Tại thời điểm điều tra (T9/2016) 65 cơ sở giết mổ trên địa bàn thành phố Lạng Sơn chưa đảm bảo yêu cầu về địa điểm xây dựng theo quy định, còn tồn tại xen kẽ trong khu dân cư, tận dụng[r]
Trang 1THỰC TRẠNG GIẾT MỔ VÀ KIỂM SOÁT GIẾT MỔ LỢN
TẠI THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
La Văn Công 1
, Phan Thị Hồng Phúc 1* , Nguyễn Trường Nam 2
1 Trường Đại học Nông Lâm - ĐH Thái Nguyên;
TÓM TẮT
Điều tra thực trạng giết mổ và kiểm soát giết mổ lợn tại thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, kết quả cho thấy: Trên địa bàn thành phố Lạng Sơn có 65 cơ sở giết mổ, các cơ sở đều do tư nhân sở hữu Không đảm bảo yêu cầu theo quy định Tổng số cơ sở được đánh giá xếp loại là 48 cơ sở, trong đó, không có cơ sở xếp loại A, 39 cơ sở xếp loại B chiếm 81,25% và 9 cơ sở xếp loại C, chiếm 18,75% Tất cả các cơ sở giết mổ trên bệ, sàn nhỏ hơn 60 cm Có 29 cơ sở có thùng kín vận chuyển, 36 cơ sở sử dụng phương tiện khác vận chuyển Trên địa bàn thành phố có 97/124 quầy bán thịt lợn được kiểm soát Có 25/65 cơ sở được kiểm soát giết mổ Có 57 cơ sở công suất giết mổ dưới 5 con/ngày, chiếm tỷ lệ 87,69% Số lượng giết mổ trung bình 45.090 con/năm 100% cơ sở giết mổ có thiết kế xây dựng đơn giản Nguồn nước sử dụng trong giết mổ chưa được đánh giá hàng năm Có 49 cơ sở thực hiện không thường xuyên công tác vệ sinh tiêu độc 65 cơ sở có hầm chứa, hố sinh học để xử lý nước thải, các chất thải rắn đều được thu gom chuyển đi xử lý, các hầm chứa, hố sinh học xử lý nước thải còn mang tính hình thức đối phó, quá tải Nước sử
dụng tại cơ sở giết mổ không đạt tiêu chuẩn về Coliforms tổng số và Coliforms chịu nhiệt theo
quy chuẩn Việt Nam
Từ khóa: Lợn, kiểm soát, giết mổ, cơ sở, Lạng Sơn.
ĐẶT VẤN ĐỀ*
Thành phố Lạng Sơn là trung tâm văn hóa,
chính trị của tỉnh Lạng Sơn Với mật độ dân
số đông, có diện tích khoảng 78,11 km2
chiếm 0,94% diện tích toàn tỉnh, dân số khoảng
92.359 người Do đời sống nhân dân ngày
càng được nâng cao, nên nhu cầu tiêu thụ các
sản phẩm từ thịt, trứng, sữa, vào các bữa ăn
hàng ngày, các dịp lễ tết cũng ngày càng tăng,
đặc biệt mức tiêu thụ thịt lợn là rất lớn Tuy
nhiên, việc giết mổ và bán thịt mới chỉ dừng
lại ở quy mô tư nhân, chưa có cơ sở giết mổ
tập trung, phương tiện vận chuyển, bán thịt
chưa đạt tiêu chuẩn vệ sinh thú y Do đó công
tác quản lý giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y
còn gặp rất nhiều khó khăn, và hiệu quả
không cao, chủ yếu chỉ dừng lại ở mức độ
cảm quan để kiểm tra thịt được bày bán tại
các chợ dẫn đến tình trạng ngộ độc thực
phẩm Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu thực trạng giết mổ và kiểm
soát giết mổ lợn tại thành phố Lạng Sơn,
*
nhằm nâng cao công tác kiểm tra vệ sinh và kiểm soát giết mổ, tiến tới đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, góp phần bảo vệ sức khỏe cho người tiêu dùng
VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Vật liệu
Mẫu phiếu đánh giá thực trạng, phân loại cơ
sở giết mổ gia súc theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Mẫu nước sử dụng tại các cơ sở giết mổ, hóa chất
và các dụng cụ thí nghiệm khác
Nội dung nghiên cứu
