Bài báo nghiên cứu thực trạng rừng trồng sản xuất (RTSX) của huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2015, kết quả nghiên cứu cho thấy công tác phát triển RT[r]
Trang 1Tập 170, số 10, 2017
Trang 2T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ
CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN – KINH TẾ
Lưu Bình Dương, Nguyễn Văn Tiến - “Thiêng hóa” - yếu tố cơ bản cấu thành luật tục 3
Phạm Văn Cường - Nghiên cứu sự thích ứng với phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ của sinh viên dân
Bùi Linh Phượng, Mai Thị Ngọc Hà - Phân tích, so sánh nội dung toán học trong chương trình đào tạo ngành
Trịnh Thị Kim Thoa - Thực trạng và giải pháp để nâng cao chất lượng học tập môn tư tưởng Hồ Chí Minh tại
Thân Thị Thu Ngân - Kỷ niệm 90 năm ra đời tác phẩm “Đường Kách mệnh” (1927 – 2017) - Ý nghĩa lý luận
Ma Thị Ngần - Một số đặc điểm cần lưu ý khi xây dựng chương trình môn học giáo dục thể chất nhằm nâng
Dương Thị Hương Lan, Nguyễn Vũ Phong Vân, Nguyễn Hiền Lương - Ứng dụng các hoạt động học tập
trải nghiệm vào trong một giờ học nói tiếng Anh ở Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh – Đại học
Lê Ngọc Nương, Nguyễn Thị Hà, Nguyễn Hải Khanh - Xây dựng khung lý thuyết về sự hài lòng trong công việc
Đoàn Quang Thiệu - Xây dựng hệ thống nghiệp vụ kinh tế phát sinh và bộ chứng từ kế toán mẫu để thực hành
Đỗ Thị Hà Phương, Đoàn Thị Mai, Chu Thị Hà, Nguyễn Thị Giang - Các yếu tố ảnh hưởng tới mức sẵn lòng
Vũ Hồng Vân, Lương Thị Mai Uyên - Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành cơ khí trong quá trình hội nhập
Nguyễn Thị Linh Trang, Bùi Thị Ngân - Phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng
Nguyễn Thị Lan Anh, Nông Thị Vân Thảo - Xây dựng hệ thống hỗ trợ quản lý chấm điểm cán bộ tại sở giao
Nguyễn Thu Nga, Kiều Thị Khánh, Hoàng Văn Dư - Hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng khi tính đến rủi
Nguyễn Thị Vân, Nguyễn Bích Hồng - Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bắc Giang theo
Đàm Thị Phương Thảo, Nguyễn Tiến Mạnh - Đánh giá ảnh hưởng của một số nhân tố đến hiệu quả hoạt động
Journal of Science and Technology
170 (10)
Trang 3Trần Bảo Ngọc, Lê Thị Lựu, Bùi Thanh Thủy và cộng sự - Nhận thức của sinh viên Dược về môi trường giáo
Lương Ngọc Huyên - Thực trạng việc vận dụng toán học vào thực tiễn trong dạy học và kiểm tra, đánh giá kết
quả học tập môn Toán của học sinh lớp 10 ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Tuyên
Nguyễn Thị Hồng, Nguyễn Xuân Trường, Hoàng Thị Giang - Tiếp cận địa lý trong nghiên cứu quan hệ
giữa phát triển kinh tế gắn với đảm bảo an ninh quốc phòng khu vực các xã vùng cao biên giới (ví dụ tại tỉnh
Đỗ Thị Quyên, Nguyễn Thị Kim Tuyến - Nghiên cứu các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến hành vi mua trực tuyến của
Phương Hữu Khiêm, Nguyễn Đắc Dũng, Nguyễn Ngọc Lý - Phát triển thị trường sản phẩm đầu ra cho rừng
Văn Thị Quỳnh Hoa, Nguyễn Lan Hương - Hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc giảng
Mai Văn Cẩn - Sử dụng hình tượng nhân vật Thạch Sanh trong một số hoạt động dạy thực hành tiếng Anh bậc
Đỗ Thị Hương Liên - Bàn thêm về cuộc khởi nghĩa của Hoàng Đình Kinh (Cai Kinh) và mối liên hệ với các
Phạm Văn Quang, Nguyễn Huy Ánh - Giải pháp tăng cường tính tích cực, chủ động trong học tập của sinh
Nguyễn Thị Minh Thu, Bùi Thị Ngọc Anh - Ca dao, dân ca làng chài Vịnh Hạ Long - nét văn hóa mang đậm
Đặng Anh Tuấn, Ngô Thị Minh Hằng, Phạm Thị Trung Hà - Sự hồi phục của thị trường bất động sản và rủi
