Lê Huy Hoàng, Nguyễn Thị Huyền, Nguyễn Thị Ngân, Vũ Thị Vân Anh - Phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học của học sinh phổ thông trong dạy học các nội dung về hóa học hữu cơ chươn[r]
Trang 1Tập 167, số 07, 2017
Trang 2T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ
CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN – KINH TẾ
Nguyễn Đại Đồng - Hoạt động khai thác mỏ ở Lào Cai dưới thời Gia Long và Minh Mệnh 3
Dương Thị Huyền - Thương mại châu Âu và những tác động đến tình hình chính trị Đàng Trong thế kỷ XVI- XVIII 9
Trần Thị Nhung - Miêu tả tình tiết trong Truyện Kiều và Kim Vân Kiều Truyện 15
Nguyễn Thị Hải Phương - Bản chất của ngôn từ văn học (nghĩ từ bài viết Bản chất xã hội, thẩm mỹ của diễn
ngôn văn học của Trần Đình Sử) 21
Phạm Thị Mai Hương, Nguyễn Thị Thu Trang, Ngô Thị Lan Anh - Ảnh hưởng của lễ hội Vu Lan đến đời
sống đạo đức của nhân dân huyện Quốc Oai, Hà Nội 25
Phạm Thị Ngọc Anh - Hình tượng văn thủy ba trong mỹ thuật cổ Việt Nam và các ứng dụng trên sản phẩm mỹ
Trương Thị Phương - Giải pháp ứng dụng hiệu quả thông tin đồ họa trên báo điện tử 37
Phạm Thị Nhàn - Ẩn dụ từ vị giác “ngọt” trong tiếng Hán hiện đại 43
Lương Thị Thanh Dung – Sự khác nhau về kết cấu chữ Nôm của văn bản Thiền tông bản hạnh giữa bản in
Nguyễn Thị Quế, Phạm Phương Hoa - Đánh giá sự phù hợp của giáo trình New English File đối với việc
giảng dạy sinh viên không chuyên ngữ tại Trường Đại học Khoa học – Đại học Thái Nguyên 55
Hoàng Thị Thắm - Nghiên cứu về siêu nhận thức trong nghe tiếng Anh của sinh viên chương trình tiên tiến tại
Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp – Đại học Thái Nguyên 61
Nguyễn Quỳnh Trang, Dương Công Đạt, Vũ Kiều Hạnh - Thiết kế chương trình bổ trợ nói cho học sinh lớp
10 Trường Trung học Phổ thông Thái Nguyên 67
Nguyễn Khánh Như - Sự phát triển của hệ thống các trường đại học sư phạm trọng điểm Trung Quốc hiện nay 73
Nguyễn Văn Hồng, Vũ Thị Thanh Thủy - Dạy học theo dự án và vấn đề phát triển năng lực nghiên cứu khoa
học cho học sinh trong dạy học Sinh thái học ở trung học phổ thông 79
Trần Thị Phương Thảo, Nguyễn Thị Hoa Hồng - Nâng cao tính ứng dụng trong xây dựng chương trình đào
tạo đại học tại Việt Nam – bài học từ chương trình giáo dục đại học định hướng nghề nghiệp ứng dụng (POHE) 85
Phạm Thị Bích Thảo, Nguyễn Thành Trung - Lựa chọn bài tập thể lực chuyên môn nâng cao kết quả học tập
chạy cự ly ngắn cho sinh viên khóa 14 Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên 91
Lê Huy Hoàng, Nguyễn Thị Huyền, Nguyễn Thị Ngân, Vũ Thị Vân Anh - Phát triển năng lực sử dụng ngôn
ngữ hóa học của học sinh phổ thông trong dạy học các nội dung về hóa học hữu cơ chương trình hóa học lớp 12
Nguyễn Trọng Du - Phỏng vấn ‘nhóm tập trung’: một phương pháp thu thập dữ liệu hiệu quả với các nghiên
Đỗ Thị Thái Thanh, Trương Tấn Hùng, Đào Ngọc Anh - Xây dựng hồ sơ năng lực bồi dưỡng giáo viên thể
dục các trường trung học phổ thông các tỉnh miền núi phía Bắc 109
Nguyễn Ngọc Bính, Dương Tố Quỳnh, Nguyễn Văn Thanh - Thực trạng sử dụng hệ thống phương tiện