Tình hình kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y, vệ sinh môi trường nơi giết mổ và buôn bán thịt lợn Đánh giá thực trạng giết mổ, phân phối, bán thịt lợn trên địa bàn thành phố
Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn Khảo sát Coliforms
trong nước sử dụng tại một số cơ sở giết mổ
Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phiếu điều tra Đánh giá bằng phương pháp điều tra, phỏng vấn trực tiếp các chủ cơ sở, chủ kinh doanh tại thành phố Lạng
Trang 2Sơn Xác định tổng số Coliforms và
Coliforms chịu nhiệt trong nước bằng phương
pháp nhiều ống, tại Trung tâm Chẩn đoán Thú
y trung ương Xếp loại cơ sở giết mổ theo
Thông tư 45/2014/TT-BNNPTNT [6] Quy
định điều kiện vệ sinh thú y đối với cơ sở giết
mổ lợn, nước dùng cho hoạt động giết mổ theo Thông tư 60/2010/TT-BNNPTNT ngày 25/10/2010 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn [7], QCVN 01: 2009/BYT [5] KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Loại hình, địa điểm xây dựng các cơ sở giết mổ lợn trên địa bàn thành phố Lạng Sơn
Bảng 1 Loại hình, địa điểm xây dựng các cơ sở giết mổ lợn
STT Địa điểm
(phường, xã)
Loại CSGM Hình thức sở hữu Địa điểm xây dựng Điểm
GM
Lò mổ tập trung
Tư nhân
Nhà nước
Cách khu dân
cư (m) Cách đường giao thông (m)
≤ 50 > 50 ≤ 500 > 500
Qua khảo sát thực tế tại 05 phường và 03 xã trên địa bàn thành phố Lạng Sơn cho thấy, trên địa bàn thành phố có 65 cơ sở giết mổ, tất cả các cơ sở giết mổ đều là các điểm giết mổ của tư nhân, nằm phân tán xen kẽ trong khu dân cư, địa điểm xây dựng đều cách khu dân cư sinh sống dưới 50 mét Các cơ sở giết mổ đều tận dụng một phần nhà ở, đất ở để giết mổ Các cở sở giết mổ nằm rải rác trên địa bàn thành phố Lạng Sơn Tại thời điểm điều tra (T9/2016) 65 cơ sở giết mổ trên địa bàn thành phố Lạng Sơn chưa đảm bảo yêu cầu về địa điểm xây dựng theo quy định, còn tồn tại xen kẽ trong khu dân cư, tận dụng một phần nhà ở, đất ở để thực hiện giết mổ, có 53 cơ sở giết
mổ gần các trục đường giao thông chính Giết mổ phát triển một cách tự phát, chưa có sự quy hoạch, thiếu sự đầu tư đúng mức, giết mổ mang tính manh mún, nhỏ lẻ và phân tán Vì vậy gây khó khăn trong công tác quản lý cũng như công tác kiểm tra, kiểm soát giết mổ của các ngành chức năng Trên địa bàn thành phố Lạng Sơn chưa có lò mổ tập trung, toàn bộ các cơ sở giết mổ theo phương thức thủ công
Xếp loại cơ sở giết mổ theo Thông tư 45/2014/TT-BNNPTNT
Bảng 2 Xếp loại cơ sở giết mổ theo Thông tư 45/2014/TT-BNNPTNT
STT Địa điểm
(phường, xã) Tổng số CSGM
Tổng số cơ
sở được xếp loại
Xếp loại cơ sở
A Tỷ lệ
Tỷ lệ
Tỷ lệ
(%)
Trang 3Bảng 2 cho thấy, trên địa thành phố Lạng Sơn
có 65 cơ sở giết mổ, cơ sở được đánh giá xếp
loại là 48, trong 48 cơ sở không có cơ sở nào
xếp loại A, có 39 cơ sở xếp loại B, chiếm tỷ lệ
81,25%, có 9 cơ sở xếp loại C, chiếm tỷ lệ
18,75% Các cơ sở xếp loại B chủ cơ sở mắc
các lỗi nhẹ, sai lệch so với quy chuẩn kỹ
thuật, có thể ảnh hưởng đến an toàn thực
phẩm hoặc gây trở ngại cho việc kiểm soát an
toàn thực phẩm, 09 cơ sở xếp loại C, chủ yếu
mắc các lỗi nặng, sai lệch vơi quy chuẩn kỹ
thuật, nếu kéo dài sẽ gây mất an toàn thực
phẩm Qua đánh giá phân loại 48 cơ sở giết
mổ trên địa bàn thành phố Lạng Sơn theo
