dung từng cảnh diễn trong vở ballet, hay hệ thống phụ đề giúp khán giả hiểu nội dung những lời hát trong vở opera Hoặc, có những người cho rằng một tổ chức nghệ thuật A nào đó, do có qui mô lớn, khán phòng sang trọng nên chắc giá vé rất cao và chỉ giành cho những người “có tiền” Trong khi đó, có thể nhà hát này có chương trình giảm giá cho sinh viên, trẻ em, người cao tuổi, thậm chí có những hoạt động nghệ thuật miễn phí Có những người
Trang 5lại e ngại khi đến nhà hát vì sợ rằng phải ngồi ở đó quá lâu, hoặc do không am hiểu
về loại hình nghệ thuật nên có thể rơi vào tình huống “trớ trêu” như vỗ tay không đúng lúc Có thể thấy, các rào cản tâm lý của khán giả rất đa dạng, phức tạp và để phát triển khán giả cần hiểu rõ họ nghĩ gì và e ngại những gì để có thể tác động một cách hiệu quả
Bên cạnh đó, cần đề cập đến một rào cản cơ bản khác là thiếu thông tin Khi khán giả không biết có chương trình nghệ thuật nào đang diễn ra ở đâu thì dù họ mong muốn đến mấy cũng không thể tham dự được Có trường hợp khán giả không biết nhà hát ở đâu, làm thế nào để đến được, thậm chí không biết mua vé ở đâu, bằng cách nào… Tất cả những yếu tố tưởng chừng như đơn giản ấy đều có thể ngăn cản công chúng không đến với nghệ thuật (7, tr.67-92)
Như vậy, nhiệm vụ của phát triển khán giả chính là việc giải quyết những khó khăn, trở ngại này, đồng thời tạo ra những động cơ khuyến khích khán giả tham dự các chương trình văn hóa nghệ thuật
3 Một số giải pháp phát triển khán giả cho các tổ chức văn hóa nghệ thuật Việt Nam
Để phát triển khán giả, các tổ chức văn hóa nghệ thuật cần sử dụng tổng hợp nhiều biện pháp, từ việc thực hiện các hoạt động marketing đến việc tổ chức các chương trình giáo dục về nghệ thuật cho công chúng Các hoạt động này đòi hỏi sự tham gia của nhiều thành phần như nghệ sĩ, người làm marketing, người thực hiện hoạt động giáo dục, đồng thời cần sự phối hợp của tất cả các thành viên khác trong
tổ chức Hơn nữa, cũng như với bất kỳ một hoạt động quản lý văn hóa nào, phát triển khán giả cần được nghiên cứu kỹ lưỡng, lập kế hoạch nghiêm túc và đầu tư đủ các nguồn lực thì mới có thể đạt hiệu quả cao Hoạt động này cũng cần được tiến hành thường xuyên để đảm bảo việc duy trì và cải thiện lượng khán giả
Phát triển khán giả thông qua hoạt động marketing văn hóa nghệ thuật
Hoạt động marketing với phương châm phát hiện và đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khán giả là công cụ hữu hiệu trong việc thúc đẩy khán giả đến với các chương trình của tổ chức nghệ thuật Marketing văn hóa nghệ thuật gồm việc điều tra, nghiên cứu thị trường để nắm bắt nhu cầu và mong muốn về văn hóa nghệ thuật của các bộ phận công chúng khác nhau, trên cơ sở đó thiết kế và sử dụng các công cụ marketing hỗn hợp để đáp ứng kịp thời và chính xác nhu cầu của khán giả Một số vấn đề then chốt cần thực hiện là:
Nghiên cứu thị trường để hiểu rõ các nhóm khán giả cốt lõi và các nhóm khán giả phụ của tổ chức Cần nắm bắt những đặc điểm về nhân khẩu học của họ như độ tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân và gia đình, trình độ học vấn, nghề nghiệp, mức thu nhập, nơi cư trú… đến những vấn đề như quan điểm, thái độ, sở thích, thị hiếu của họ đối với văn hóa nghệ thuật Đặc biệt cần quan tâm đến những lợi ích mà khán giả mong đợi khi tham dự các chương trình văn hóa nghệ thuật Ví dụ, “nghệ