Lê Văn Thơ, Vũ Anh Tuấn - Đánh giá tình hình sử dụng đất tại các khu đô thị trên địa bàn thành phố Việt Trì,
Trang 4Phương Hữu Khiêm và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 170(10): 155-160
155
PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG SẢN PHẨM ĐẦU RA CHO RỪNG TRỒNG
SẢN XUẤT THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN
Phương Hữu Khiêm1*, Nguyễn Đắc Dũng2, Nguyễn Ngọc Lý2
1
Đại học Thái Nguyên, 2 Trường Đại học Kinh tế & Quản trị kinh doanh – ĐH Thái Nguyên
TÓM TẮT
Bài báo nghiên cứu thực trạng rừng trồng sản xuất (RTSX) của huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2015, kết quả nghiên cứu cho thấy công tác phát triển RTSX của huyện Đồng Hỷ đã được quan tâm của các cấp chính quyền, thu hút được đa dạng các nguồn vốn đầu
tư cho trồng rừng (Vốn vay ưu đãi, vốn của các tổ chức nước ngoài,…), diện tích RTSX của huyện Đồng Hỷ đã phát triển nhanh, thị trường lâm sản đã được hình thành nhưng mới chỉ phát triển ở thị trường lâu đời như nguyên liệu gỗ, còn thị trường về lâm sản ngoài gỗ đang được hình thành Vấn đề tiêu thụ sản phẩm của các hộ dân còn gặp một số vướng mắc về giá cả, đa dạng sản phẩm đầu ra, giá
cả thị trường chịu chi phối của các thương nhân, tiêu thụ tại chỗ là chủ yếu Bên cạnh đó các cơ sở chế biến tại địa bàn có năng lực sản xuất yếu, sử dụng công nghệ cũ, lạc hậu, mức độ tinh chế của sản phẩm còn thấp do đó ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, Qua đó, để phát triển bền vững thị trường đầu ra cho RTSX trên địa bàn huyện trong thời gian tới tác giả đề xuất và kiến nghị cần thực hiện đồng bộ các giải pháp về công nghệ, vốn và lao động, trong các hộ trồng rừng (cung sản phẩm) cũng như các đơn vị sản xuất kinh doanh như các giải pháp về nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm đầu ra, giải pháp nâng cao chất lượng lao động
Từ khóa: Rừng trồng, sản xuất, lâm sản, thị trường, sản phẩm, đầu ra…
Diện tích rừng trồng sản xuất (RTSX) đã tăng
lên nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu và cung
cấp khoảng 50% tổng sản lượng gỗ trên toàn thế
giới [1] Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực
thế giới (FAO) ước tính rằng tổng diện tích
rừng trồng đến năm 2005 khoảng 140 triệu ha
(FAO 2006), bình quân mỗi năm tăng khoảng 3
triệu ha Ở Việt Nam, diện tích rừng trồng cũng
tăng lên rất nhanh từ 1 triệu ha năm 1990 lên
2,7 triệu ha năm 2005, nằm trong tốp 10 các
nước (đứng thứ 9 thế giới và thứ 3 Đông Nam
Á) có diện tích rừng trồng lớn nhất thế giới Do
đó, cùng với việc gia tăng nhanh về diện tích
rừng trồng thì vấn đề về hiệu quả của RTSX
cũng như các vấn đề về thị trường đầu ra cho
các sản phẩm từ RTSX cần được quan tâm
nghiên cứu
Hiệu quả của công tác trồng rừng sản xuất
được đánh giá theo nhiều yếu tố trong đó hiệu
quả về kinh tế là chủ yếu [7] Sản phẩm rừng
trồng phải có được thị trường, phục vụ được cả
mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài Đồng
thời phương thức canh tác phải phù hợp với
kiến thức bản địa và dễ áp dụng với người dân
*
Email: phuonghuukhiem@tnu.edu.vn
[2] Theo nghiên cứu của Thomas Enters và Patrick B Durst (2014) [8], để phát triển trồng rừng sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao, ngoài
sự tập trung đầu tư về kinh tế và kỹ thuật còn phải nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến chính sách và thị trường
Đồng Hỷ là một huyện của tỉnh Thái Nguyên, nơi có nhiều diện tích RTSX được phát triển trong thời gian qua Tuy nhiên, việc tiêu thụ sản phẩm của người dân còn gặp một số khó khăn, đã làm cản trở việc phát triển hoạt động trồng rừng sản xuất của tỉnh Trong khi