Thông tư 45/2014/TT-BNNPTNT, ngày
03/12/2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn [6] cho thấy, các cơ sở giết mổ đều
không đảm bảo yêu cầu theo quy định, cần
phải được khắc phục ngay để hạn chế ô nhiễm
thực phẩm, đảm bảo an toàn cho người sản
xuất và tiêu dùng, đặc biệt là các cơ sở được
xếp loại C Các cơ sở cố tình không chấp hành
thì đề nghị thu hồi giấy phép kinh doanh và
không cho sản xuất khi chưa khắc phục đảm
bảo điều kiện theo quy định của Nhà nước
Điều kiện xây dựng và trang thiết bị của
các cơ sở giết mổ
Bảng 3 cho thấy, trong số 65 cơ sở giết mổ
được điều tra có 04 cơ sở giết mổ có diện tích
nhỏ hơn 20 m2
, 48 cơ sở có diện tích từ 20 m2
đến 50 m2, có 13 cơ sở có diện tích trên 50
m2 Hầu hết các cơ sở có diện tích nhỏ hẹp,
không đảm bảo đủ không gian cho quá trình
thực hiện giết mổ, các công đoạn trong quá
trình giết mổ không có khoảng cách an toàn,
chồng chéo lên nhau, đây là yếu tố gây tình trạng ô nhiễm và ô nhiễm chéo cho sản phẩm Qua điều tra thực tế 65 cơ sở giết mổ trên địa bàn thành phố Lạng Sơn không chia thành các khu vực riêng biệt 65 cơ sở giết mổ trên bệ, sàn với chiều cao nhỏ hơn 60 cm Các cơ sở giết mổ gia súc tư nhân phát triển tự do, dẫn đến công tác quản lý của Nhà nước còn gặp khó khăn Không có cơ sở nào có xe chuyên dụng để vận chuyển sản phẩm sau giết mổ, có
29 cơ sở giết mổ sử dụng phương tiện thùng kín để vận chuyển sản phẩm sau giết mổ, các phương tiện này chủ yếu là xe máy có đóng thùng tôn kín để vận chuyển sản phẩm, một
số sử dụng ô tô bán tải nhỏ, 36 cơ sở sử dụng phương tiện vận chuyển sản phẩm sau giết
mổ bằng các phương tiện khác thô sơ, không
có thùng kín như xe máy, xe đẩy bốn bánh
Tình hình kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y trên địa bàn thành phố Lạng Sơn
Kết quả tại bảng 4 cho thấy: Công tác kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y trên địa bàn thành phố Lạng Sơn đã được thực hiện, với tỷ lệ kiểm soát tại cơ sở giết mổ là 38,46% Do trên địa bàn chưa có cơ sở giết
mổ tập trung, giết mổ nhỏ lẻ tồn tại xen kẽ trong khu dân cư, cộng với lực lượng thú y còn mỏng, nên việc kiểm tra nguồn gốc xuất
xứ còn gặp nhiều khó khăn Có 78,23% quầy bán thịt lợn được kiểm soát, còn lại một số quầy nhỏ lẻ ở các ngõ, và các địa bàn thôn xã
xa chưa được kiểm soát Việc kiểm soát các
cơ sở giết mổ và các quầy bán thịt lợn mới chỉ dừng lại bằng hình thức kiểm tra cảm quan và lăn dấu trên thân thịt
Bảng 3 Điều kiện xây dựng và trang thiết bị của các cơ sở được điều tra trên địa bàn thành phố Lạng Sơn
Địa điểm
(phường, xã)
Diện tích mặt bằng (m 2 ) Điều kiện CSGM Phương tiện vận chuyển
<20 20-50 >50
Phân thành khu riêng
GM trên
bệ, sàn
≤60 cm
GM trên
bệ, sàn >60
cm
Chuyên dụng
Có thùng kín Khác
Trang 4Bảng 4 Tình hình kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y trên địa bàn thành phố Lạng Sơn
STT Địa điểm
(phường, xã)
Cơ sở giết mổ lợn Quầy bán thịt lợn Tổng
số soát được Số kiểm
Tỷ lệ
(%)
Tổng
số soát được Số kiểm Tỷ lệ (%)
Như vậy, một số lượng thịt rất lớn chưa qua kiểm soát vẫn được tự do lưu thông trên thị trường, người tiêu dùng không biết sản phẩm có đảm bảo an toàn vệ sinh hay không Đây là điều hết sức