sĩ phải biết phân loại thị hiếu khán giả: loại đến sân khấu để giải trí, loại để đạt mục đích giao tiếp xã hội, loại đến để thoả mãn hưởng thụ sáng tạo nghệ thuật… nhằm ứng xử cho phù hợp với sáng tạo của mình”(8)
Trang 6Trên cơ sở phát hiện và dự đoán nhu cầu của khán giả, các tổ chức văn hóa nghệ thuật cần thiết kế sản phẩm hay chương trình văn hóa nghệ thuật sao cho phù hợp: từ việc lựa chọn thể loại, nội dung, chủ đề đến việc tuyển chọn đội ngũ nghệ sĩ, diễn viên để đáp ứng tốt nhất nguyện vọng thưởng thức nghệ thuật của công chúng Sản phẩm văn hóa nghệ thuật là yếu tố rất quan trọng vì chất lượng nghệ thuật và sự phù hợp với thị hiếu, sở thích của khán giả luôn là điều kiện đầu tiên và cơ bản để lôi cuốn khán giả đến với chương trình
Bên cạnh việc xây dựng chương trình văn hóa nghệ thuật, vấn đề tổ chức biểu diễn hay quá trình đưa chương trình đến với khán giả cũng không kém phần quan trọng Một chương trình đặc sắc, hấp dẫn nhưng hoạt động tổ chức biểu diễn kém thì cũng không thu hút được đông đảo công chúng Chính vì vậy, các yếu tố như thời gian, địa điểm trưng bày/biểu diễn, đội ngũ nhân viên phục vụ, qui trình phục
vụ khán giả từ bán vé đến tiếp đón đều phải tạo sự thuận tiện, đem lại cho khán giả những trải nghiệm thú vị và ấn tượng tốt đẹp
Các công cụ marketing khác như giá cả cũng rất quan trọng trong việc thu hút khán giả Tổ chức văn hóa nghệ thuật phải tính toán giá vé sao cho phù hợp với khả năng chi trả của các nhóm khán giả mục tiêu, đồng thời đưa ra các mức giá linh hoạt theo thời gian (thời gian cao điểm, thấp điểm), đối tượng khán giả (học sinh, sinh viên, trẻ em, người lớn), địa dư (thành phố, nông thôn, vùng sâu vùng xa), địa điểm (các vị trí ngồi khác nhau trong khán phòng)… Với những khán giả mới, có thể phải thực hiện những đợt khuyến mại như giảm giá vé, thậm chí có những buổi biểu diễn miễn phí để kéo khán giả bước qua cánh cửa nhà hát và hy vọng họ sẽ trở lại, mua
vé ở những lần tiếp theo
Các hệ thống truyền thông marketing như quảng cáo, marketing trực tiếp và quan hệ công chúng có thể hỗ trợ tích cực việc phát triển khán giả Các công cụ này khắc phục rào cản thiếu thông tin, nâng cao hiểu biết của công chúng về sản phẩm, truyền đạt những lợi ích của chương trình văn hóa nghệ thuật, từ đó tác động vào nhận thức, thái độ và thúc đẩy hành vi tham dự nghệ thuật của khán giả Các hoạt động truyền thông này còn có khả năng xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa khán giả
và tổ chức cũng như hỗ trợ đáng kể trong việc xây dựng và phát triển thương hiệu cho các tổ chức văn hóa nghệ thuật
Như vậy, việc sử dụng linh hoạt và tổng hợp các công cụ marketing văn hóa nghệ thuật sẽ tác động tích cực đến khán giả, khiến khán giả thấy nhu cầu của họ được lắng nghe và đáp ứng một cách đầy đủ Khi đó, khán giả sẽ có phản hồi tốt đối với sản phẩm văn hóa nghệ thuật như đến xem, tiếp tục quay trở lại xem các chương trình nghệ thuật khác, tuyên truyền tốt về chương trình và tổ chức với người thân, bạn bè, đồng nghiệp…Do đó, hoạt động phát triển khán giả sẽ đạt được những mục tiêu và nhiệm vụ đã đề ra
Phát triển khán giả thông qua hoạt động giáo dục về nghệ thuật
Hoạt động marketing có những ưu điểm nhất định trong phát triển khán giả cho các tổ chức văn hóa nghệ thuật nhưng không phải là chiếc chìa khóa vạn năng
