1. Trang chủ
  2. » Lịch sử

TIẾP CẬN ĐỊA LÝ TRONG NGHIÊN CỨU QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN KINH TẾ GẮN VỚI ĐẢM BẢO AN NINH QUỐC PHÒNG KHU VỰC CÁC XÃ VÙNG CAO BIÊN GIỚI (VÍ DỤ TẠI TỈNH HÀ GIANG)

11 22 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dương Thị Hương Lan, Nguyễn Vũ Phong Vân, Nguyễn Hiền Lương - Ứng dụng các hoạt động học tập trải nghiệm vào trong một giờ học nói tiếng Anh ở Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh[r]

Trang 1

Tập 170, số 10, 2017

Trang 2

T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ

CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN – KINH TẾ

Lưu Bình Dương, Nguyễn Văn Tiến - “Thiêng hóa” - yếu tố cơ bản cấu thành luật tục 3

Phạm Văn Cường - Nghiên cứu sự thích ứng với phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ của sinh viên dân

Bùi Linh Phượng, Mai Thị Ngọc Hà - Phân tích, so sánh nội dung toán học trong chương trình đào tạo ngành

Trịnh Thị Kim Thoa - Thực trạng và giải pháp để nâng cao chất lượng học tập môn tư tưởng Hồ Chí Minh tại

Thân Thị Thu Ngân - Kỷ niệm 90 năm ra đời tác phẩm “Đường Kách mệnh” (1927 – 2017) - Ý nghĩa lý luận

Ma Thị Ngần - Một số đặc điểm cần lưu ý khi xây dựng chương trình môn học giáo dục thể chất nhằm nâng

Dương Thị Hương Lan, Nguyễn Vũ Phong Vân, Nguyễn Hiền Lương - Ứng dụng các hoạt động học tập

trải nghiệm vào trong một giờ học nói tiếng Anh ở Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh – Đại học

Lê Ngọc Nương, Nguyễn Thị Hà, Nguyễn Hải Khanh - Xây dựng khung lý thuyết về sự hài lòng trong công việc

Đoàn Quang Thiệu - Xây dựng hệ thống nghiệp vụ kinh tế phát sinh và bộ chứng từ kế toán mẫu để thực hành

Đỗ Thị Hà Phương, Đoàn Thị Mai, Chu Thị Hà, Nguyễn Thị Giang - Các yếu tố ảnh hưởng tới mức sẵn lòng

Vũ Hồng Vân, Lương Thị Mai Uyên - Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành cơ khí trong quá trình hội nhập

Nguyễn Thị Linh Trang, Bùi Thị Ngân - Phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng

Nguyễn Thị Lan Anh, Nông Thị Vân Thảo - Xây dựng hệ thống hỗ trợ quản lý chấm điểm cán bộ tại sở giao

Nguyễn Thu Nga, Kiều Thị Khánh, Hoàng Văn Dư - Hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng khi tính đến rủi

Nguyễn Thị Vân, Nguyễn Bích Hồng - Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bắc Giang theo

Đàm Thị Phương Thảo, Nguyễn Tiến Mạnh - Đánh giá ảnh hưởng của một số nhân tố đến hiệu quả hoạt động

Journal of Science and Technology

170 (10)

Trang 3

Trần Bảo Ngọc, Lê Thị Lựu, Bùi Thanh Thủy và cộng sự - Nhận thức của sinh viên Dược về môi trường giáo

Lương Ngọc Huyên - Thực trạng việc vận dụng toán học vào thực tiễn trong dạy học và kiểm tra, đánh giá kết

quả học tập môn Toán của học sinh lớp 10 ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Tuyên

Nguyễn Thị Hồng, Nguyễn Xuân Trường, Hoàng Thị Giang - Tiếp cận địa lý trong nghiên cứu quan hệ

giữa phát triển kinh tế gắn với đảm bảo an ninh quốc phòng khu vực các xã vùng cao biên giới (ví dụ tại tỉnh

Đỗ Thị Quyên, Nguyễn Thị Kim Tuyến - Nghiên cứu các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến hành vi mua trực tuyến của

Phương Hữu Khiêm, Nguyễn Đắc Dũng, Nguyễn Ngọc Lý - Phát triển thị trường sản phẩm đầu ra cho rừng