chuyên môn trong giảng dạy môn bóng chuyền cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh -
Lê Văn Hùng, Nguyễn Nhạc - Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động câu lạc bộ bóng đá nam sinh viên
Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên 119
Journal of Science and Technology
167 (07)
Trang 3Nguyễn Văn Dũng, Lê Văn Hùng - Một số giải pháp giúp sinh viên lựa chọn môn học tự chọn trong chương
trình giáo dục thể chất dành cho sinh viên không chuyên thể dục thể thao Trường Đại học Sư phạm – Đại học
Nguyễn Văn Chiến, Nguyễn Trường Sơn, Đỗ Như Tiến - Một số kết quả ban đầu trong việc áp dụng CDIO
Đỗ Quỳnh Hoa - Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc xây dựng lối sống cho sinh viên Trường Đại học
Công nghệ Thông tin và Truyền thông – Đại học Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay 135
Phạm Văn Hùng, Nguyễn Huy Hùng - Đánh giá đầu ra của chương trình đào tạo qua mức độ đáp ứng chuẩn
Ngô Thị Lan Anh, Nguyễn Thị Thu Hiền - Yêu cầu khách quan của việc đổi mới quy trình kiểm tra đánh giá
kết quả học tập môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông nước ta hiện nay 147
Trương Thị Thu Hương, Trương Tuấn Anh - Ứng dụng dạy học dự án trong đào tạo giáo viên kỹ thuật tại
Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp - Đại học Thái Nguyên 153
Dương Quỳnh Phương, Trần Viết Khanh, Đồng Duy Khánh - Những nhân tố chi phối đến văn hóa tộc người
và văn hóa cộng đồng dân tộc dưới góc nhìn địa lí học 159
Nguyễn Thị Thanh Tâm, Trần Quyết Thắng, Đào Thị Hương - Đánh giá mức độ hài lòng của khách du lịch
đối với đội ngũ hướng dẫn viên du lịch tại một số công ty kinh doanh lữ hành trên địa bàn thành phố Thái
Nguyễn Văn Chung, Đinh Hồng Linh - Các yếu tố thành công cho website thương mại điện tử: trường hợp
doanh nghiệp du lịch nghỉ dưỡng vừa và nhỏ ở Quảng Bình 171
Đặng Thị Bích Huệ - Dự án hỗ trợ nông nghiệp, nông dân và nông thôn tỉnh Tuyên Quang và các tác động đến
Lương Văn Hinh, Lương Trung Thuyền - Nghiên cứu biến động giá đất ở trên địa bàn thị trấn Thất Khê,
huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011 – 2015 183
Nguyễn Tú Anh, Nguyễn Thị Lan Anh, Nguyễn Thành Minh - Nghiên cứu các mối quan hệ cung ứng dịch
vụ quản trị hoạt động có dịch vụ trách nhiệm xã hội: trường hợp điển cứu tại các công ty dịch vụ vận tải chở
khách vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 189
Nguyễn Thị Thu Thương, Hoàng Ngọc Hiệp - Thực trạng quản lý vốn ngân sách nhà nước cho đầu tư phát
triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên 193
Tạ Thị Thanh Huyền, Nguyễn Mạnh Dũng - Tăng cường quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách
nhà nước trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 199
Nguyễn Thị Kim Huyền - Ứng dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS): kinh nghiệm quốc tế và bài
Nguyễn Thị Nhung, Phan Thị Vân Giang - Tạo động lực cho các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư
nhân đầu tư trực tiếp ra nước ngoài 211