Ví dụ, để phát triển khán giả cho một loại hình nghệ thuật truyền thống như chèo, nếu không làm khán giả biết đến cái hay, cái đẹp để có thể hiểu chèo và yêu chèo
Trang 7thì dù nhà hát xây dựng những vở chèo có chất lượng nghệ thuật cao, điều kiện tổ chức biểu diễn tốt, giá vé rẻ, thậm chí miễn phí cùng với các hoạt động quảng cáo rầm rộ thì cũng chưa chắc đã thành công trong việc thu hút khán giả, nhất là khán giả trẻ Vì vậy, bên cạnh hoạt động marketing, các tổ chức văn hóa nghệ thuật cần
tổ chức các hoạt động giáo dục về nghệ thuật như những biện pháp đào tạo hay
“chuẩn bị” khán giả
Hoạt động giáo dục của tổ chức văn hóa nghệ thuật là các hoạt động đa dạng nhằm nâng cao hiểu biết của khán giả về các loại hình nghệ thuật Ví dụ, một bảo tàng mỹ thuật có thể tổ chức buổi nói chuyện về nghệ thuật sắp đặt hay tổ chức cuộc thi tìm hiểu về các tác phẩm nghệ thuật được trưng bày Bảo tàng cũng có thể hình thành câu lạc bộ những người yêu thích hội họa với các sinh hoạt chuyên môn hay
tổ chức cuộc thi vẽ cho thiếu nhi vv Ví dụ khác, một nhà hát Tuồng có thể tổ chức những buổi sinh hoạt ngoại khóa cho học sinh các trường tiểu học, trong đó giới thiệu về nghệ thuật tuồng, biểu diễn một số trích đoạn và giao lưu, tổ chức các trò chơi liên quan cho học sinh
Bên cạnh đó, hoạt động giáo dục nghệ thuật còn có thể hỗ trợ các chương trình nghệ thuật của tổ chức nhằm nâng cao sự cảm thụ và hài lòng của khán giả Ví dụ, một chương trình biểu diễn kịch nói, nếu có các hoạt động đi kèm như giao lưu giữa đạo diễn, diễn viên và khán giả, giới thiệu về thủ pháp nghệ thuật, những nét đặc sắc của chương trình hay quá trình dàn dựng vở diễn, tham quan hậu trường, sân khấu, kho đạo cụ, phục trang… sẽ làm tăng hứng thú và giúp cảm nhận của khán giả sâu sắc hơn
Như vậy, các hoạt động giáo dục nghệ thuật sẽ tăng cường và cải thiện khả năng thưởng thức nghệ thuật, tạo ra mối quan tâm, yêu thích và làm nảy sinh nhu cầu tham dự nghệ thuật ở công chúng Cơ sở lý luận và thực tiễn của quan niệm coi hoạt động giáo dục nghệ thuật như một công cụ phát triển khán giả là mối quan tâm, yêu thích nghệ thuật của con người thường được hình thành và phát triển theo thời gian, thông qua quá trình học hỏi và tích lũy Ở đây, vai trò của giáo dục trong việc cung cấp những hiểu biết và kỹ năng cơ bản làm nền tảng cho năng lực cảm thụ nghệ thuật ở công chúng là vô cùng quan trọng Điều này sẽ tạo nên những tố chất thiết yếu để một người có thể trở thành khán giả của văn hóa nghệ thuật Tuy nhiên, đây không phải là một quá trình dễ dàng vì các chương trình giáo dục nghệ thuật thường phát huy hiệu quả sau một thời gian lâu dài (bên cạnh những tác động tức thời) Một vấn đề mang tính thực tiễn nữa là nhiều khi hiệu quả của các chương trình này khó được đo đếm một cách trực tiếp hoặc chính xác(4)
Nhiều loại hình đơn vị, cơ quan, tổ chức khác nhau có thể tiến hành các hoạt động giáo dục nghệ thuật Ở Việt Nam, có thể kể tới hoạt động giáo dục nghệ thuật trong hệ thống trường học từ bậc tiểu học, trung học cơ sở đến trung học phổ thông;