Văn Thị Quỳnh Hoa, Nguyễn Lan Hương - Hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc giảng

Mai Văn Cẩn - Sử dụng hình tượng nhân vật Thạch Sanh trong một số hoạt động dạy thực hành tiếng Anh bậc

Đỗ Thị Hương Liên - Bàn thêm về cuộc khởi nghĩa của Hoàng Đình Kinh (Cai Kinh) và mối liên hệ với các

Phạm Văn Quang, Nguyễn Huy Ánh - Giải pháp tăng cường tính tích cực, chủ động trong học tập của sinh

Nguyễn Thị Minh Thu, Bùi Thị Ngọc Anh - Ca dao, dân ca làng chài Vịnh Hạ Long - nét văn hóa mang đậm

Đặng Anh Tuấn, Ngô Thị Minh Hằng, Phạm Thị Trung Hà - Sự hồi phục của thị trường bất động sản và rủi

Lê Văn Thơ, Vũ Anh Tuấn - Đánh giá tình hình sử dụng đất tại các khu đô thị trên địa bàn thành phố Việt Trì,

Trang 4

Nguyễn Thị Hồng và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 170(10): 143 - 148

143

TIẾP CẬN ĐỊA LÝ TRONG NGHIÊN CỨU QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN

KINH TẾ GẮN VỚI ĐẢM BẢO AN NINH QUỐC PHÒNG KHU VỰC

CÁC XÃ VÙNG CAO BIÊN GIỚI (VÍ DỤ TẠI TỈNH HÀ GIANG)

Nguyễn Thị Hồng1*, Nguyễn Xuân Trường2, Hoàng Thị Giang3

1

Trường Đại học Sư phạm - ĐH Thái Nguyên,

2

Đại học Thái Nguyên, 3 Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Giang

TÓM TẮT

Nội dung bài viết là một phần kết quả nghiên cứu của đề tài nghiên cứu khoa học giải pháp phát

triển kinh tế nhằm giữ vững an ninh chủ quyền khu vực biên giới phía Bắc nước ta (qua thực tế

tỉnh Hà Giang) Bằng phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành, đề tài đã phân tích,

đánh giá thực trạng phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ an ninh biên giới tỉnh Hà Giang Trong

phạm vi bài viết này, tác giả đề cập tới các nội dung liên quan đến: (i) Mô hình không gian tương

tác kinh tế - quốc phòng làm cơ sở luận chứng (lí luận và thực tiễn) cho sự phát triển đột phá về

kinh tế - quốc phòng nhằm giữ vững an ninh chủ quyền khu vực biên giới phía Bắc qua thực tế

tỉnh Hà Giang (ii) Việc đề xuất mô hình không gian tương tác kinh tế - quốc phòng là cơ sở xây

dựng quan điểm và cách tiếp cận kinh tế quốc phòng cho các xã vùng cao biên giới, đó là: Kết hợp

xây dụng xã nông thôn mới với giảm nghèo đa chiều bền vững; Gắn hoạt động kinh tế biên mậu,

phát triển thương mại và du lịch với phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng; Phát huy vai