lo ngại, vì từ khi giết mổ qua quá trình vận chuyển đến nơi tiêu thụ dễ phát sinh mầm bệnh
Thiết kế xây dựng và công suất giết mổ của các cơ sở giết mổ lợn
Bảng 5 Thiết kế xây dựng và công suất giết mổ của các cơ sở giết mổ lợn
STT Địa điểm
phường, xã)
Tổng
số CSGM
Thiết kế xây dựng Công suất giết mổ
(con/ngày) Số lượng GM
trong năm (con)
Đúng quy cách
Đơn giản chờ GM Có nơi <5 5-10 >10
Bảng 5 cho thấy, 65 cơ sở giết mổ đều có
thiết kế đơn giản, không chia thành các khu
vực riêng biệt, các cơ sở giết mổ xây dựng
đơn giản, mang tính tạm bợ, nhiều cơ sở cải
tạo một phần nhà ở, đất ở làm nơi giết mổ
Không tuân thủ các quy định về điều kiện vệ
sinh thú y đối với điểm giết mổ, khả năng
thoát nước đa số không đạt yêu cầu, nền sàn
không được láng phẳng, còn có vũng nước
đọng, tường xung quanh nơi giết mổ không
được ốp lát mà chỉ trát bằng vôi vữa thông
thường, có những cơ sở giết mổ có cải tạo
nhưng vẫn sử dụng tường, trần cũ, nên công
tác làm vệ sinh gặp nhiều khó khăn và là điều
kiện thuận lợi cho hệ vi sinh vật lưu trú gây ô nhiễm cho sản phẩm
Theo Lý Thị Liên Khai (2014) [3] lợn được giết mổ thủ công khi mà tất cả các công đoạn giết mổ đều thực hiện trên nền sàn kém vệ sinh, đặc biệt là việc làm lòng và pha lóc thịt được thực hiện trong cùng khu vực sẽ làm cho các thân thịt luôn bị vấy nhiễm vi khuẩn
từ phân và các chất chứa khác
Trong 65 cơ sở giết mổ, chủ yếu có công suất giết mổ dưới 05 con/ngày, cụ thể: 57 cơ sở có công suất dưới 5 con/ngày; 06 cơ sở có công suất 05 - 10 con trên ngày; 02 cơ sở có công suất trên 10 con/ngày
Trang 5Thực trạng vệ sinh thú y ở các cơ sở giết mổ lợn trên địa bàn thành phố Lạng Sơn
Bảng 6 Thực trạng vệ sinh thú y ở các sơ sở giết mổ lợn
Stt Địa điểm
(phường, xã)
Tổng
số CS
GM
Nguồn nước
sử dụng Xử lý chất thải Vệ sinh tiêu độc Nước
máy
Giếng khoan, giếng khơi
Tự
do
Hầm chứa, hố sinh học
Bể chứa, Ủ sinh học
Thu gom chuyển
đi xử lý
Thường xuyên
Không thường xuyên
Bảng 7 Kết quả khảo sát Coliforms trong nước sử dụng tại một số cơ sở giết mổ
Stt Chỉ tiêu
CSGM
Coliforms tổng số Coliforms chịu nhiệt
Số mẫu nghiên
cứu (n)
Mức độ đạt tiêu chuẩn
Số mẫu nghiên
cứu (n)
Mức độ đạt tiêu chuẩn
Số mẫu
(n)
Tỉ lệ
(%)
Số mẫu
(n)
Tỉ lệ
(%)
TCVS: Theo QCVN 01:2009/BYT [5]
Nước sử dụng trong giết mổ là một trong
những yếu tố quan trong ảnh hưởng lớn đến
chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm của thịt
Qua điều tra cho chúng tôi thấy có 32/65 cơ
sở giết mổ sử dụng nước máy và 33/65 cơ cở
giết mổ sử dụng nước giếng khoan, giếng
khơi Trong 65 cơ sở có 32 cơ sở sử dụng
nước máy, chiếm tỷ lệ 49,23% Đây là nguồn
nước đã qua xử lý và đảm bảo vệ sinh cho
giết mổ; 33 cơ sở sử dụng nước giếng khoan,
giếng khơi chiếm tỷ lệ 50,77%, nguồn nước
này chưa qua xử lý, vì thế việc thịt bị ô
nhiễm, không đảm bảo vệ sinh an toàn thực
phẩm là không thể tránh khỏi Các điểm giết
mổ trên địa bàn thành phố Lạng Sơn nằm rải
rác trong khu dân cư, công tác kiểm soát của
cơ quan thú y gặp nhiều khó khăn Hầu hết
các cơ sở giết mổ không quan tâm đến vệ sinh
tiêu độc Theo Phan Thị Hồng Phúc và cs