Phạm Thuỳ Linh, Phạm Hoàng Linh, Trần Thị Thu Trâm - Xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam trong bối
Nguyễn Thị Thu Trang, Trần Bích Thủy - Động lực làm việc của cán bộ công chức xã phường: nghiên cứu
Nguyễn Thu Thủy, Hoàng Thái Sơn - Bài học kinh nghiệm trong quản lý rủi ro thanh khoản đối với Ngân
Ngô Thúy Hà - Định hướng phát triển dịch vụ tín dụng cho hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đến năm 2020 237
Đoàn Quang Thiệu - Một số kết quả xây dựng mô hình học tập, thực hành về kế toán doanh nghiệp 243
Trang 4Nguyễn Thị Hải Phương Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 167(07): 21-24
21
BẢN CHẤT CỦA NGÔN TỪ VĂN HỌC (NGHĨ TỪ BÀI VIẾT BẢN CHẤT
XÃ HỘI, THẨM MỸ CỦA DIỄN NGÔN VĂN HỌC CỦA TRẦN ĐÌNH SỬ)
Nguyễn Thị Hải Phương*
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
TÓM TẮT
Bài viết này trình bày những điều mà tác giả thu nhận được về vấn đề bản chất của ngôn từ văn
học sau khi đọc bài viết Bản chất xã hội, thẩm mỹ của diễn ngôn văn học của Trần Đình Sử Tiếp
thu quan niệm của những nhà nghiên cứu như M Bakhtin, M.Foucault , Trần Đình Sử đã chỉ ra con đường hợp lí để tìm hiểu ngôn từ văn học là phải xuất phát từ sự thống nhất giữa ngôn từ và ý thức Chính hình thái ý thức xã hội, trạng thái tri thức của con người và cơ chế quyền lực trong xã hội đã trở thành cái logic nội tại, cái cơ chế thầm kín chi phối cách sử dụng ngôn từ của con người
Từ việc nhìn thấy sự chi phối của cơ chế văn hóa, xã hội đối với việc sử dụng ngôn từ của con người, Trần Đình Sử khẳng định rằng sự vận động của văn học được thể hiện rất rõ nét, sâu sắc qua sự vận động của ngôn từ, hình thái ngôn từ giai đoạn sau sẽ thay thế dần hình thái ngôn từ giai đoạn trước
Từ khóa: Quan niệm, ngôn từ văn học, diễn ngôn văn học, bản chất xã hội, bản chất thẩm mỹ,
Trần Đình Sử
Văn học là nghệ thuật ngôn từ Mỗi giai đoạn
văn học có một hệ thống ngôn từ riêng, một
cách nói riêng tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế,
chính trị, xã hội, văn hóa… của giai đoạn đó
Chính vì thế, khi tìm hiểu một trào lưu văn
học, một thời đại văn học, một giai đoạn văn
học, ta không thể bỏ qua việc tìm hiểu ngôn
từ của văn học thời kì đó Trong bài diễn từ
Nobel văn học năm 1985, nhà văn Pháp
Claude Simon – một trong những đại diện
tiêu biểu của phong trào tiểu thuyết Mới đã
nhấn mạnh vào tầm quan trọng đặc biệt của
ngôn từ: “Ngôn ngữ không chỉ là công cụ
diễn đạt, truyền đạt, chuyển tải… Ngôn ngữ
là công cụ nhận thức, khám phá… Ngôn ngữ
không chỉ biểu đạt mà nó còn sản sinh ý
nghĩa Ngôn ngữ không chỉ là những kí hiệu,
nó còn là những nút nhiều mối ý nghĩa…” [1,
104] Ngôn từ văn học có tầm quan trọng như
thế nhưng “cho đến nay trong hầu hết các tài
liệu lí luận văn học ở Việt Nam đều chỉ hiểu
ngôn từ như một phương tiện biểu đạt, một
công cụ bề ngoài, chưa đi sâu tìm hiểu bản
chất xã hội, thẩm mĩ của nó” [2] Chính vì
thế, sau khi đọc bài viết Bản chất xã hội, thẩm
*
Tel: 0913599797; Email: haiphuongdhsp@yahoo.com
mĩ của ngôn từ văn học của Trần Đình Sử,
chúng tôi đã phần nào có được cái nhìn sâu