trò quan trọng của các Đoàn kinh tế - quốc phòng

Từ khóa: Biên giới, kinh tế, quốc phòng, Hà Giang, cửa khẩu

ĐẶT VẤN ĐỀ *

Giữa phát triển kinh tế và giữ gìn an ninh chủ

quyền của mỗi quốc gia có mối quan hệ hết

sức chặt chẽ, bởi vì phát triển kinh tế chính là

tiềm lực vững chắc để giữ gìn an ninh, chủ

quyền Trên quan điểm phát triển, Hà Giang

được đánh giá có lợi thế về đường biên giới

dài tiếp giáp với một thị trường rộng lớn và

giàu tiềm năng (hai tỉnh Vân Nam, Quảng

Tây của Trung Quốc) Phát triển mậu dịch

biên giới và kinh tế cửa khẩu được xác định

là một chủ trương lớn, nhất quán của Hà

Giang với mục tiêu khai thác tối đa các lợi thế

của địa phương để phát triển kinh tế - xã hội

(KT-XH), nâng cao thu nhập cho nhân dân

gắn với mục tiêu giữ vững an ninh, chủ quyền

biên giới Do vậy, nghiên cứu và đề xuất các

giải pháp và mô hình phát triển kinh tế, khai

thác hiệu quả tiềm năng của khu vực biên

giới, nhất là các giải pháp xóa đói giảm

nghèo, đảm bảo an ninh, chủ quyền khu vực

biên giới phía Bắc nước ta có ý nghĩa cả về

mặt lý luận và thực tiễn

DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Dữ liệu Nguồn thông tin tư liệu (dân số, tình hình phát triển KT-XH của Hà Giang; phát triển kinh tế - xã hội các xã vùng biên, an ninh biên giới tỉnh Hà Giang, ) được cung cấp từ số liệu thứ cấp của các cơ quan quản lí Nhà nước như: Quy hoạch tổng thể phát kinh tế - xã hội (KT-XH) tỉnh Hà Giang, Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Hà Giang, Niên giám thống kê Hà Giang, Hội thảo phát triển kinh tế - xã hội Hà Giang trong mối liên kết vùng Đông Bắc và Tây Bắc, Các nguồn thông tin được bổ sung bởi nhóm tác giả khi tiến hành khảo sát điền dã; tham vấn chuyên gia

Quan điểm và phương pháp nghiên cứu Địa lý học là một hệ thống các khoa học tự nhiên và xã hội nghiên cứu các thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên và sản xuất và các thành phần của chúng” (Lê Bá Thảo, 1983) Do hướng nghiên cứu toàn diện và tổng hợp nên khoa học địa lý có khả năng chuyển sự phân tích riêng rẽ từng mặt sang sự phân tích hệ

Trang 5

Nguyễn Thị Hồng và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 170(10): 143 - 148

thống, tổng hợp Tiếp cận địa lý học là cách

tiếp cận đánh giá tổng hợp các thể tổng hợp tự

nhiên và kinh tế - xã hội nhằm xác định được

mối quan hệ và sự biến đổi của các thành

phần của lãnh thổ, cụ thể ở đây là hoạt động

phát triển kinh tế gắn với đảm bảo an ninh

quốc phòng khu vực biên giới phía Bắc nước

ta (qua thực tế tỉnh Hà Giang)

Trên cơ sở tiếp cận địa lý học (tiếp cận tổng

hợp, hệ thống lãnh thổ), vận dụng phương

pháp luận khoa học duy vật biện chứng, duy

vật lịch sử; quan điểm hệ thống và lãnh thổ,

nghiên cứu này áp dụng các phương pháp

nghiên cứu chủ yếu sau:

(i) Phương pháp thu thập, xử lý và tổng hợp

tài liệu;

(ii) Phương pháp phân tích, so sánh;

(iii) Phương pháp khảo sát thực địa;

(iv) Phương pháp chuyên gia

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN Nhận dạng vùng giáp biên Việt - Trung tỉnh Hà Giang

Tỉnh Hà Giang có đường biên giới chung với các tinh Vân Nam và Quảng Tây, Trung Quốc, chiều dài 277,525 km với tổng số 442 cột mốc, trong đó có 358 mốc chính và 84 mốc phụ Cấu trúc không gian lãnh thổ vùng xã biên giới Việt - Trung Hà Giang gồm 4 bộ phận: (i) Đường biên giới; (ii) Hành lang biên giới; (iii) Các xã biên giới; (iv) Cửa khẩu [1] Nhận thức tầm quan trọng của vùng xã giáp biên, tỉnh Hà Giang đã phê

duyệt "Chương trình tổng thể phát triển kinh

tế - xã hội và tăng cường an ninh, quốc phòng 33 xã và 1 thị trấn vùng cao biên giới tỉnh Hà Giang" Theo đó, địa bàn thực hiện

Chương trình gồm 33 xã và 1 thị trấn thuộc

7 huyện: Mèo Vạc, Đồng Văn, Yên Minh, Quản Bạ, Hoàng Su Phì, Vị Xuyên, Xín Mần Tổng diện tích toàn vùng là 118.514

ha với 11.930 hộ, trên 71.000 người [2]

Thiên Bảo Thanh Thủy

Đô Long

Đổng Cán

Điền Bồng Săm Pun

VÂN NAM

QUẢNG TÂY

HÀ GIANG

Phó Bảng

Xín Mần

Biên giới quốc gia

Hành lang biên giới

Tương tác KT - BM

Tương tác KT - QP

Cửa khẩu

CHÚ GIẢI

Ranh giới xã

TRUNG QUỐC

VIỆT NAM

KT QP

Hình 1 Phác thảo sơ đồ tương tác không gian kinh tế - quốc phòng khu vực các xã giáp biên giới