đó, hoạt động sản xuất của một số nhà máy chế biến lâm sản trong tỉnh có lúc thiếu nguyên liệu trầm trọng [4] , phải tìm nguồn cung từ các tỉnh lân cận hoặc nhập khẩu đã làm ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động kinh doanh của các đơn vị
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (1) Các phương pháp sử dụng trong thu thập thông tin: Các phương pháp điều tra được sử dụng như điều tra kinh tế xã hội bằng phiếu phỏng vấn; đối tượng điều tra, thứ nhất là những người làm công quản lý ở các cấp địa phương xã, thị trấn và cấp huyện (ủy ban nhân dân xã, thị trấn, phòng NN&PTNT, ban quản lý rừng,…); đối tượng thứ hai là các hộ dân có
Trang 5Phương Hữu Khiêm và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 170(10): 155-160
RTSX, thứ ba là các cơ sở chế biến lâm sản trên
địa bàn, với tổng số mẫu thu thập điều tra là 150
mẫu; đồng thời thu thập thông tin thứ cấp thông
qua các tài liệu đã được công bố
(2) Nhóm các phương pháp xử lý thông tin: (i)
Các phương pháp thống kê để xử lý thông tin
thu thập được; (ii) Các phương pháp nghiên cứu
trường hợp cụ thể sẽ được vận dụng trong xử lý
thông tin
(3) Nhóm các phương pháp sử dụng để phân
tích thông tin: Vận dụng các phương pháp phân
tích thống kê, so sánh thống kê, nghiên cứu
điểm để phân tích thông tin sau khi xử lý
THỰC TRẠNG RỪNG TRỒNG SẢN
XUẤT TẠI HUYỆN ĐỒNG HỶ
Một số đặc điểm về RTSX trên địa bàn
huyện Đồng Hỷ
Về diện tích
Giai đoạn 2000-2015: Trong giai đoạn này
trồng rừng nói chung và trồng rừng sản xuất
nói riêng phát triển mạnh, với nhiều đối tượng
và đơn vị tham gia thực hiện Toàn huyện
trồng được 7.381 ha, bình quân mỗi năm
trồng 820 ha [5]
Về nguồn vốn đầu tư
Kết quả điều tra khảo sát tại huyện Đồng Hỷ
cho thấy, nguồn vốn đầu tư cho trồng rừng
sản xuất bao gồm một số nguồn chủ yếu là
Dự án PAM, Chương trình 327, Dự án 661,
Chương trình trồng rừng sản xuất theo Quyết
định 147, Dự án trồng rừng nguyên liệu do
Công ty Ván dăm Thái Nguyên tổ chức và
nguồn vốn tư nhân [4]
Mục tiêu trồng rừng sản xuất
Qua khảo sát cho thấy, trồng rừng sản xuất
trên địa bàn huyện Đồng Hỷ được chia làm 2
nhóm chính: (i) Nhóm cung cấp sản phẩm gỗ,
gồm: Vật liệu xây dựng, đồ mộc gia dụng,
nguyên liệu giấy,ván dăm, gỗ bóc; (ii) Nhóm
cung cấp sản phẩm ngoài gỗ: Tre, luồng, quả
và nhựa Trám trắng; Nhìn chung mục tiêu
trồng rừng ở huyện Đồng Hỷ được định hình
khá rõ ràng, cụ thể, trong đó nhóm mục tiêu
cung cấp sản phẩm gỗ nguyên liệu giấy, dăm
hoặc gỗ trụ mỏ giữ vai trò chủ đạo; còn lại
nhóm mục tiêu cung cấp lâm sản ngoài gỗ do
diện tích trồng còn chưa lớn do vậy mới đang
ở bước phát triển khởi điểm [3]
Tổ chức thực hiện
Trồng rừng sản xuất hiện nay ở huyện Đồng
Hỷ chủ yếu được Lâm trường Đồng Hỷ thuộc Công ty Ván dăm Thái Nguyên thực hiện thông qua hợp đồng ký kết với người dân Nguồn vốn trồng rừng là vốn vay tín dụng ưu đãi theo Quyết định 661/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ dựa trên Dự án trồng rừng nguyên liệu của Công ty Ván dăm Thái Nguyên được Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam phê duyệt Ngoài ra, trồng rừng sản xuất trên địa bàn còn được thực hiện thông qua Dự
án 661 được triển khai trên địa bàn [5] Đánh giá ảnh hưởng của thị trường lâm sản đến phát triển RTSX ở huyện Đồng Hỷ Thị trường gỗ RTSX ở huyện Đồng Hỷ có thể chia ra thành các loại sau đây: (i) Thị trường