sắc và toàn diện hơn về bản chất của ngôn từ văn học, hiểu bản chất của ngôn từ văn học với tư cách là một diễn ngôn
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Trong bài viết này, trước hết, Trần Đình Sử
đã chỉ ra tính phiến diện, cực đoan trong một
số quan niệm về ngôn từ văn học Đó là quan niệm coi ngôn từ văn học chỉ đơn thuần là một phương tiện biểu đạt, một công cụ bề ngoài để chuyển tải nội dung, để phản ánh đời sống xã hội như quan điểm của G N Pospelov hay là quan niệm quá chú trọng đến mức tuyệt đối hóa bản chất thẩm mĩ, “tính văn học”, “chất văn học” của ngôn từ văn học của các nhà lý luận hình thức Nga, phê bình Mới Anh, Mỹ và chủ nghĩa cấu trúc…
Từ việc phê phán những quan niệm phiến diện trong việc nghiên cứu bản chất của ngôn
từ văn học, Trần Đình Sử đã chỉ ra con đường
hợp lí để tìm hiểu ngôn từ văn học là phải xuất phát từ sự thống nhất giữa ngôn từ và ý thức Ngôn từ văn học với tư cách là ý thức
về thực tại, nó tồn tại trong giao tiếp xã hội chứ không phải trong từ điển Và tác giả đã viện dẫn đến quan niệm của nhà nghiên cứu
M Bakhtin như là một minh chứng cho
Trang 5Nguyễn Thị Hải Phương Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 167(07): 21-24
22
hướng nghiên cứu đúng đắn này Thông qua
các công trình của mình như Bình về văn xuôi
của V.Skhlovxki (1926), Diễn ngôn sinh hoạt
và diễn ngôn nghệ thuật (1926), Phương pháp
hình thức trong Nghiên cứu văn học (1928),
Diễn ngôn tiểu thuyết (1934 - 1935), Mấy vấn
đề về thi pháp Doxtoievxki (1929 - 1963)…,
M Bakhtin đã đưa ra hướng nghiên cứu xã
hội học ngôn từ Ông kịch liệt phê phán quan
niệm coi đặc trưng văn học độc lập với ý thức
hệ, xã hội học Theo ông, mọi sáng tác về ý
thức hệ đều chỉ hình thành trong xã hội con
người: lĩnh vực thẩm mĩ cũng như lĩnh vực
pháp luật, nhận thức chỉ là biến thể của xã hội
học Lí luận văn học cũng chỉ là xã hội học
Bakhtin không đồng tình với việc nhà nghiên
cứu F.Sassure chỉ dừng lại phân biệt ngôn
ngữ và lời nói Nếu ta chỉ quan tâm đến ngôn
ngữ, đến lời nói thì ta chỉ mới quan tâm đến
nghĩa và cái biểu nghĩa, đơn vị chỉ là từ và
câu Trong giao tiếp hết câu chưa phải là hết ý
mà phải là hết một phát ngôn của chủ thể mới
là hết ý Nói là phát ngôn nhưng đằng sau
phát ngôn đó là ý kiến, đằng sau ý kiến là tư
tưởng hệ Như vậy, tìm hiểu một phát ngôn là
ta tìm hiểu ý kiến, tư tưởng hệ, tìm hiểu
quyền lực, văn hóa, chính trị… chi phối phát
ngôn đó Nếu như F.Sasurre cho rằng sau
ngôn ngữ chung của xã hội (ngôn ngữ tồn tại
trong từ điển) là đến lời nói của cá nhân thì
Bakhtin lại cho rằng lời nói của cá nhân
không chỉ phụ thuộc vào vốn ngôn ngữ chung
của xã hội mà còn phụ thuộc vào môi trường
văn hóa của từng thời kì lịch sử Chính điều
này tạo nên hình thái diễn ngôn M Bakhtin
nêu xu hướng nghiên cứu “siêu ngữ học”, tức
là lấy lời nói (diễn ngôn) làm đối tượng
nghiên cứu, hình thành khuynh hướng “diễn
ngôn” học, mở ra một hướng mới trong cách
tiếp cận ngôn từ văn học, một hướng mà ngôn
ngữ học của trường phái Sassure đã bỏ qua
Diễn ngôn học xuất hiện đã làm lu mờ cách
tiếp cận của chủ nghĩa cấu trúc ngôn ngữ học