Việt Nam - Trung Quốc tỉnh Hà Giang

Trang 6

Nguyễn Thị Hồng và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 170(10): 143 - 148

145

Do đặc điểm vị trí Địa lýcác xã giáp biên là

nơi diễn ra các hoạt động về kinh tế cửa khẩu,

du lịch, đồng thời là nơi có ý nghĩa quan

trọng về kinh tế - quốc phòng, cho nên nội

dung phát triển kinh tế - xã hội kết hợp đảm

bảo an ninh quốc phòng luôn được quan tâm

trong các chính sách phát triển kinh tế, trọng

việc xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế

Điểm quan trọng từ thực tế vùng xã biên giới

là sự hình thành không gian lãnh thổ tương

tác kinh tế - quốc phòng, tương ứng với nó là

Mô hình không gian tương tác phát triển vùng

xã giáp biên Việt - Trung, gọi tắt là Mô hình

không gian tương tác kinh tế - quốc phòng

(KT-QP) vùng 33 xã và 01 thị trấn giáp biên

(Hình 1)

Đặc điểm tổng quát của Mô hình tương tác

kinh tế-quốc phòng (KT-QP) vùng xã giáp

biên là sự liên hoàn của Mô hình tổng quát

không gian phát triển tỉnh Hà Giang, gồm các

điểm trung tâm là các xã thị trấn cửa khẩu,

quan trọng nhất là cửa khẩu quốc tế Thanh

Thủy và các cửa khẩu địa phương: Phố Bảng,

Xín Mần, Săm Pun Khu kinh tế - quốc phòng

(KT-QP) do Đoàn KT-QP 313 - 314 cùng với

các Đồn Biên Phòng tại các xã Tòng Vài, Ma

Lé được coi là có vai trò vô cùng quan trọng

Tuy nhiên, công tác quản lý, bố trí, ổn định

dân cư gắn với đảm bảo an ninh biên giới ở

các xã vùng cao biên giới tỉnh Hà Giang còn

một số hạn chế do nguyên nhân khách quan

và chủ quan: (i) Các điểm dân cư ở các xã

biên giới nhỏ lẻ, phân tán với cự ly các điểm

dân cư quá xa nhau gây khó khăn trong việc

xây dựng công trình hạ tầng về giao thông,

điện sinh hoạt, các công trình phúc lợi công

cộng, các dịch vụ công để phát triển; (ii) các

xã biên giới vùng núi phía Tây (Hoàng Su

Phì, Xín Mần) và một số xã vùng cao nguyên

đá thường xuyên chịu ảnh hưởng của lũ quét,

sạt lở đất, có nguy cơ hiểm họa cao đến định

cư nơi an toàn; (iii) khu vực các xã vùng cao,

địa bàn hành chính rộng, dân cư thưa thớt kéo

theo nhiều vấn đề phức tạp về an ninh, quốc

phòng khu vực biên giới như: xâm canh, xâm

cư, lấn chiếm đường biên, buôn lậu, mặc dù

việc di chuyển dân đến các thôn (bản) sát biên

giới nhằm xóa xóm trắng, hình thành thế trận

quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân phục vụ phân giới cắm mốc đã được quan tâm thực hiện; (iv) Những năm gần đây, do nhận thức hạn chế của một số người dân về chủ quyền lãnh thổ và biên giới, do nhu cầu muốn tìm việc làm và thu nhập, trên địa bàn các xã biên giới tỉnh Hà Giang có nhiều người dân vượt biên sang Trung Quốc làm thuê, nhất là vào thời điểm khi mùa màng đã thu hoạch xong, hay những tháng cận Tết, điều này dẫn đến hậu quả xấu về xã hội và an ninh trật tự khu vực biên giới