hệ thống cơ sở đào tạo về văn hóa nghệ thuật như trường trung cấp, cao đẳng và đại học về văn hóa nghệ thuật từ địa phương đến trung ương; hệ thống câu lạc bộ, nhà văn hóa, trung tâm văn hóa thuộc các đơn vị văn hóa thông tin cơ sở và rất nhiều tổ chức chính trị, xã hội khác Tuy nhiên, để phát triển khán giả cho mình, các tổ chức văn hóa nghệ thuật cần tích cực, chủ động trong việc thiết kế và thực hiện chương trình giáo dục nghệ thuật như trên đã đề cập Hơn nữa, nguồn lực của các tổ chức
Trang 8này như các chương trình nghệ thuật được dàn dựng, đội ngũ nghệ sỹ chuyên nghiệp, cơ sở vật chất (hội trường, khán phòng cùng các thiết bị âm thanh, ánh sáng)… là những điều kiện rất tốt để tổ chức các chương trình giáo dục nghệ thuật sinh động, hấp dẫn và có hiệu quả
Kết luận
Khán giả là một yếu tố cơ hữu trong hoạt động nghệ thuật Nhiều ý kiến cho rằng chỉ khi công chúng trải nghiệm những gì nghệ sỹ muốn chuyển tải qua các tác phẩm thì quá trình sáng tạo nghệ thuật mới được coi là hoàn thành Khán giả cũng
có ý nghĩa rất thực tế đối với các tổ chức văn hóa nghệ thuật vì một tổ chức không thu hút được khán giả thì khó có thể có thu nhập dù là từ bán vé hay từ các nhà tài trợ (3, tr.25) Chính vì vậy, phát triển khán giả là một nhiệm vụ quan trọng trong quản lý văn hóa nói chung và đối với các tổ chức văn hóa nghệ thuật nói riêng Đặc biệt, trong điều kiện hiện nay của nước ta, vấn đề này càng mang tính thực tiễn và cấp bách
Phát triển khán giả chính là việc tìm cách tháo rỡ những rào cản hay nói cách khác tạo điều kiện tiếp cận văn hóa nghệ thuật cho công chúng Các điều kiện tiếp cận này bao hàm cả khía cạnh vật chất, địa lý lẫn khía cạnh xã hội và tâm lý Phát triển khán giả cần duy trì những khán giả hiện có và khuyến khích họ đến với các chương trình văn hóa nghệ thuật thường xuyên hơn, đồng thời phải chú ý thu hút những khán giả mới Như vậy, phát triển khán giả cần làm tăng về số lượng đồng thời đạt đến sự đa dạng của các nhóm khán giả
Các hoạt động marketing và giáo dục nghệ thuật là những giải pháp quan trọng cho phát triển khán giả, cần được phối hợp để có thể đạt hiệu quả cao và bền vững
Ở các nước phát triển, những hoạt động này đã được các tổ chức văn hóa nghệ thuật thực hiện một cách chuyên nghiệp, trong khi đây vẫn còn là điều mới mẻ ở Việt Nam Để giải quyết tình trạng “khủng hoảng khán giả”, góp phần thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, các tổ chức văn hóa nghệ thuật nước ta cần nghiên cứu và triển khai một cách sáng tạo các hoạt động này Đây là hướng đi đầy triển vọng có thể đem lại những thay đổi có tính cách mạng cho hoạt động quản lý văn hóa của nước nhà
P.B.H
Tài liệu tham khảo
1. Arts Vision, International Arts Managers, Magazine for the Performing
Arts Seoul March 2006
2. Collins Cobuild English Language Dictionary, Ed in chief John Sinclair.
Collins Cobuild, London, 1987
3. Elizabeth Hill, Catherine O’Sullivan and Terry O’Sullivan, Creative Arts Marketing,Butterworth- Heinemann, Oxford, 2000.
Trang 94. Gerald Lidstone, Cultural Policy and Practice in the United Kingdoms -Arts Education,Goldsmiths- University of London, London, 2004.
5. Heather Maitland, A Guide to Audience Development, Arts Council of
England, London, 2000
6. Phan Thọ, Mấy vấn đề về công chúng của nghệ thuật sân khấu, NXB Sân
khấu, H, 2009
7. Philip Kotler and Joanne Scheff Standing Room Only: Strategies for Marketing the Performing Arts Harvard Business School Press Boston, Massachusetts 1997