Bên cạnh quan điểm của M Bakhtin, Trần
Đình Sử còn viện dẫn đến quan điểm của M
Foucault để làm sáng tỏ cho quan điểm về
bản chất xã hội, thẩm mỹ của ngôn từ văn
hội, thẩm mĩ của ngôn từ văn học phải đợi đến M Foucault nêu ra khái niệm discourse thì mới hiện ra rõ rệt thêm một bước” [2]
Khái niệm “discourse” (diễn ngôn) mà M Foucault dùng là để chỉ một hình thái, một kiểu lời nói do những yếu tố của đời sống xã hội, lịch sử quy định Đó là hình thức biểu hiện ngôn ngữ của một cộng đồng người trong một điều kiện xã hội, lịch sử nhất định;
nó là hình thức biểu đạt của ngôn ngữ, chịu sự chi phối của một mô hình tư duy, một kiểu giải thích, một cơ chế ràng buộc nhất định Chính hình thái ý thức xã hội, trạng thái tri thức của con người và cơ chế quyền lực trong
xã hội đã trở thành cái logic nội tại, cái cơ chế thầm kín chi phối cách sử dụng ngôn từ của con người: “Một người không phải bất cứ lúc nào, ở đâu, muốn nói cái gì thì nói” [2] Cái
mà Foucault bận tâm không chỉ là ý nghĩa nào
đó ẩn chứa trong diễn ngôn mà là những quy tắc đã chi phối việc diễn ngôn ra đời và vận hành trong đời sống Nhà nghiên cứu này đã chỉ ra mối quan hệ gữa tri thức và quyền lực trong việc kiến taọ nên diễn ngôn; tri thức hay diễn ngôn chẳng qua chỉ là những sản phẩm cũng như công cụ để thực thi quyền lực Ông cho rằng các nhóm thống trị xã hội thông qua diễn ngôn để tạo ra tri thức, tạo ra chân lí, để
áp đặt lên các nhóm bị trị những lĩnh vực tri thức đặc thù, những nguyên tắc và giá trị của mình nhằm muốn “hợp pháp hóa” quá trình trị
vì thiên hạ của mình Chính vì thế những tri thức do diễn ngôn kiến tạo nên không thể mang tính khách quan, trung tính bởi vì nó luôn là “sản phẩm của các quan hệ quyền lực” Cũng trong bài viết của mình, tác giả Trần Đình Sử đã đi vào phân tích một cách khá thuyết phục những ví dụ cụ thể trong văn học
để chứng minh cho sự chi phối của hình thái ý thức xã hội, cơ chế văn hóa đối với cách thức
sử dụng ngôn từ của con người, để khẳng định rằng, ngôn từ vừa có tác dụng nhào nặn con người vừa cầm tù con người Quan sát sự phát triển của lịch sử văn học, ta dễ dàng nhận thấy, sự vận động của văn học được thể hiện rất rõ nét, sâu sắc qua sự vận động của
Trang 6Nguyễn Thị Hải Phương Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 167(07): 21-24
23
ngôn từ, hình thái ngôn từ giai đoạn sau đã
thay thế dần hình thái ngôn từ có trước Sự
thay thế của ngôn từ chủ nghĩa lãng mạn đối
với ngôn từ chủ nghĩa cổ điển; ngôn từ chủ
nghĩa hiện thực đối với ngôn từ chủ nghĩa
lãng mạn, ngôn từ chủ nghĩa tượng trưng, siêu
thực đối với ngôn từ chủ nghĩa hiện thực… đã
minh chứng cho điều này Ở Việt Nam, ngôn
từ văn học ở mỗi giai đoạn cũng đã có sự biến
đổi do cơ chế văn hoá, xã hội, tri thức, quyền
lực thay đổi Nếu như giai đoạn 1945 - 1975,
ngôn từ văn học mang nặng tính chất sử thi,
lãng mạn, bay bổng thì giai đoạn sau 1975,
ngôn từ lại có phần nghiêng về tính chất đời
thường, thô ráp, xù xì Một đặc điểm dễ nhận
thấy là ngôn từ văn học bây giờ không còn
giàu chất thơ nữa, không còn giàu tính văn
chương nữa Có thể nói, thời kì này ngôn ngữ