Một số giải pháp đột phá phát triển kinh tế

- quốc phòng cho vùng xã giáp biên

Kết hợp xây dựng xã nông thôn mới với giảm nghèo đa chiều bền vững

Vùng xã giáp biên thuộc địa bàn các huyện đặc biệt khó khăn (Huyện 30a), được quan tâm bằng việc triển khai Chương trình Giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Hà Giang giai đoạn 2016 - 2020 [2] Hà Giang cũng là địa phương tiến hành xây dựng nông thôn mới khá mạnh mẽ và sáng tạo, trong đó phải

kể tới sự mềm hòa hệ thống chỉ tiêu nông thôn mới phù hợp với các vùng đặc biệt khó khăn trên cao nguyên đá Đồng Văn và cao nguyên đất Hoàng Su Phì Để triển khai Chương trình xây dựng nông thôn mới cần được coi là cơ hội tốt để tích hợp nội dung giảm nghèo đa chiều trên địa bàn toàn tỉnh Hà Giang, đặc biệt là tại địa bàn các xã đặc biệt vùng biên Tại Chương trình Giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Hà Giang (số 190/CTr-UBND, ngày 05/08/2016 tỉnh Hà Giang) đã tiếp cận mục tiêu giảm nghèo đa chiều bền vững nhằm hạn chế tái nghèo, tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo tiếp cận một cách tốt nhất các dịch vụ xã hội cơ bản: y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch sinh hoạt và vệ sinh, tiếp cận thông tin Trên địa bàn các xã đang triển khai các dự án giảm nghèo bền vững như dự án 30a, Chương trình 135, Truyền thông giảm nghèo về thông tin, [3]

Về Tiếp cận dịch vụ y tế, Hà Giang đang triển khai đồng bộ việc hỗ trợ cấp thẻ bảo hiểm y tế, khám chữa bệnh cho người nghèo, cận nghèo, mới thoát nghèo; triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ người nghèo mắc bệnh nặng, bệnh

Trang 7

Nguyễn Thị Hồng và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 170(10): 143 - 148

hiểm nghèo, bệnh nhân điều trị nội trú từ

bệnh viện huyện; ưu tiên đầu tư các xã đặc

biệt khó khăn; Về tiếp cận Giáo dục, tại các

địa bàn xã đặc biệt khó khăn đang triển khai

miễn phí, giảm học phí, hỗ trợ chi phí cho trẻ

em mẫu giao và học sinh phố thông; củng cố

các trường nội trú, bán trú, hỗ trợ tiền mặt có

điều kiện cho trẻ mẫu giáo, học sinh nghèo,

học sinh dân tộc thiểu số ở tất các cấp học

thuộc các trường, lớp dân tộc nội trú các

huyện, xã thôn nghèo, đặc biệt khó khăn; Về

nhà ở, thực hiện hiện ưu tiên đối với các hộ

đặc biệt khó khăn, hỗ trợ cho các hộ gia đình

sinh sống tại các địa bàn đặc biệt khó khăn,

những nơi thường xuyên xảy ra thiên tai ;

Về Cung cấp nước sạch và vệ sinh, triển khai

khai Đề án xây dựng hồ treo cho một số xã

vùng cao khó khăn về nước sinh hoạt trong

mùa khô; ; Về Tiếp cận thông tin, xây dựng

và nâng cấp hệ thống thông tin liên lạc, hỗ trợ

phương tiện nghe nhìn Triển khai chính

sách hỗ trợ pháp lí miễn phí cho người nghèo,

người dân tộc thiểu số, tạo điều kiện cho

người nghèo hiểu biết quyền, nghĩa vụ của

mình, chủ động tiếp cận chính sách trợ giúp

của Nhà nước, vươn lên thoát nghèo [3]

Gắn hoạt động kinh tế biên mậu, thương

mạị, du lịch với phát triển kinh tế - xã hội và

đảm bảo an ninh quốc phòng

Với Cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy và Khu

Kinh tế cửa khẩu Thanh thủy dọc theo trục

không gian liên kết kinh tế Hà Giang - Vân

Nam Trung Quốc, việc phát triển các quan hệ

kinh tế biên mậu, thương mại, du lịch qua

biên giới cần được coi là giải pháp đột phá

cho phát triển KT- QP vùng xã giáp biên

Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

tuyến biên giới Việt – Trung cần xác định

mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội tuyến biên

giới Việt - Trung nhằm đưa cửa khẩu phụ để

mở rộng phát triển kinh tế, thương mại hai

bên đường biên Ngành du lịch tỉnh Hà Giang

đã có những bước đi vững chắc, tạo ra nhiều

điều kiện thuận lợi để thúc đẩy các ngành

kinh tế khác phát triển, nhất là ngành dịch vụ

- một ngành được coi là có tốc độ phát triển

nhanh nhất hiện nay [4]

