Nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện với mục tiêu thu nhận và đánh giá một số chỉ số sinh học của trẻ em mầm non để có thể đề ra biện pháp góp phần nâng cao hơn nữa chất[r]
Trang 1NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ SỐ SINH HỌC CỦA TRẺ EM
TRƯỜNG MẦM NON 1/5, THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN,
TỈNH THÁI NGUYÊN
Hứa Nguyệt Mai * , Tạ Mỹ Linh
Trường Đại học Khoa học – ĐH Thái Nguyên
TÓM TẮT
Nghiên cứu này được tiến hành với mục đích cung cấp dẫn liệu cho công tác nuôi dạy trẻ ở bậc
mầm non, tạo cơ sở khoa học để đề xuất các biện pháp hữu hiệu nhằm phát triển thế hệ tương lại
của đất nước một cách tốt nhất Kết quả nghiên cứu cho thấy , các chỉ số về chiều cao, cân nặng,
vòng ngực của trẻ em đều tăng dần theo tuổi (ở nam lần lượt là 96,15 cm; 102,93 cm; 111,74 cm; ở
nữ là 94,64 cm; 102,24 cm; 110,14 cm), cân nặng (ở nam lần lượt là 15,25 kg; 17,30 kg; 20,21 kg; ở
nữ là 13,99 kg; 16,30 kg; 18,68 kg), vòng ngực (ở nam lần lượt là 52,87 cm; 55,73 cm; 57,94 cm; ở
nữ là 51,13 cm; 54,15 cm; 56,06 cm) Trong từng độ tuổi, các chỉ số này của trẻ em nam lớn hơn của
trẻ em nữ Chỉ số Pignet của trẻ ở các độ tuổi đều đạt mức thể lực rất khỏe, khỏe và trung bình.
Từ khóa: chỉ số, sinh học, hình thái, thể lực, trẻ em
Trẻ em là mầm non của đất nước, là nguồn
nhân lực mới cho tương lai và cũng là hi vọng
của toàn nhân loại Vì vậy, việc chăm sóc và
bảo vệ trẻ em đã trở thành nhiệm vụ của toàn
xã hội Để đáp ứng được nguồn nhân lực có
sức khỏe và trình độ khoa học kỹ thuật cho sự
phát triển đất nước, việc nâng cao tầm vóc và
thể lực của người Việt Nam đang là mối quan
tâm hàng đầu của Nhà nước Tuy nhiên, các
chỉ số sinh học của trẻ em không phải là hằng
số mà có thể thay đổi phụ thuộc vào đối
tượng nghiên cứu, chế độ dinh dưỡng, tình
hình phát triển của xã hội, chất lượng dinh
dưỡng [1] Do đó, cần phải triển khai nghiên
cứu một cách liên tục, rộng rãi Nghiên cứu của
chúng tôi được thực hiện với mục tiêu thu nhận
và đánh giá một số chỉ số sinh học của trẻ em
mầm non để có thể đề ra biện pháp góp phần
nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục và chăm
sóc sức khỏe cho trẻ em ở tại địa bàn
ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Trẻ em mẫu giáo từ
3-5 tuổi của trường Mầm non 1/5 (thuộc
phường Hương Sơn) thành phố Thái Nguyên
Trẻ tham gia nghiên cứu ở tình trạng khỏe
* Tel: 01627 380666, Email: nguyetmaimai@gmail.com
mạnh, không có dị tật về hình thể hoặc các bệnh mãn tính Tổng số trẻ tham gia nghiên cứu là 300 trẻ, trong đó có 161 nam và 139 nữ
Nội dung nghiên cứu:
- Tiến hành đo chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực của trẻ em lớp mẫu giáo từ 3 – 5 tuổi
- Từ kết quả chiều cao đứng, cân nặng và vòng ngực tính được chỉ số Pignet của từng trẻ
- Phân tích, so sánh các chỉ số thu được giữa các lứa tuổi khác nhau và giữa giới tính nam
và nữ
Phương pháp nghiên cứu:
-Xác định chiều cao đứng: Đối tượng đo đứng thẳng trên nền phẳng, hai gót chân sát vào nhau, mắt nhìn thẳng đồng thời đảm bảo 4 điểm chẩm, lưng, mông, gót chạm vào thước
- Xác định cân nặng: Cân được đặt trên nền mặt phẳng ngang, nền cứng, các đối tượng đo mặc quần áo mỏng, không đi giày dép, đứng thẳng sao cho trọng tâm rơi vào điểm giữa cân
- Xác định vòng ngực trung bình: Đối tượng
đo đứng ở tư thế thẳng, vòng thước dây quấn quanh ngực, phía sau vuông góc với cột sống sát dưới xương bả vai, phía trước qua mũi ức sao cho mặt phẳng do thước dây tạo ra song song với mặt đất Tiến hành đo lúc hít vào hết sức và thở ra hết sức Vòng ngực trung bình
là trung bình cộng của số đo vòng ngực lúc hít vào hết sức và thở ra hết sức
Trang 2- Chỉ số Pignet: Là chỉ số đánh giá mối tương