gỗ trụ mỏ; (ii) Thị trường gỗ nguyên liệu xây dựng cơ bản; (iii) Thị trường nguyên liệu giấy, dăm; (iv) Thị trường gỗ dân dụng Ngoài thị trường gỗ còn có thị trường lâm sản ngoài gỗ như các loại quả Trám, nhựa Trám, măng tre, thân tre nứa, vỏ Quế
Đặc điểm chung về thị trường lâm sản RTSX của huyện Đồng Hỷ
Kết quả điều tra khảo sát cho thấy, thị trường
gỗ RTSX ở huyện Đồng Hỷ có những đặc điểm chung sau đây :
- Thị trường gỗ rừng trồng ở huyện Đồng Hỷ phát triển không đồng đều giữa các vùng, các xã; vùng thị trấn, khu đông dân cư và dọc đường quốc lộ 1B phát triển mạnh, các vùng khác kém phát triển Yếu tố chủ yếu chi phối thị trường lâm sản gỗ rừng trồng ở huyện Đồng Hỷ là các cơ sở chế biến, các nhà máy,
xí nghiệp, các xưởng sản xuất gỗ lớn trong và ngoài huyện, tỉnh cũng như các cơ sở chế biến nhỏ sản xuất đồ dân dụng
- Tại thời điểm này, Đồng Hỷ vẫn nằm trong vùng quy hoạch sản xuất nguyên liệu của Công
ty Ván dăm Thái Nguyên nên phần lớn gỗ được tiêu thụ cho dòng sản phẩm này Thị trường gỗ nguyên liệu sản xuất gỗ dán, ván ghép, ván thanh không tập trung và thường được các tư thương, các cơ sở chế biến nhỏ thực hiện chủ yếu ở khu vực thị trấn Chùa Hang và những nơi gần trục đường giao thông
Trang 6Phương Hữu Khiêm và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 170(10): 155-160
157
- Diện tích rừng trồng phát triển đã kéo theo
sự hình thành khá nhiều các cơ sở chế biến
lâm sản quy mô nhỏ ở thị trấn và cả trong các
xã Các cơ sở chế biến này đã góp phần giải
quyết đầu ra cho rừng trồng, tạo thêm công ăn
việc làm cho người dân địa phương, thúc đẩy
trồng rừng Đây là vấn đề được Nhà nước đặc
biệt khuyến khích, quan tâm
- Đối với Lâm sản ngoài gỗ, một lượng nhựa
Trám, quả Trám, măng tre nứa, thân tre
thường được các tư thương thu mua tiêu thụ
trong tỉnh và các tỉnh lân cận cũng như xuất
khẩu theo đường tiểu ngạch Thị trường lâm
sản ngoài gỗ nhìn chung cũng bình ổn, không
sôi động do quy mô sản xuất là không lớn,
toàn bộ được bán dưới dạng nguyên liệu thô
hoặc qua sơ chế đơn giản
- Giá gỗ rừng trồng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, một trong những yếu tố đó là cự ly từ rừng trồng tới nhà máy, hiện nay phần lớn gỗ rừng trồng sau khai thác được Công ty Ván dăm Thái Nguyên thu mua và tiêu thụ tại các điểm tập kết của công ty Vì vậy, giá thu mua sản phẩm còn phải chịu cả cước phí vận
nhỏ vận chuyển đường sông) hoặc
đường bộ), nên giá thu mua luôn thấp hơn giá mua tại các cơ sở chế biến lâm sản Tuy nhiên, thực tế cho thấy chi phí vận chuyển lâm sản từ nơi trồng rừng đến nơi tiêu thụ sản phẩm chiếm gần 50% giá thành nguyên liệu Đây cũng là vấn đề rất cần được sự quan tâm và giải quyết của các cấp, các ngành chức năng
Phân loại nguyên liệu, sản phẩm gắn với thị trường
Bảng 1 Phân loại nguyên liệu, sản phẩm gắn với thị trường
Loại nguyên liệu Đầu mối Dạng sản phẩm Thị trường Phương thức
tiêu thụ
I Nhóm gỗ
Gỗ nhỏ ( Keo lai, Bạch
Đàn, Bồ Đề )
Công ty ván dăm, tư thương
Cột, gỗ bóc, băm dăm, cọc chống, nguyên liệu giấy
Trong và ngoài tỉnh
Qua trung gian, có hợp đồng, tự do
Gỗ lớn (Keo tai tượng,
Keo lá tràm, Mỡ)
Công ty ván dăm, xí nghiệp chế biến, tư thương
Gỗ bóc, xây dựng cơ bản,
đồ mộc gia dụng
Trong và ngoài tỉnh
Qua trung gian, có hợp đồng, tự do
II Ngoài gỗ
Tiểu ngạch,thị trường tự do Nhựa trám Tư nhân,
Thương lái Nhựa thô Trung Quốc
Tiểu ngạch,thị trường tự do Quả trám Tư nhân,
Thương lái Quả tươi,sơ chế
Trong và ngoài tỉnh Thị trường tự do Tre, nứa Tư nhân,
Thương lái
Xây dựng cơ bản, bàn ghế, thang…
Trong và ngoài tỉnh Thị trường tự do