Tuy nhiên, xét trên phương diện lợi ích phòng thủ đất nước, giữ vững an ninh chính trị, trật

tự an toàn xã hội và xây dựng biên giới Việt - Trung hòa bình, hữu nghị, hợp tác thì Hà Giang luôn đóng một vai trò tiền đề hết sức quan trọng Hiện tại, việc phát triển kinh tế mậu biên và hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu hàng hóa của tỉnh chủ yếu thông qua cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy và 3 cửa khẩu phụ là Phó Bảng, Xín Mần, Săm Pun

cùng với đó là 17 lối mở qua lại biên giới

Mô hình Tương tác KT-QP vùng xã biên giới gợi ý một cơ hội mới cho phát triển du lịch kinh tế sinh thái nhân văn rất hấp dẫn và độc đáo Trong đó nổi lên cơ hội của tuyến du lịch tới vùng xã biên giới với 2 địa danh nổi bật là

xã Lũng Cũ (huyện Đồng Văn với Cột cờ Lũng Cú - với ý nghĩa khẳng định an ninh chủ quyền quốc gia nơi địa đầu phía bắc đất nước Đồng thời, Nghĩa trang Liệt sỹ Vị Xuyên tại huyện Vị Xuyên, minh chứng cho chủ nghĩa anh hùng bất khuất của dân tộc trong Chiến tranh biên giới năm 1979 để bảo

vệ an ninh chủ quyền phía Bắc đất nước

Tuyến du lịch sinh thái nhân văn lên cao nguyên đá Đồng Văn, di sản thiên nhiên thuộc Di sản địa chất toàn cầu được công nhận là Công viên địa chất chất toàn cầu đang trở thành điểm du lịch rất quan trọng của tỉnh

Hà Giang Ngoài di sản thiên nhiên, khách du lịch có cơ hội tìm hiểu văn hóa độc đáo của dân tộc Mông qua các lễ hội, sinh hoạt chợ của người Mông, đặc biệt là Chợ tình Khau Vai được tổ chức mùa xuân hàng năm (28 tháng Ba âm lịch) Từ Thành phố Hà Giang

về phía tây, kết nối với Thành phố Lào Cai là tuyến du lịch sinh thái nhân văn với ruộng bậc thang Hoàng Su Phì, bãi đá cổ Xín Mần, là một địa chỉ du lịch hấp dẫn hiện nay với các hãng du lịch trong nước và nước ngoài

Để góp phần đẩy nhanh kinh tế du lịch kết hợp với an ninh quốc phòng, cần chú ý một số vấn đề sau:

Thứ nhất, Chú trọng nghiên cứu đề xuất

những sản phẩm du lịch đặc thù được phát triển dựa trên việc phát huy những lợi thế so sánh bước đầu đã được định vị

Trang 8

Nguyễn Thị Hồng và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 170(10): 143 - 148