quan giữa chiều cao với cân nặng và chu vi
ngực được dùng để đánh giá thể lực của con
người, đánh giá mức độ khỏe hay yếu của một
người [2], [5], [6].Tính theo công thức:
Pi= h – (P + v)
Trong đó: Pi: chỉ số Pignet; h: chiều cao (cm);
v: vòng ngực (cm); P: cân nặng (kg)
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Nghiên cứu chỉ số hình thái của trẻ em từ 3 – 5 tuổi tại trường Mầm non 1/5
Kết quả chiều cao đứng của trẻ em theo tuổi
và giới tính được trình bày ở bảng1
Bảng 1 Chiều cao đứng của trẻ em theo tuổi và giới tính
Chiều cao (cm)
n
Chiều cao (cm)
1 - 2
n: số trẻ em; : chiều cao trung bình của trẻ; SD: độ lệch chuẩn; 1 - 2: Mức độ khác nhau về chiều cao
của trẻ em theo giới tính;
Hình 1 Biểu đồ thể hiện chiều cao đứng của trẻ em
theo tuổi và giới tính
Hình 2 Biểu đồ thể hiện cân nặng của trẻ em theo
tuổi và giới tính
Qua bảng 1 và hình 1 chúng tôi có những nhận xét:
Chiều cao đứng của trẻ em tăng dần theo tuổi Tốc độ tăng chiều cao của trẻ em nam lớn hơn so với trẻ em nữ (7,31 cm/năm so với 7,25 cm/năm)
Trong cùng một độ tuổi, nhìn từ góc độ chiều cao trung bình, chiều cao của nam luôn cao hơn nữ là do sự cao thấp của một con người chủ yếu được quyết định bởi sự dài ngắn của xương chi dưới [1]
Bảng 2 Cân nặng của trẻ em theo tuổi và giới tính
Cân nặng (kg)
n
Cân nặng (kg)
1 - 2
n: số trẻ em; : cân nặng trung bình của trẻ; SD: độ lệch chuẩn; 1 - 2: Mức độ khác nhau về cân nặng
của trẻ em theo giới tính;
Trang 3So với số liệu về chiều cao của trẻ em trong
những công trình nghiên cứu của các tác giả
khác như Nguyễn Thị Hương Thảo (2015)
[3], Nguyễn Tấn Gi Trọng (1975) [4] thì
chiều cao của trẻ em nam và nữ trong nghiên
cứu của chúng tôi đều lớn hơn Sự khác nhau
này có thể giải thích bởi thời điểm nghiên cứu
khác nhau, đối tượng nghiên cứu thuộc các
địa bàn khác nhau
Kết quả cân nặng của trẻ em theo tuổi và giới
tính được trình bày ở bảng 2
Qua bảng 2 và hình 2 chúng tôi có những
nhận xét:
Cân nặng của trẻ em tăng dần theo tuổi, tốc
độ tăng cân nặng của trẻ em nam lớn hơn so
với trẻ em nữ (2,48 kg/năm so với 2,20
kg/năm)
Trong cùng một độ tuổi, cân nặng của trẻ nam
luôn cao hơn trẻ nữ là vì xương của trẻ em
nam phát triển hơn trẻ em nữ [1]
So với số liệu về cân nặng của trẻ em trong
những công trình nghiên cứu của các tác giả
khác như Nguyễn Thị Hương Thảo (2015)
[3], Nguyễn Tấn Gi Trọng (1975) [4] thì cân
nặng cơ thể của trẻ em trong nghiên cứu của
chúng tôi lớn hơn Sự khác biệt này có thể
được giải thích bằng sự cải thiện điều kiện kinh
tế - xã hội ở nước ta trong thời gian gần đây
Điều kiện sống đặc biệt là chế độ dinh dưỡng
tốt hơn và kiến thức chăm sóc bà mẹ trẻ em của
người dân cũng dần được nâng cao đã có tác dụng tốt
Kết quả vòng ngực trung bình của trẻ em theo tuổi và giới tính được trình bày ở bảng 3
52.87
55.73
57.94
51.13
54.15
56.06
45 50 55 60
Tuổi
Vòng ngực trung bình (cm)
Nam Nữ
Hình 3 Biểu đồ thể hiện vòng ngực trung bình
của trẻ em theo tuổi và giới tính
Qua bảng 3 và hình 3 chúng tôi có những nhận xét:
Vòng ngực trung bình của trẻ em tăng dần theo lứa tuổi, tốc độ tăng vòng ngực trung bình của trẻ em nam lớn hơn so với nữ (2,54 cm/năm so với 2,47 cm/năm)
So với số liệu về vòng ngực trung bình của trẻ
em trong những công trình nghiên cứu của các tác giả khác như Nguyễn Thị Hương Thảo (2015) [3], Nguyễn Tấn Gi Trọng (1975) [4] thì vòng ngực trung bình của trẻ em trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn Sự khác nhau này có thể giải thích bởi sự khác nhau về đối tượng nghiên cứu, địa bàn nghiên cứu,…
Bảng 3 Vòng ngực trung bình của trẻ em theo tuổi và giới tính
1 - 2
n: số trẻ em; : vòng ngực trung bình của trẻ; SD: độ lệch chuẩn; 1 - 2: Mức độ khác nhau về vòng ngực trung bình của trẻ em theo giới tính
