1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

PHÂN TÍCH DẠNG MỘT SỐ KIM LOẠI Fe, Co, Mn, Ni TRONG TRẦM TÍCH BỀ MẶT THUỘC LƯU VỰC SÔNG CẦU – TỈNH THÁI NGUYÊN THEO PHƯƠNG PHÁP CHIẾT ĐƠN

5 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 332,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài báo áp dụng quy trình chiết đơn để xác định các dạng liên kết chính của các kim loại nặng Fe, Co, Mn, Ni trong trầm tích bề mặt lưu vực sông Cầu trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.. Kết [r]

Trang 1

PHÂN TÍCH DẠNG MỘT SỐ KIM LOẠI Fe, Co, Mn, Ni TRONG TRẦM TÍCH

BỀ MẶT THUỘC LƯU VỰC SÔNG CẦU – TỈNH THÁI NGUYÊN

THEO PHƯƠNG PHÁP CHIẾT ĐƠN

Phạm Thị Thu Hà * , Vũ Xuân Hòa, Bùi Minh Quý, Vương Trường Xuân

Trường Đại học Khoa học – ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Bài báo áp dụng quy trình chiết đơn để xác định các dạng liên kết chính của các kim loại nặng Fe,

Co, Mn, Ni trong trầm tích bề mặt lưu vực sông Cầu trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Kết quả cho thấy, các kim loại Co, Mn tồn tại ở 3 dạng chính: dạng trao đổi - liên kết với cacbonat; dạng liên kết với oxit của sắt – mangan và dạng cặn dư; còn Fe, Ni tồn tại nhiều ở dạng liên kết với oxit của sắt - mangan và dạng cặn dư Sự phân bố hàm lượng tổng của các kim loại nặng không đồng đều ở các vị trí lấy mẫu và theo thứ tự Fe > Mn > Ni > Co Thông qua giá trị chỉ số tích lũy địa chất (Igeo )

và chỉ số đánh giá rủi ro (RAC) đã đánh giá được mức độ ô nhiễm của 4 kim loại trên trong các mẫu trầm tích

Từ khóa: chiết đơn, dạng kim loại, trầm tích, coban, mangan, niken, sắt, hàm lượng tổng.

ĐẶT VẤN ĐỀ*

Hiện nay, kim loại nặng được ứng dụng trong

công nghiệp, nông nghiệp, y tế và khoa học kĩ

thuật nên đã dẫn đến việc phát thải chúng ra

môi trường, làm tăng những nguy cơ về tác

động tiềm ẩn của chúng đối với sức khỏe con

người và hệ sinh thái Sắt (Fe), coban (Co),

mangan (Mn), niken (Ni) là các kim loại được

sử dụng phổ biến trong các ngành công nghiệp

gang thép, điện tử, mạ điện phân, khai

khoáng,… Các kim loại này tồn tại, tích lũy

trong môi trường theo nhiều cách khác nhau

Trong môi trường thủy sinh, trầm tích có vai

trò quan trọng trong sự tích lũy các kim loại

nặng bởi sự lắng đọng của các hạt lơ lửng và

các quá trình có liên quan đến bề mặt các vật

chất vô cơ và hữu cơ trong trầm tích Lưu vực

Sông Cầu đoạn chảy qua tỉnh Thái Nguyên là

khu vực có nhiều mỏ khoáng sản và tập trung

nhiều các khu công nghiệp, cụm công nghiệp,

nhà máy xí nghiệp, khu đô thị nên dẫn đến

nguy cơ ô nhiễm các kim loại nặng trong trầm

tích là rất lớn Để xác định các dạng kim loại

nặng, có hai phương pháp chiết được sử dụng

đó là chiết liên tục và chiết đơn (hay chiết chọn

lọc) để tách các dạng kim loại nặng trong đất

và trầm tích Quy trình chiết liên tục là quy

trình rất phổ biến và ứng dụng rộng rãi tuy

*

Tel: 0972 998955, Email: hpthuha410@gmail.com

nhiên có hạn chế là phải thực hiện trong một thời gian khá dài do đó việc sử dụng quy trình chiết đơn nhằm mục đích rút ngắn thời gian chiết [0] Trong nghiên cứu này chúng tôi áp dụng quy trình chiết đơn dựa trên quy trình của BCR [0] và Tessier đã được cải tiến [0] để tách