147

Thứ hai, Đối với Hà Giang cần phát huy lợi

thế đặc biệt của Cao nguyên đá, hình thành

“văn hóa đá” trên cơ sở làm nổi bật nét đẹp

tự nhiên với các nét văn hóa độc đáo của các

dân tộc

Phát triển du lịch tới vùng xã biên giới cần

được coi là sản phẩm du lịch đặc thù, tạo lợi

thế cạnh tranh, thu hút khách du lịch Đây là

yếu tố quan trọng thúc đẩy đầu tư, đặc biệt là

đầu tư từ xã hội cho phát triển các sản phẩm

du lịch có sức cạnh tranh cao dựa trên những

lợi thế so sánh của du lịch Hà Giang

Phát huy vai trò quan trọng của các Đoàn

kinh tế - quốc phòng

Đoàn KT-QP 313 đứng chân trên địa bàn 13

xã biên giới thuộc 3 huyện: Vị Xuyên, Xín

Mần và Hoàng Su Phì Trong số 89 thôn, bản,

thì có tới 34 thôn giáp biên giới với 12 dân

tộc Trên địa bàn có 102,8 km đường biên

giới tiếp giáp với nước bạn, 106 cột mốc (90

mốc chính, 16 mốc phụ) Đời sống nhân dân

trong khu vực nhìn chung còn khó khăn, tỷ lệ

hộ nghèo chiếm 33,8% Những năm qua,

Đoàn KT-QP 313 chủ động tham mưu, phối

hợp với tỉnh Hà Giang, Huyện ủy, HĐND,

UBND 3 huyện trên địa bàn kiện toàn hệ

thống chính trị từ thôn, bản đến xã; tham gia

huấn luyện lực lượng dân quân, tự vệ, do đó,

tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã

hội ổn định và được giữ vững Với những

việc làm thiết thực cùng trách nhiệm, nghĩa

tình của mình, cán bộ, chiến sĩ Đoàn KT-QP

313 đã góp phần tích cực làm thay đổi diện

mạo của một vùng đất biên giới nghèo nàn,

lạc hậu, tạo dựng niềm tin vững chắc trong

lòng nhân dân

Sau gần 10 năm thực hiện nhiệm vụ (từ năm

2005 đến nay), cùng với Đoàn KT-QP 313,

Đoàn KT-QP 314 đã thực hiện tốt các nhiệm

vụ, dự án, góp phần quan trọng vào việc phát

triển KT -XH, đảm bảo an ninh quốc phòng

và xóa đói giảm nghèo của địa bàn các xã

được giao Để đáp ứng nhu cầu phát triển, tổ

chức lại các Đoàn KT-QP, ngày 22/10/2013,

Bộ Quốc phòng ban hành Quyết định sáp nhập nguyên trạng Đoàn KT-QP 314 vào Đoàn KT- QP 313; tổ chức lại Đoàn KT-QP

313 từ cấp Trung đoàn thành cấp Lữ đoàn, trực thuộc Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Hà Giang [1]

Sự liên kết kinh tế, hợp tác kinh tế là một yếu

tố hết sức quan trọng để góp phần loại trừ những hoạt động xâm lấn, gây xung đột cục

bộ về vũ trang, tức là giải quyết những vấn đề

về quốc phòng - an ninh Ngược lại, giải quyết tốt những nguyên nhân dẫn đến xung đột trực tiếp, loại trừ các yếu tố tiềm ẩn nguy

cơ vũ trang bạo loạn, nguy cơ hoạt động phá hoại, cấu kết chống phá cũng như đấu tranh

có hiệu quả với các tội phạm kinh tế sẽ tạo điều kiện cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh, hợp tác kinh tế giữa các doanh nghiệp

và người dân hai bên biên giới được an toàn, thông thoáng hiệu quả Đó chính là góp phần củng cố hòa bình, hữu nghị, tạo điều kiện ổn định cho phát triển

KẾT LUẬN

Mô hình tương tác kinh tế - quốc phòng làm

cơ sở luận chứng lí luận và thực tiễn cho sự phát triển đột phá về kinh tế - xã hội nhằm giữ vững an ninh chủ quyền khu vực biên giới phía Bắc qua thực tế tỉnh Hà Giang Việc đề xuất Mô hình không gian tương tác kinh tế - quốc phòng là sự vận dụng mô hình Một trục hai cánh và vùng phát triển trung tâm, trên cơ

sở xác định quan điểm và cách tiếp cận kinh

tế - quốc phòng cho các xã gọi chung là đặc biệt nhạy cảm về kinh tế - quốc phòng Một

số giải pháp đột phá trong phát triển kinh tế được đề xuất đó là: Kết hợp xây dựng xã nông thôn mới với giảm nghèo đa chiều bền vùng; gắn hoạt động kinh tế biên mậu, phát triển thương mại và du lịch với phát triển Kinh tế và an ninh quốc phòng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ban Chỉ đạo Tây Bắc, Ban Kinh tế Trung ương,

Tỉnh uỷ & UBND Hà Giang (2015), Kỷ yếu Hội

thảo phát triển kinh tế - xã hội Hà Giang trong

Trang 9

Nguyễn Thị Hồng và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 170(10): 143 - 148

mối liên kết vùng Đông Bắc và Tây Bắc, Hà

Giang, 2015

2 Thủ tướng Chính phủ (1998), Chương trình

tổng thể phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường

an ninh, quốcphòng 33 xã và 1 thị trấn vùng cao

biên giới tỉnh Hà Giang, ban hành theo Quyết

định số 89/1998/QĐ-TTg ngày 7/5/1998

3 UBND tỉnh Hà Giang (2016), Chương trình

Giảm nghèo bền vững trên địa bàn Hà Giang giai đoạn 2016 - 2010 (190/Ctr-UBND - 05/6/2016)