Nghiên cứu chỉ số thể lực của trẻ em từ 3– 5 tuổi tại trường Mầm non 1/5
Kết quả chỉ số Pignet của trẻ em theo tuổi và giới tính được trình bày ở bảng 4
Qua bảng 4 và hình 4 chúng tôi có những nhận xét:
Trang 4Chỉ số Pignet của trẻ em tăng dần theo tuổi Tốc độ tăng chỉ số Pignet của trẻ nam thấp hơn so với trẻ em nữ (2,78/năm so với 2,94/năm)
Bảng 4 Chỉ số Pignet của trẻ em theo tuổi và giới tính
1 - 2
n: số trẻ em; : chỉ số Pignet trung bình của trẻ; SD: độ lệch chuẩn; 1 - 2: Mức độ khác nhau về chỉ sốPignet của trẻ em theo giới tính; p: ý nghĩa thống kê
28.03 29.90
33.59 29.52 31.79
35.40
0
10
20
30
40
Chỉ số Pignet
Nam Nữ
Hình 4 Biểu đồ thể hiện chỉ số Pignet của trẻ em
theo tuổi và giới tính
So sánh với bảng đánh giá của tác giả Nguyễn
Quang Quyền [2] thì chỉ số Pignet trong
nghiên cứu của chúng tôi đạt mức rất khỏe
(23,0 – 28,9), khỏe (29,0 – 34,9) và trung
bình (35,0 – 41,0)
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận:
- Các chỉ số về chiều cao, cân nặng, vòng
ngực của trẻ em từ 3 – 5 tuổi của trường Mầm
non 1/5 thành phố Thái Nguyên tỉnh Thái
Nguyên đều tăng dần theo tuổi Trong từng
độ tuổi, các chỉ số này của trẻ em nam luôn
lớn hơn của trẻ em nữ
- Chỉ số Pignet của trẻ em ở các độ tuổi đều
có thể lực rất khỏe, khỏe và trung bình
Kiến nghị:
Tiến hành nghiên cứu các chỉ số thể lực thường xuyên với thời gian định kỳ nhất định Đẩy mạnh các biện pháp tuyên truyền về dinh dưỡng cho các bữa ăn trong gia đình cũng như ở trường mầm non, giáo dục sức khỏe và dinh dưỡng cho các bậc phụ huynh và giáo viên mầm non, thường xuyên cho trẻ đi khám sức khỏe định kỳ để có thể phòng và điều trị các bệnh thường gặp
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Tạ Thuý Lan, Trần Thị Loan (2013), Giáo trình sự phát triển thể chất trẻ em lứa tuổi mầm non, Nxb Giáo dục, HàNội
2 Nguyễn Quang Quyền (1974), Nhân trắc học
và ứng dụng nghiên cứu trên người Việt Nam, Nxb
Y học, Hà Nội
3 Nguyễn Thị Hương Thảo (2015), Nghiên cứu một số chỉ số sinh học của trẻ em Mầm non ở huyện Sóc Sơn, Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Sinh học,
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
4 Nguyễn Tấn Gi Trọng (1975), Hằng số sinh học người Việt Nam, Nxb Y học, Hà Nội
5 WHO (1992), Health environment, an development, the meaning of health, Health and the environment, health and development, Our planet, our health, report of the WHO commission on health and environment, WHO, Geneva, pp.1 –9
6.WHO (2006), WHO Child Grow Standard,
Geneva, pp.14–7
Trang 5SUMMARY
RESEARCH OF SOME INDICATORS OF CHILDREN
IN NURSERY SCHOOL 1/5, THAI NGUYEN CITY, THAI NGUYEN PROVINCE
Hua Nguyet Mai * , Ta My Linh
University of Sciences - TNU
This research will provide data for early childhood education and also provide a scientific basis for proposing effective measures to develop the next generation of the country in the best possible way The results show that from 3 to 5 years of age, the height index (boys in turn are 96.15 cm; 102.93 cm; 111.74 cm; girls in turn are 94.64 cm; 102.24 cm; 110.14 cm) Weight (boys in turn are 15.25 kg; 17.30 kg; 20.21 kg; girls in turn are 13.99 kg; 16.30 kg; 18.68 kg), round chest (boys
in turn are 52.87 cm; 55.73 cm; 57.94 cm; girls in turn are 51.13 cm; 54.15 cm; 56.06 cm) respectively of children increase with age In each age, these indicators of male children are always greater than that of female children The Pignet index of children at all age groups was very healthy, healthy and moderate
Keywords: index, biology, morphology, fitness, children
Ngày nhận bài:06/6/2017; Ngày phản biện:15/6/2017; Ngày duyệt đăng: 31/7/2017
* Tel: 01627 380666, Email: nguyetmaimai@gmail.com