4 dạng chính của các kim loại sắt, coban, mangan, niken gồm: dạng trao đổi và liên kết với cacbonat, dạng liên kết với oxit của sắt và mangan, dạng liên kết với hợp chất hữu cơ, dạng bền trong cấu trúc trầm tích [0]

THỰC NGHIỆM

Thiết bị và dụng cụ

- Máy phân tích phổ ICP-MS Nexion 300Q của hãng Perkin Elmer

- Các loại dụng cụ thủy tinh đều được ngâm rửa bằng HNO3, sau đó rửa sạch bằng nước cất, làm khô và bảo quản trước khi sử dụng

Hóa chất

Do yêu cầu nghiêm ngặt của phép đo, các loại hóa chất được sử dụng đều là hóa chất của hãng Merck Dung dịch chuẩn đều được pha

từ dung dịch chuẩn gốc 1000 ppm của Merck

Địa điểm nghiên cứu

Mẫu trầm tích được lấy tại 8 vị trí dọc theo lưu vực sông Cầu trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

Vị trí lấy mẫu được đưa ra ở bảng 1

Trang 2

Lấy mẫu, xử lý mẫu và phân tích mẫu

Mẫu trầm tích được lấy bằng thiết bị chuyên

dụng ở độ sâu 10cm và được bảo quản đưa về

phòng thí nghiệm Mẫu được sấy khô, nghiền

mịn bằng cối sứ và rây qua rây để được kích

thước hạt nhỏ hơn 0,16 mm

Bảng 1: Vị trí lấy mẫu trầm tích

Mẫu Tọa độ Ghi chú

SC01 N: 21o 35’ 56,4”

E: 105o 50’ 20,7”

Gần Cầu Gia Bảy SC02 N: 21o 36’ 20,5”

E: 105o 51’ 24,9”

Gần Cầu Oánh SC03 N: 21o 36’ 08,5”

E: 105o 51’ 24,0”

Gần Cầu Phao Linh Sơn SC04 N: 21o 34’ 56,0”

E: 105o 51’ 50,6”

Gần Cầu Huống Thượng SC05 N: 21o 34’ 38,2”

E: 105o 51’ 39,8”

Gần ngòi Núi Truyện SC06 N: 21o 34’ 10,2”

E: 105o 51’ 56,9”

Gần ngòi Trại Bầu SC07 N: 21o 34’ 22,8”

E: 105o 52’ 21,8”

Dưới ngòi Làng Cậy SC08 N: 21o 34’ 26,1”

E: 105o 52’ 35,7”

Gần đập Ba Đa

Quy trình chiết các dạng kim loại trong trầm

tích được thể hiện ở hình 1

Hình 1: Sơ đồ chiết đơn

Quy trình chiết đơn được lặp lại 3 lần, dùng

phương pháp ICP-MS để xác định hàm lượng

các kim loại nặng Hàm lượng dạng F3 được

tính toán bằng hàm lượng trong dịch chiết F3

của phương pháp được đánh giá qua việc phân tích mẫu trầm tích chuẩn MESS-3 Sự sai khác giữa hàm lượng tổng của 5 dạng khi phân tích mẫu chuẩn MESS-3 so với giá trị chứng chỉ nhỏ hơn 10% Các kết quả phân tích được thể hiện dưới dạng khối lượng khô KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Kết quả phân tích từ 8 mẫu trầm tích bề mặt được thể hiện trong bảng 2, kết quả này là kết quả trung bình của 3 lần làm lặp lại Các hình