4 Vũ Như Vân (1998), “Các mô hình không gian phát triển mở của vùng Trung du và miền núi phía

Bắc Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Việt Nam

học lần thứ nhất, tập IV, Nxb Thế giới, Hà Nội

SUMMARY

GEOGRAPHICAL APPROACHES IN RESEARCH OF THE

RELATIONSHIP BETWEEN ECONOMIC DEVELOPMENT

AND ENSURING NATIONAL DEFENSE AND SECURITY

FOR BORDER COMMUNES, HA GIANG PROVINCE

Nguyen Thi Hong1*, Nguyen Xuan Truong2, Hoang Thi Giang3

1

University of Education - TNU,

2

Thai Nguyen University, 3 Ha Giang College of Education

This paper is a part of the research on economic development solutions to protect the security and sovereignty of the northern border region, especially Ha Giang province Using disciplinary and interdisciplinary methods, the paper analyzed the status of economic development and border security protection of Ha Giang province This report mentions: (i) Spatial interaction models of defense economy as the theoretical and practical basis for the breakthrough development of economy and defense in order to maintain the security and sovereignty of the northern border region, especially Ha Giang province; (ii) Proposed views and approaches for cross-border upland communes based on the spatial interaction models of defense economy including (1) combining the construction of new rural communes with multi-dimensional poverty reduction, (2) combining cross-border economic and trading activities with the development of tourism, socio-economy and national defense and security, (3) Promoting the important role of the economic-defense unites

Keywords: National borders, economy, defense, Ha Giang, border gate

Ngày nhận bài: 12/4/2017; Ngày phản biện: 29/4/2017; Ngày duyệt đăng: 28/9/2017

*

Tel: 0912 847 458; Email: hongsptndiali@gmail.com

Trang 10

soT T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ

SOCIAL SCIENCE – HUMANITIES – ECONOMICS

Pham Van Cuong - Studying adaptation to the training menthod of the credit for northern mountainous ethnic

Bui Linh Phuong, Mai Thi Ngoc Ha - Analysis and comparison of mathematical content in the forestry

Trinh Thi Kim Thoa - The situation and the solutions to improve the quality of teaching and learning Ho Chi

Ma Thi Ngan - Some features should be regarded when building a physical education program to increase the

Duong Thi Huong Lan, Nguyen Vu Phong Van, Nguyen Hien Luong - Applied experiential learning

activities in an English speaking lesson of University of Economics and Business Administration - Thai

Le Ngoc Nuong, Nguyen Thi Ha, Nguyen Hai Khanh - Building the theory of integrity of satisfaction in the

Doan Quang Thieu - Establishing the standard sample system of occurred economic operations and accounting

Do Thi Ha Phuong, Doan Thi Mai, Chu Thi Ha, Nguyen Thi Giang - Factors influencing willingness to pay

Vu Hong Van, Luong Thi Mai Uyen - Strengthen competitive capability of mechanical industry in the process

Nguyen Thi Linh Trang, Bui Thi Ngan - The development of non - cash payment service at military JSC Bank

Nguyen Thi Lan Anh, Nong Thi Van Thao - Building the system of management support in scoring staffs at

Nguyen Thu Nga, Kieu Thi Khanh, Hoang Van Du - Investigation of commercial bank’s efficiency with

Nguyen Thi Van, Nguyen Bich Hong - Solutions to promote the economic structural transformation in Bac

Dam Thi Phuong Thao, Nguyen Tien Manh - Estimating the effect of some factors on operational efficiency

Journal of Science and Technology

170 (10)

Ngày đăng: 15/01/2021, 04:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Phó Bảng - TIẾP CẬN ĐỊA LÝ TRONG NGHIÊN CỨU QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN  KINH TẾ GẮN VỚI ĐẢM BẢO AN NINH QUỐC PHÒNG KHU VỰC  CÁC XÃ VÙNG CAO BIÊN GIỚI (VÍ DỤ TẠI TỈNH HÀ GIANG)
h ó Bảng (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w