(2016) [4], vi sinh vật lưu cữu trong môi trường lò mổ sẽ là yếu tố liên quan đến việc nhiễm khuẩn vào thịt, tình trạng này kéo dài
sẽ gây ô nhiễm ra môi trường xung quanh Tất cả các cơ sở có hầm chứa, hố sinh học, một số cơ sở làm hầm chứa, hố sinh học còn chưa đảm bảo, mang tính hình thức đối phó, hầm bị quá tải, nắp hầm hở, hầm chỉ có 1 ngăn 100% cơ sở thu gom chất thải rắn chuyển đi xử lý
Khảo sát Coliforms trong nước sử dụng tại
một số cơ sở giết mổ
Bảng 7 cho thấy, 30/30 mẫu nước sử dụng tại
cơ sở giết mổ không đạt tiêu chuẩn về
Coliforms tổng số và Coliforms chịu nhiệt
theo quy chuẩn Việt Nam đã quy định Trong quá trình khảo sát chúng tôi thấy, số mẫu nước sử dụng cho cơ sở giết mổ không đảm bảo do một số nguyên nhân như: Các cơ sở
Trang 6không dùng vòi xả trực tiếp từ nguồn nước
máy của công ty nước cung cấp, hoặc không
dùng vòi nước bơm trực tiếp từ giếng để phục
vụ giết mổ, mà dùng nước được chứa vào
trong các bể không có nắp đậy và không được
làm vệ sinh thường xuyên Đồng thời các bể
chứa nước này người giết mổ thường rửa tay,
tay đang giết mổ không được vệ sinh lại cầm
gáo hay xô, chậu để múc vào bể nước sau đó
lại đặt xuống sàn nhà Từ một số nguyên nhân
đó làm cho nguồn nước bị nhiễm bẩn Cầm
Ngọc Hoàng và cs (2014) [2] đã kiểm tra 41
mẫu nước, có 8 mẫu đạt tiêu chuẩn cho phép,
chiếm tỷ lệ 19,51% Theo Trương Thị Kim
Châu (2003) [1] đối với nguồn nước trực tiếp
có 16/17 mẫu, chiếm tỷ lệ 94,12% đạt yêu cầu
Coliforms tổng số; nước lấy từ bể chứa có
3/15 mẫu, chiếm 20% đạt yêu cầu Coliforms
chịu nhiệt trong nguồn nước trực tiếp đạt
16/17 mẫu chiếm tỷ lệ 94,12%, nước trong bể
chứa không có mẫu nào đạt yêu cầu qua kết
quả khảo sát của chúng tôi và kết quả nghiên
cứu của các tác giả trên
KẾT LUẬN
- Trên địa bàn thành phố Lạng Sơn có 65 cơ
sở giết mổ, các cơ sở đều do tư nhân sở hữu
Không đảm bảo yêu cầu theo quy định
- Tổng số cơ sở được đánh giá xếp loại là 48
cơ sở, trong đó, không có cơ sở xếp loại A, 39
cơ sở xếp loại B chiếm 81,25% và 9 cơ sở
xếp loại C, chiếm 18,75%
- Điều kiện xây dựng và trang thiết bị của 65
cơ sở giết mổ: có 4 cơ sở có diện tích nhỏ hơn
20 m2, 48 cơ sở có diện tích 20 m2
đến 50 m2,
13 cơ sở trên 50 m2 100% cơ sở giết mổ trên
bệ, sàn nhỏ hơn 60 cm Có 29 cơ sở có thùng
kín vận chuyển, 36 cơ sở sử dụng phương tiện
khác vận chuyển
- Trên địa bàn thành phố có 124 quầy bán thịt
lợn, có 97 quầy được kiểm soát, chiếm tỷ lệ
78,23% Có 25/65 cơ sở được kiểm soát giết
mổ, chiếm tỷ lệ 38,46%
- Có 57 cơ sở công suất giết mổ dưới 5 con/ngày, chiếm tỷ lệ 87,69% Số lượng giết
mổ trung bình 45.090 con/năm 100% cơ sở giết mổ có thiết kế xây dựng đơn giản
- Nguồn nước sử dụng trong giết mổ là nước máy, giếng khoan, giếng khơi và chưa được đánh giá nguồn nước hàng năm Có 49 cơ sở thực hiện không thường xuyên công tác vệ sinh tiêu độc 65 cơ sở có hầm chứa, hố sinh học để xử lý nước thải, các chất thải rắn đều được thu gom chuyển đi xử lý, các hầm chứa,
hố sinh học xử lý nước thải còn mang tính hình thức đối phó, quá tải
- Nước sử dụng tại cơ sở giết mổ không đạt
tiêu chuẩn về Coliforms tổng số và Coliforms
chịu nhiệt theo quy chuẩn Việt Nam