2 và 3 mô tả sự phân bố hàm lượng % của các dạng và hàm lượng tổng của các kim loại nặng trong 8 mẫu được lấy

Hàm lượng các dạng kim loại nặng

Kết quả phân tích cho thấy sự phân bố các dạng của các kim loại nặng Fe, Co, Mn, Ni trong trầm tích là không đồng đều Trong đó,

Co và Mn tìm thấy ở các dạng F1,2, F3 và cặn dư; với hàm lượng các kim loại ở dạng F1,2

và F3 khá cao, chiếm khoảng 22,4% - 39,6% (hình 2), kết quả này tương tự như một số nghiên cứu đã được công bố [0, 0]

Các kim loại Fe và Ni tồn tại chủ yếu ở các dạng F3 và dạng cặn dư, chỉ một phần nhỏ là

ở dạng F4 Ni còn tìm thấy một phần nhỏ ở dạng F1,2 (6,6 - 9,1%) Ở dạng F3, Fe chiếm

từ 48,1 - 61,5%, Ni chiếm 4,1 - 37,3%; Trong cặn dư, hàm lượng Fe chiếm từ 29,4 - 42,0%,

Ni từ 37,9 - 60,0%; dạng F4 chứa khoảng 6,4

- 7,9% kim loại Fe, 7,0 - 16,5% Ni Sắt tìm thấy chủ yếu ở dạng F3 là do có đặc tính hấp phụ, keo tụ và đồng kết tủa với các kim loại khác của hợp chất keo của Fe - Mn oxi hydroxit [0] Tuy nhiên Mn cũng tồn tại ở dạng F1,2 khá lớn, điều này được giải thích là

do sự tương đồng giữa bán kính ion của Mn

và Ca cho phép Mn thay thế Ca ở dạng cabonat [0]

Hàm lượng tổng của các kim loại nặng

Từ kết quả nghiên cứu (bảng 2 và hình 3) cho thấy hàm lượng tổng của các kim loại sắp xếp theo thứ tự Fe > Mn > Ni >Co Đồ thị phân

bố hàm lượng tổng của các kim loại này theo

Trang 3

trí SC02, SC04 và SC08 hàm lượng các kim

loại Mn, Ni, Co giảm hơn so với các vị trí

khác Riêng đối với đồ thị phân bố của hàm

lượng Fe, tại các vị trí SC02, SC04 và SC08

thì hàm lượng của Fe lại cao hơn hẳn, kết quả

này có thể là do sự thay thế các ion Fe2+

trong hợp chất FeS có trong trầm tích bằng các kim loại hóa trị II (Me2+) để tạo ra các sunfua kim loại ít tan hơn (Me2+

+ FeS → Fe2+ + MeS) [0]

Bảng 2: Hàm lượng các kim loại Co, Fe, Mn, Ni (mg/kg) của các mẫu trong các dạng tồn tại

Vị trí mẫu SC01 SC02 SC03 SC04 SC05 SC06 SC07 SC08

Co

Tổng 33,15 31,11 35,09 28,63 32,82 32,56 30,57 33,54

Fe

F1,2 67,87 90,26 86,73 94,44 71,64 92,73 78,75 105,98 F3 1814,30 2746,21 2377,16 2858,84 2161,95 2186,73 2221,76 3558,48 F4 233,95 401,44 265,96 443,42 247,12 237,89 255,79 469,68 F5 1530,92 1850,89 1136,45 2550,39 1184,34 1130,09 1780,17 2080,21 Tổng 3343,84 5093,55 3868,82 5955,92 3632,92 3640,65 4327,33 6210,43

Mn

F1,2 343,48 319,72 336,07 254,34 402,99 359,37 288,66 289,63 F3 318,22 308,26 306,93 209,38 368,88 376,18 297,69 211,65

F5 713,77 525,31 638,20 430,14 597,40 594,89 655,87 322,33 Tổng 1357,48 1204,22 1320,46 933,47 1412,51 1374,69 1285,84 863,90