đời thường đã thâm nhập vào văn học một
cách sâu sắc Việc tăng cường lớp từ thông
tục này cho thấy nỗ lực của các nhà văn trong
việc đưa văn chương đến gần với hiện thực
đời sống Họ muốn thể hiện quan điểm về sự
bình đẳng trong việc sử dụng ngôn từ Họ
muốn chứng minh văn chương không chỉ là
lãnh địa của lớp ngôn từ đặc tuyển mực
thước, sang trọng hay mĩ lệ mà còn của lớp
ngôn từ thông tục thô ráp, xù xì Tuy nhiên,
có một số trường hợp các nhà văn lại quá lạm
dụng việc sử dụng những ngôn từ thô tục nên
gây ra sự phản cảm cho người đọc
Cuối bài viết Bản chất xã hội thẩm mỹ của
diễn ngôn văn học, Trần Đình Sử còn gợi mở
một vấn đề để cho người đọc suy nghĩ đó là
bản chất xã hội, thẩm mỹ của ngôn từ nghệ
thuật đặc biệt được thể hiện ở chỗ ngôn từ
nghệ thuật là ngôn từ tạo hình cho những cái
chưa thành hình, phát ngôn cho những điều
đang ấp úng, đặt tên cho các hiện tượng chưa
có trong từ điển Chức năng của văn học
không giản đơn là phản ánh đời sống mà còn
là sáng tạo ngôn từ cho những điều chưa biết
nói, chưa được nói, chưa thể nói Nói được
những điều đáng nói là khoái cảm vô biên của
văn học Động lực kích thích sự phát triển của
ngôn từ văn học đó là làm sao nói được cái vô
thức xã hội, nhận thức được cái vô thức xã
hội, biến nó thành ý thức Đúng là ngôn từ nghệ thuật mở ra những bí mật trong đời sống “Văn bản nghệ thuật phải truyền đạt một ý nghĩ mà không một phát ngôn đồng nghĩa nào có thể thay thế được” [1, tr 163] Những đánh giá này sẽ quy định cách lựa chọn từ ngữ, điểm nhìn, giọng điệu, lựa chọn
cả nhân vật và người nghe Với Nỗi buồn
chiến tranh, Bảo Ninh đã lựa chọn một góc
nhìn riêng, một góc nhìn bị coi là “phi chính thống” khi viết về chiến tranh “Có thể nói tác giả đã lộn trái cuộc chiến tranh ra để ta nhìn vào phía trong bị che khuất, lấp một chỗ trống chưa được lấp” [3] Bảo Ninh không hề có ý định phủ nhận cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc mà chỉ thực sự muốn góp thêm một cái nhìn biện chứng hơn và cũng hợp lí
hơn về chiến tranh Tiểu thuyết Lão Khổ của
Tạ Duy Anh cũng đã đưa ra những đánh giá mới, những cách nhìn mới về đời sống Với cái nhìn thẳng thắn, với nhu cầu muốn nói thật, nhà văn đã mạnh dạn chỉ ra những mặt trái, những thiếu sót của công cuộc cải cách ruộng đất Nhà văn đã tái hiện lại không khí
tù túng ngột ngạt của những năm tháng làng quê sôi sục với những vụ đấu tố địa chủ, những vụ quy kết triền miên Trong
Chinatown, Thuận đã chỉ ra tình trạng phai nhạt
bản sắc cá nhân, nguy cơ số hoá của con người trong xã hội hiện đại Với sự hiện diện của những con số khô cứng: hai nghìn Chinatown, một tỷ người Trung Quốc, bốn mươi chín đồng nghiệp, hai trăm cụ ông, hai trăm cụ bà, hai trăm nam sinh, hai trăm nữ sinh, vài nghìn phụ nữ…, nhà văn đã cảnh báo với người đọc về nguy cơ cá tính của con người sắp sửa biến mất, sắp sửa hoà tan vào một dòng chảy vô bản sắc; cá tính sẽ tan nát trong những quy định bất thành văn Chính vì diễn ngôn văn học là bình chứa những đánh giá đời sống chưa từng được nói ra nên nó mang tính cá thể hóa cao