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Trương Thị Kim Châu (2003), Khảo sát tình hình vấy nhiễm vi khuẩn trong không khí, nước, dụng cụ, nền sàn và bề mặt quầy thịt tại một số cơ sở giết mổ
ở thành phố Hồ Chí Minh và biện pháp cải thiện,
Luận văn thạc sĩ khoa học Nông nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh
2 Cầm Ngọc Hoàng, Nguyễn Thị Thanh Thủy, Nguyễn Bá Tiếp (2014), “Đánh giá thực trạng giết
mổ và ô nhiễm vi khuẩn trong thịt lợn tại các cơ sở
giết mổ thuộc tỉnh Nam Định”, Tạp chí Khoa học và Phát triển, 12 (4), tr 549 - 557
3 Lý Thị Liên Khai (2014), ”Khảo sát chất lượng thịt heo về vấy nhiễm vi sinh vật tại hai cơ sở giết
mổ gia súc ở thành phố Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp
và thành phố Cần Thơ”, Tạp chí khoa học trường Đại học Cần Thơ, số chuyên đề Nông nghiệp, tr
53-62
4 Phan Thị Hồng Phúc, Phạm Đức Phúc, Nguyễn Hồng Quân (2016), “Thực trạng giết mổ, kiểm soát
giết mổ và sự ô nhiễm vi khuẩn Salmonella và E coli trên thịt lợn tại thành phố Thái Nguyên”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, XXIII (2), tr 40 - 45
5 QCVN 01: 2009/BYT, Quy chuẩn Quốc gia về chất lượng nước ăn, uống
6 Thông tư 45/2014/TT-BNNPTNT, ngày 03/12/2014,
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
7 Thông tư 60/2010/TT-BNNPTNT ngày 25/10/2010, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 7SUMMARY
CURRENT STATUS AND MANAGEMENT OF PIG SLAUGHTERING
AT LANG SON CITY, LANG SON PROVINCE
La Van Cong 1 , Phan Thi Hong Phuc 1* , Nguyen Truong Nam 2
1
University of Agriculture and Forestry - TNU,
2
Sub-Department of Animal Husbandry and Veterinary Medicine, Lang Son Province
Surveying on pig slaughtering and slaughterhouse control at Lang Son city, Lang Son province, the results showed that: there were totally 65 slaughterhouses at Lang Son city of which were owned by private individuals All slaughterhouses did not have guaranteed requirements The total number of slaughterhouses were rated 48 slaughterhouses, in these, there were no slaughterhouses clasified A, 39 units were clasified B and occupied 81.25% and 9 units were C accounted for 18.75% All slaughterhouses facilities have the pedestal and floor are less than 60cm There were 29 units have closed containers for transportation, 36 slaughterhouses used by other transportation In city area, there have 97/124 pork kiosks under control; 25/ 65 units were slaughtered control There were 57 slaughterhouses with less than 5 pigs per day, occupied 87.69% The average number of slaughterhouses was in total 45,090 pigs per year 100% of these slaughterhouses have sparing construction designs Water used in slaughterhouses has not been annually evaluated 49 units did not regularly perform cleaning and disinfection 65 units have contains, biological wells for wastewater treatment, solid wastes were collected and treated, all the contains and biological wells were performed in the form of coping and overloading Water used
at the slaughterhouses did not reach the standard about total and heat-resistant coliforms in accordance to Vietnamese standards
Keywords: Pig, control, slaughtering, unit, Lang Son
Ngày nhận bài:08/5/2017; Ngày phản biện:15/5/2017; Ngày duyệt đăng: 31/7/2017
*