Ni

Tổng 62,85 47,31 53,83 37,56 48,90 57,74 60,30 47,75

Hình 2: Sự phân bố hàm lượng % các dạng của kim loại trong trầm tích

Trang 4

Hình 3: Đồ thị phân bố hàm lượng tổng của các kim loại trong trầm tích

Đánh giá mức độ ô nhiễm

Để đánh giá mức độ ô nhiễm các kim loại nặng

trong trầm tích nghiên cứu, chúng tôi dựa vào

chỉ số tích lũy địa chất Igeo (Geoaccumulation

index), chỉ số đánh giá rủi ro RAC (Risk

Asessment Code) Igeo là giá trị được tính bằng

cách so sánh hàm lượng tổng kim loại có trong

mẫu với giá trị nền của kim loại đó trong vỏ

Trái đất [0] Chỉ số RAC được tính theo phần

trăm của dạng trao đổi và dạng cacbonat [0]

Sự phân loại theo các chỉ số Igeo và RAC

được chỉ ra trong bảng 3 và 4

Chỉ số tích lũy địa chất (Igeo)

Các kết quả Igeo được chỉ ra trong hình 4 Đối

với các kim loại Fe và Mn có Igeo < 0, các kim

loại Co và Ni có 0 < Igeo < 1 Như vậy đối

chiếu với bảng 3 thì các kim loại Co, Ni ô

nhiễm ở mức độ nhẹ; còn Fe và Mn là không

ô nhiễm

Bảng 3: Phân loại mức độ ô nhiễm theo I geo

Phân

loại Giá trị I geo Mức độ ô nhiễm

1 0 ≤ I geo ≤ 1 Nhẹ

2 1 ≤ I geo ≤ 2 Trung bình

3 2 ≤ I geo ≤ 3 Khá

4 3 ≤ I geo ≤ 4 Nặng

5 4 ≤ I geo ≤ 5 Nặng  rất nghiêm trọng

6 I geo > 5 Rất nghiêm trọng

Chỉ số đánh giá mức độ rủi ro (RAC)

Giá trị % RAC của các kim loại nặng được thể hiện qua đồ thị hình 5 Từ kết quả thu được so sánh với bảng tiêu chuẩn 4 cho thấy mức độ rủi ro đối với hệ sinh thái của các kim loại Fe, Ni, (trừ vị trí SC06) là thấp (% RAC

< 10%); kim loại Mn (trừ vị trí SC08) và Co (RAC = 10 - 30 %) có mức độ rủi ro trung bình, kim loại Mn ở vị trí SC08 (RAC = 33,7%) có mức độ rủi ro sinh thái ở mức cao

Bảng 4: Tiêu chuẩn đánh giá mức độ rủi ro theo

chỉ số RAC

STT Mức độ rủi ro RAC (%)

Hình 5: Giá trị % RAC của các kim loại

KẾT LUẬN

1 Đã áp dụng quy trình chiết đơn dựa trên quy trình của BCR và Tessier để xác định 04 dạng tồn tại của các kim loại nặng Fe, Co,

Mn, Ni trong trầm tích bề mặt lưu vực sông Cầu trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

2 Phần lớn các kim loại Co, Mn tồn tại ở dạng trao đổi và liên kết với cacbonat, dạng liên kết với oxit của sắt – mangan và dạng cặn dư; Fe, Ni tồn tại nhiều ở dạng liên kết với

Trang 5

3 Sự phân bố hàm lượng tổng của các kim loại

nặng phân bố không đồng đều ở các vị trí lấy

mẫu và tuân theo thứ tự Fe > Mn > Ni > Co

4 Đánh giá mức độ ô nhiễm của các kim loại

nặng trong trầm tích bề mặt thuộc lưu vực

sông Cầu đoạn chảy qua tỉnh Thái Nguyên

cho thấy trầm tích bề mặt tại đây ô nhiễm các

kim loại Co, Ni ở mức độ nhẹ; còn Fe và Mn

là không ô nhiễm; các kim loại này có mức độ

rủi ro đối với hệ sinh thái thấp và trung bình,

riêng Mn ở vị trí SC08 có mức độ rủi ro ở

mức cao

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Vũ Đức Lợi, Nguyễn Thanh Nga, Trịnh Anh