độ Nhà văn khi sáng tạo một diễn ngôn văn học là phải “khơi những nguồn chưa ai khơi
và sáng tạo những gì chưa ai có” (Nam Cao) Tính cá thể hoá trong diễn ngôn văn học càng
rõ rệt thì tài năng sáng tạo của tác giả càng được biểu hiện rõ
Trang 7Nguyễn Thị Hải Phương Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 167(07): 21-24
24
KẾT LUẬN
Tóm lại, bài viết Bản chất xã hội, thẩm mĩ
của diễn ngôn văn học của nhà nghiên cứu
Trần Đình Sử là một bài viết sâu sắc, hấp dẫn,
đã có một cái nhìn tương đối toàn diện về bản
chất của ngôn từ văn học Tiếp thu quan điểm
về diễn ngôn của M Foucaul và M.Bakhtin,
Trần Đình Sử đã khẳng định sự chi phối của
cơ chế văn hóa, xã hội đối với việc sử dụng
ngôn từ của con người Ông cho rằng sự vận
động của văn học thể hiện rất rõ qua sự vận
động của ngôn từ, hình thái ngôn từ giai đoạn
sau thay thế dần hình thái ngôn từ giai đoạn
trước Có thể nói, việc nghiên cứu bản chất
của ngôn từ văn học với tư cách là một diễn
ngôn thực sự là một hướng đi có nhiều triển
vọng, cho ta thấy mối quan hệ khăng khít giữa
văn học và tư tưởng; giữa văn học và văn hóa, giữa tính xã hội và tính thẩm mĩ Ngày nay, với
sự phát triển mạnh mẽ của xã hội học văn học
đã chứng minh rằng, ta khó có thể giải quyết những vấn đề của văn học chỉ thuần túy dựa trên những yếu tố nội tại của văn bản mà cần phải đặt văn học trong một bối cảnh rộng lớn hơn của những vấn đề văn hóa và xã hội
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Trần Đình Sử (Chủ biên), (2004), Tự sự học -
một số vấn đề lí luận và lịch sử, Nxb Đại học Sư
phạm, Hà Nội
2 Trần Đình Sử (2013), Bản chất xã hội, thẩm mĩ
của diễn ngôn văn học, http://trandinhsu.word press.com, truy cập ngày 20/1/2017
3 Trần Đình Sử (1991), “Thảo luận về tiểu
thuyết “Thân phận tình yêu”, Báo Văn nghệ, 37,
tr 7-10
SUMMARY
THE NATURE OF LITERARY LANGUAGE (THINKING FROM MR TRAN
DINH SU’S ARTICLE “THE SOCIAL - AESTHETIC NATURE
OF LITERARY DISCOURSE”)
Nguyen Thi Hai Phuong*
Hanoi National Univerity of Education
This article goes on to consider the concept of the nature of the literary language of Tran Dinh Su
It mainly bases on his article “The social - aesthetic nature of literary discourse” Acquiring the
concept of researchers such as M Bakhtin, M.Foucault , Tran Dinh Su reasonably points out a fact that the way to learn the language of literature is derived from the consistency between words and awareness The main forms of social consciousness, the state of human knowledge and the mechanisms of power in society have become an intrinsic logic and secret mechanisms that govern the use of human language As realizing the govern of socio -cultural mechanism on human’s language use, Mr Tran Dinh Su confirmed that the movement of literary is clearly and deeply shown on the movement of language, the later language form replaces the former one
Keywords: Concept, literary language, literary discourse, social nature, aesthetic nature, Mr
Tran Dinh Su…
Ngày nhận bài: 15/03/2017; Ngày phản biện: 08/4/2017; Ngày duyệt đăng: 28/6/2017
*
Tel: 0913599797; Email: haiphuongdhsp@yahoo.com