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra năm 2015)
Tiêu thụ sản phẩm RTSX ở huyện Đồng Hỷ
Qua nghiên cứu cho thấy có 3 đối tượng chủ yếu tham gia vào lưu thông sản phẩm từ RTSX là: (i) Lâm trường, xí nghiệp lâm nghiệp: Chủ yếu là thành viên của Công ty Ván dăm Thái Nguyên, nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ đây là đối tượng chính trong lưu thông sản phẩm; (ii) Tư thương:
Là đối tượng chính thu gom gỗ và lâm sản ngoài gỗ của các hộ trồng rừng đưa tới các cơ sở chế biến Đây cũng là đối tượng thu gom gỗ cho các doanh nghiệp, công ty, xí nghiệp lâm nghiệp; (iii) Doanh nghiệp: Song song với tiêu thụ sản phẩm lâm sản tự sản xuất, doanh nghiệp còn thu gom sản phẩm từ các hộ trồng rừng đưa đi tiêu thụ tại các cơ sở chế biến
Trang 7Phương Hữu Khiêm và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 170(10): 155-160
Kết quả điều tra, khảo sát một số đơn vị chế biến lâm sản và sử dụng nguyên liệu gỗ rừng trồng ở huyện Đồng Hỷ
Thực trạng về thị trường đầu ra cho RTSX
Bảng 2 Thị trường đầu ra cho sản phẩm RTSX tại các khu vực điều tra
Địa điểm
Nơi tiêu thụ Đối tượng khách hàng Bán tại
chỗ
Xưởng, công
ty trong huyện
Xưởng, công ty ngoài huyện, tỉnh
Thương lái
Xưởng chế biến, DN HTX Văn Hán 55,6% 33,3% 11,1% 70,4% 18,5% 11,1%
TT.Sông Cầu 78,6% 14,3% 7,1% 42,8% 57,2% 0%
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra năm 2015)
Qua nghiên cứu cho thấy, về nơi tiêu thụ sản phẩm: phần lớn sản phẩm được bán tại chỗ, tiếp theo là việc thu mua của các công ty, xí nghiệp chế biến trong huyện ngoài ra còn bán cho các xưởng, công ty chế biến ngoài địa phương Đối tượng khách hàng chủ yếu là các thương lái sau đến các xưởng, doanh nghiệp chế biến
Giá cả tiêu thụ của sản phẩm RTSX
Bảng 3 Giá cả tiêu thụ của sản phẩm RTSX
Địa điểm Thường xuyên bán
được giá cao
Hiếm khi bán được giá cao
Không bao giờ bán được giá cao Khác
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra năm 2015)
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, với những địa
bàn thuận tiện về giao thông như gần đường
giao thông hay ở trung tâm thì sản phẩm được
bán với giá cao Còn lại những địa bàn gặp
bất lợi sẽ chịu thiệt thòi về mức giá tiêu thụ
Đánh giá về thị trường tiêu thụ sản phẩm
lâm nghiệp của các hộ
- Vận chuyển: Cơ sở hạ tầng giao thông liên
thôn còn kém, do là đường đất đi lại vất vả
vào mùa mưa nên việc vận chuyển gỗ còn gặp
nhiều khó khăn khiến người trồng rừng bị ép
giá thấp hơn so với nơi rừng trồng có hệ
thống đường giao thông vận chuyển tốt hơn
- Giá cả: giá cả RTSX của các hộ được điều
tra thì hầu như là không bao giờ bán được
mức giá cao vì còn phụ thuộc vào vị trí thuận
lợi và sản phẩm gỗ của rừng trồng của hộ dân
thuộc loại gỗ nguyên liệu to hay nhỏ chất
lượng gỗ có đồng đều hay không
- Thanh toán: thanh toán tiền nhanh chóng sau
khi thỏa thuận với chủ rừng xong người mua
rừng sẽ thanh toán toàn bộ tiền cho chủ rừng
và tiến hành khai thác khi đã có giấy phép khai thác của kiểm lâm
- Tiêu thụ: rừng sản xuất của các hộ dân được tiêu thụ nhanh gọn vì có nhiều người thu mua rừng sản xuất
- Đối tượng thu mua: chủ yếu là thương lái tại bản địa, một số từ nơi khác đến Ngoài ra công ty Ván dăm Thái Nguyên là công ty thu mua gỗ lớn nhất, công ty tận thu triệt để đã đem lại khó khăn không nhỏ cho các cơ sở, doanh nghiệp chế biến lâm sản trong huyện
Đánh giá về các cơ sở sản xuất và chế biến
gỗ tại huyện Đồng Hỷ
- Ở huyện Đồng Hỷ hiện nay hầu hết là các cơ
sở sản xuất đều có quy mô nhỏ, cơ sở vật chất