Đức, Phạm Gia Môn, Trịnh Hồng Quân, Dương

Tuấn Hưng, Trần Thị Lệ Chi, Dương Thị Tú Anh

(2010), “Phân tích dạng một số kim loại nặng

trong trầm tích thuộc lưu vực sông Nhuệ và Đáy”,

tạp chí phân tích Hoá, Lý và Sinh học, tập 15, 4,

tr 26-33

2 Canepari S., Cardarelli E., Ghighi S., Scimonelli

L (2005), “Ultrasound and microwave-assisted

extraction of metals from sediment: a comparison

with the BCR procedure”, Talanta, 66, pp 1122–

1130

3 Chang Zhang, Zhi-gang Yu, Guang-ming Zeng,

Min Jiang, Zhong-zhu Yang, Fang Cui,

Meng-ying Zhu, Liu-qing Shen, Liang Hu (2014),

“Effects of sediment geochemical properties on heavy metal bioavailability” Environment International, 73, pp 270–281

4 Muhammad B A., Tasneem G K., Muhammad

K J., Nusrat J., Hassan I A., Jameel A B (2008),

“Speciation of heavy metals in sediment by conventional, ultrasound and microwave assisted single extraction methods: A comparison with

modified sequential extraction procedure”, Journal

of Hazardous Materials 154, pp 998–1006

5 Muhammad Saleem, Javed Iqbal, Munir H Shah (2015) “Geochemical speciation, anthropogenic contamination, risk assessment and source identification of selected metals in freshwater sediments—A case study from

Mangla Lake, Pakistan”, Environmental Nanotechnology, Monitoring & Management 4,

pp 27–36

6 Rath P, Panda UC, Bhata D, Sahu KC (2009),

“Use of sequential leaching, mineralory, and multivariate statistical technique for quantifying metal pollution in highly polluted aquatic sediments – a case study: Brahmani and Nandira

Rivers India”, Journal of Hazardous Materials,

vol 163, pp 632-644.

7 Shou Zhao, Chenghong Feng, Yiru Yang, Junfeng Niu, Zhenyao Shen (2012) “Risk assessment of sedimentary metals in the Yangtze Estuary: New evidence of the relationships between two typical index

methods” Journal of Hazardous Materials,

241– 242, pp 164– 172

SUMMARY

SPECIATION OF Co, Fe, Mn, Ni IN SURFACE SEDIMENTS OF CAU RIVER

BASIN – THAI NGUYEN PROVINCE BY SINGLE EXTRACTION METHOD

Pham Thi Thu Ha * , Bui Minh Quy, Vu Xuan Hoa, Vuong Truong Xuan

University of Science - TNU

A single extraction procedure was applied to determine the distribution of heavy metal fractions (Fe, Co, Mn, Ni) in the sediment samples collected at Cau river, located in Thai Nguyen province The results showed that Fe, Co, Mn and Ni were found mainly in three fractions: exchangeable and carbonate fraction, bound to Fe-Mn Oxides and residual fraction; Fe and Ni existed mainly as residual fraction and associated with iron - manganese oxide fraction The distribution of the total content of heavy metals was uneven and followed the order: Fe > Mn > Ni > Co The contamination levels of four metals in the studied sediment was assessed by the geoaccumulation index (Igeo) and Risk Assessment Code (RAC)

Keywords: single extraction, speciation of metals, sediment, Co, Mn, Ni, Fe, the total content

Ngày nhận bài: 09/6/2017; Ngày phản biện: 10/7/2017; Ngày duyệt đăng: 30/9/2017

*

Tel: 0972 998955, Email: hpthuha410@gmail.com

Ngày đăng: 15/01/2021, 04:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w