và trang thiết bị còn yếu và thiếu, số lượng công nhân làm việc không nhiều, chủ yếu là hợp đồng thời vụ và công việc, đặc biệt là khi
có các hợp đồng
- Các xưởng chế biến hiện nay chủ yếu làm chức năng sơ chế gỗ hoặc chế biến thô như xẻ ván, cốt pha Ngoài ra còn là nơi phân loại
và trung chuyển lâm sản Các xưởng tư nhân
Trang 8Phương Hữu Khiêm và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 170(10): 155-160
159
cũng khá phát triển, hầu hết được nâng cấp từ
các hộ gia đình làm thợ mộc
- Trang thiết bị nhìn chung chưa hiện đại, chủ
yếu là thiết bị nhỏ, thô sơ, bán cơ giới
- Chủng loại gỗ rừng trồng được sử dụng khá
phong phú, từ các loại Keo tai tượng, Keo lá
tràm, Bạch đàn cho đến các loài cây trồng
phân tán như Trám, Lát hoa, Xoan ta
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
ĐẦU RA CHO RTSX THEO HƯỚNG BỀN
VỮNG TẠI HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH
THÁI NGUYÊN
- Bảo đảm nguồn nguyên liệu cung cấp cho
các nhu cầu theo kế hoạch, tiến độ phát triển
sản xuất đã đề ra: trong nước và sản xuất
hàng xuất khẩu Quy hoạch vùng nguyên liệu
cho công ty chế biến lâm sản.Về gỗ rừng tự
nhiên: cung cấp ổn định cho các nhu cầu theo
nguyên tắc ưu tiên sản xuất sản xuất hàng thủ
công mỹ nghệ và đồ mộc tinh chế xuất khẩu
- Giải pháp về khoa học kỹ thuật: (i) Cần xác
định rõ và cụ thể nơi trồng phù hợp với từng
loài cây trồng và mục tiêu sản phẩm Đây là
điều rất quan trọng đảm bảo cho rừng trồng
bền vững về mặt sinh thái và có hiệu quả về
mặt kinh tế, xã hội; (ii) Trong chiến lược phát
triển mặc dù huyện đã có quy hoạch vùng
trồng sản xuất song cần phân biệt các khu
trồng rừng tập trung tạo vùng nguyên liệu lớn
cho Công ty với những nơi có điều kiện trồng
rừng phân tán ưu tiên cho trồng cây gỗ lớn
hay cây đặc sản, và làm tốt khâu dự báo nhu
cầu về các sản phẩm từ rừng sản xuất cho
người dân; (iii) Nâng cao kiến thức về thị
trường cho những người trồng rừng: Bằng các
biện pháp khuyến nông, khuyến lâm của nhà
nước, ngoài ra còn các kênh thông tin khác
như từ các kênh truyền hình, thông tin đại
chúng và thông tin từ những người sản xuất
với nhau và họ trau dồi thêm kiến thức về thị
trường sản phẩm RTSX; (iv) Nâng cao chất
lượng hệ thống cơ sở hạ tầng: Đường giao
thông, hệ thống thông tin liên lạc cho người
dân trong huyện để cho người dân vận chuyển
sản phẩm tới nơi tiêu thụ dễ dàng hơn và nâng
cao giá thành của rừng sản xuất
- Giải pháp về nâng cao trình độ lao động:
Cần phải nâng cao trình độ tay nghề lao động
cho công nhân sản xuất chế biến trong các xưởng, mở lớp đào tạo công nhân cho các trong các xưởng để nâng cao tay nghề nhất là các xưởng đồ mộc chế biến bàn, ghế, tủ để nâng cao chất lượng trong từng sản phẩm
- Giải pháp về cung cấp thông tin thị trường:
Xây dựng các kênh để cung cấp thông tin về giá cả thị trường cho người dân Cung cấp thị trường cần có các chính sách thu hút đầu tư vào thị trường RTSX để tạo đầu ra ổn định cho sản phẩm RTSX tại huyện Đồng Hỷ, các doanh nghiệp tranh thủ tìm kiếm khách hàng qua các kênh hội chợ thương mại, các dự án hợp tác và các sự kiện văn hóa xã hội được nhà nước tài trợ để quảng bá sản phẩm và cơ hội tìm kiếm khách hàng mới có tiềm năng
- Xây dựng chiến lược quảng bá, tiếp thị sản phẩm, hệ thống thông tin, đăng ký thương hiệu lâm sản gỗ, tổ chức bộ phận nghiên cứu,
dự báo thị trường Đánh giá khả năng cung cấp về mặt tài nguyên, phân tích khả năng cạnh tranh để đề xuất nhóm sản phẩm chủ lực
và thị trường tiêu thụ Tổ chức tốt các kênh tiêu thụ, có biện pháp điều tiết vĩ mô về giá cả thị trường lâm sản
Giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm đầu ra: (i) Để nâng cao chất lượng sản phẩm đầu
ra cho sản phẩm RTSX cần phải đổi mới công nghệ chế biến sản phẩm hiện đại hơn và cần
có công nhân có tay nghề cao trong chế biến
để từ đó có thể nâng cao chất lượng sản phẩm
và có thể nâng cao giá bán; (ii) Đa dạng hóa sản phẩm đầu ra: Có thể trợ giúp cho người dân về kĩ thuật chế biến lâm sản (đóng bàn ghế, đồ dùng gia đình, )
- Giải pháp về Vốn: Tranh thủ tối đa và tổ
chức có hiệu quả nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp cho bảo vệ, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng, trồng rừng phòng hộ và sản xuất
theo chương trình dự án 661 Tạo môi trường
đầu tư thuận lợi và hệ thống pháp lý đầy đủ, nhằm huy động các nguồn vốn đầu tư từ dân
và doanh nghiệp vào trồng rừng nguyên liệu với chu kỳ dài
KẾT LUẬN Kết quả nghiên cứu cho thấy hiện nay, công tác phát triển RTSX của huyện Đồng Hỷ đã được quan tâm của các cấp chính quyền, thu
Trang 9Phương Hữu Khiêm và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 170(10): 155-160
hút được đa dạng các nguồn vốn đầu tư cho
trồng rừng (Vốn vay ưu đãi, vốn của các tổ
chức nước ngoài,…), diện tích RTSX của
huyện Đồng Hỷ đã phát triển nhanh, thị
trường lâm sản đã được hình thành nhưng
mới chỉ phát triển ở thị trường lâu đời như
nguyên liệu gỗ, còn thị trường về lâm sản
ngoài gỗ đang được hình thành Vấn đề tiêu
thụ sản phẩm của các hộ dân còn gặp một số
vướng mắc về giá cả, đa dạng sản phẩm đầu
ra, giá cả thị trường chịu chi phối của các
thương nhân, tiêu thụ tại chỗ là chủ yếu Bên
cạnh đó các cơ sở chế biến tại địa bàn có
năng lực sản xuất yếu, sử dụng công nghệ
cũ, lạc hậu, mức độ tinh chế của sản phẩm
còn thấp do đó ảnh hưởng đến hiệu quả sản
xuất kinh doanh Do đó để phát triển bền
vững thị trường đầu ra cho RTSX cần thực
hiện đồng bộ các giải pháp liên quan đến
công nghệ, vốn và lao động, trong các hộ
trồng rừng (cung sản phẩm) cũng như các
đơn vị sản xuất kinh doanh, bên cạnh đó đòi
hỏi sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính
quyền liên quan đến các chính sách cho
người dân và doanh nghiệp
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Trần Thanh Cao (2014), “Thực trạng RTSX ở Việt
Nam”, Báo cáo đề tài KH&CN cấp Viện, Viện Khoa
học Lâm nghiệp Việt Nam
2 Võ Đại Hải (2004), “Thị trường lâm sản RTSX ở các
tỉnh miền núi phía Bắc và các chính sách để phát triển”,
Báo cáo trình bày tại hội thảo thị trường và nghiên cứu nông lâm kết hợp ở miền núi Việt Nam, Hòa Bình
3 Ngô Văn Hải (2004), “Lợi thế và bất lợi thế của các yếu tố đầu vào, đầu ra trong sản xuất nông lâm sản hàng
hóa ở các tỉnh miền núi phía Bắc”, Báo cáo trình bày tại
hội thảo “Thị trường và nghiên cứu nông lâm kết hợp ở miền núi Việt Nam”, Hòa Bình
4 Phòng NN&PTNT huyện Đồng Hỷ (2015), Báo
cáo sơ kết giữa nhiệm kỳ đề án phát triển lâm nghiệp huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2010 – 2015
5 Phòng NN&PTNT huyện Đồng Hỷ (2015), Đề án tái
cơ cấu ngành lâm nghiệp huyện Đồng Hỷ đến năm
2020
6 Phòng NN&PTNT huyện Đồng Hỷ (2015), Quy
hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Đồng
Hỷ đến năm 2020
7 Đỗ Đình Sâm, Lê Quang Trung (2003), Đánh giá
hiệu quả trồng rừng công nghiệp ở Việt Nam,
NxbNông nghiệp Hà Nội
8 Thomas Enters, Patrick B Durst and Chris Brow
(2014), “What does it take?the role of incentives in
forest plantation development in the asia-pacific
region”, FAO corporate duccument repository, food
and agriculture organization of the united nations regional office for asia and the pacific, Bangkok
SUMMARY
DEVELOPING THE OUTPUT PRODUCT MARKET FOR FOREST PLANTATIONS FOLLOWED SUSTAINABLE TREND IN DONG HY DISTRICT, THAI NGUYEN
PROVINCE
Phuong Huu Khiem1*, Nguyen Dac Dung2, Nguyen Ngoc Ly2
This paper studies the status of the forest platations in Dong Hy district, Thai Nguyen province from 2000 to
2015, the result indicated that the expansion issue in forest plantations in this district has been attracted by the government and the prior investment resources for forest plantations (such as favorable loans, foreign oganizations, ), the forest areas has been developing quickly The market of output products in general is not yet developed, the quantity and diverse products is limited, this is only concentrated in the old market as wood pits, particleboard market, the market of non-timber forest products is creating The output products issues of households have gotten the difficuties about price, multi-output products, the market price is affected by buyers, home sale is mainly Beside that, the ability production of manufactures in this district are low productivity, using elder techonogy and the level fine products is limited, that all influence on efficiency
of bussiness, throughout, in order to sustainable development of the output market for forest plantaions in this research areas in the future, the auther proposal and suggestion conducts simultaneously the solutions about as techonogy solutions, finance and labor, in households (supply products) and the factories with solving enhancements quality and diver of output products, labor force
Key words: Forest plantaion, timber-product, market, output, product,…
Ngày nhận bài: 25/7/2017; Ngày phản biện: 21/8/2017; Ngày duyệt đăng: 28/9/2017
*
Email: phuonghuukhiem@tnu.edu.vn
Trang 10oµ soT T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ
SOCIAL SCIENCE – HUMANITIES – ECONOMICS
Pham Van Cuong - Studying adaptation to the training menthod of the credit for northern mountainous ethnic
Bui Linh Phuong, Mai Thi Ngoc Ha - Analysis and comparison of mathematical content in the forestry
Trinh Thi Kim Thoa - The situation and the solutions to improve the quality of teaching and learning Ho Chi
Ma Thi Ngan - Some features should be regarded when building a physical education program to increase the
Duong Thi Huong Lan, Nguyen Vu Phong Van, Nguyen Hien Luong - Applied experiential learning
activities in an English speaking lesson of University of Economics and Business Administration - Thai
Le Ngoc Nuong, Nguyen Thi Ha, Nguyen Hai Khanh - Building the theory of integrity of satisfaction in the
Doan Quang Thieu - Establishing the standard sample system of occurred economic operations and accounting
Do Thi Ha Phuong, Doan Thi Mai, Chu Thi Ha, Nguyen Thi Giang - Factors influencing willingness to pay
Vu Hong Van, Luong Thi Mai Uyen - Strengthen competitive capability of mechanical industry in the process
Nguyen Thi Linh Trang, Bui Thi Ngan - The development of non - cash payment service at military JSC Bank
Nguyen Thi Lan Anh, Nong Thi Van Thao - Building the system of management support in scoring staffs at
Nguyen Thu Nga, Kieu Thi Khanh, Hoang Van Du - Investigation of commercial bank’s efficiency with
Nguyen Thi Van, Nguyen Bich Hong - Solutions to promote the economic structural transformation in Bac
Dam Thi Phuong Thao, Nguyen Tien Manh - Estimating the effect of some factors on operational efficiency
Journal of Science and Technology
170 (10)