1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN DƯỢC VỀ MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC-ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN BẰNG BẢNG HỎI DREEM

11 86 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dương Thị Hương Lan, Nguyễn Vũ Phong Vân, Nguyễn Hiền Lương - Ứng dụng các hoạt động học tập trải nghiệm vào trong một giờ học nói tiếng Anh ở Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh[r]

Trang 1

Tập 170

Trang 2

T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ

CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN – KINH TẾ

Lưu Bình Dương, Nguyễn Văn Tiến - “Thiêng hóa” - yếu tố cơ bản cấu thành luật tục 3

Nguyễn Thị Mai Chanh, Bùi Thuỳ Linh - Phương thức huyền thoại hoá nhân vật trong Tửu quốc của Mạc Ngôn 9

Phạm Văn Cường - Nghiên cứu sự thích ứng với phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ của sinh viên dân

Bùi Linh Phượng, Mai Thị Ngọc Hà - Phân tích, so sánh nội dung toán học trong chương trình đào tạo ngành

nông lâm nghiệp của một số trường đại học trên thế giới 19

Trịnh Thị Kim Thoa - Thực trạng và giải pháp để nâng cao chất lượng học tập môn tư tưởng Hồ Chí Minh tại

Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông – Đại học Thái Nguyên 25

Thân Thị Thu Ngân - Kỷ niệm 90 năm ra đời tác phẩm “Đường Kách mệnh” (1927 – 2017) - Ý nghĩa lý luận

và thực tiễn việc nghiên cứu tác phẩm “Đường Kách mệnh” của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh 31

Ma Thị Ngần - Một số đặc điểm cần lưu ý khi xây dựng chương trình môn học giáo dục thể chất nhằm nâng

Dương Thị Hương Lan, Nguyễn Vũ Phong Vân, Nguyễn Hiền Lương - Ứng dụng các hoạt động học tập

trải nghiệm vào trong một giờ học nói tiếng Anh ở Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh – Đại học

Lê Ngọc Nương, Nguyễn Thị Hà, Nguyễn Hải Khanh - Xây dựng khung lý thuyết về sự hài lòng trong công việc

của người lao động tại Công ty Cổ phần Quản lý và Xây dựng giao thông Thái Nguyên 47

Đoàn Quang Thiệu - Xây dựng hệ thống nghiệp vụ kinh tế phát sinh và bộ chứng từ kế toán mẫu để thực hành

Đỗ Thị Hà Phương, Đoàn Thị Mai, Chu Thị Hà, Nguyễn Thị Giang - Các yếu tố ảnh hưởng tới mức sẵn lòng

chi trả của người tiêu dùng đối với thực phẩm an toàn trên địa bàn thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên 59

Nguyễn Thị Thanh Thủy - Phân tích tình hình tài chính của công ty cổ phần FPT 65

Vũ Hồng Vân, Lương Thị Mai Uyên - Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành cơ khí trong quá trình hội nhập

kinh tế quốc tế 71

Nguyễn Thị Linh Trang, Bùi Thị Ngân - Phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng

Thương mại Cổ phần quân đội – chi nhánh Thái Nguyên 77

Nguyễn Thị Lan Anh, Nông Thị Vân Thảo - Xây dựng hệ thống hỗ trợ quản lý chấm điểm cán bộ tại sở giao

Nguyễn Thu Nga, Kiều Thị Khánh, Hoàng Văn Dư - Hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng khi tính đến rủi

Nguyễn Thị Vân, Nguyễn Bích Hồng - Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bắc Giang theo

hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2020, tầm nhìn 2030 97

Đàm Thị Phương Thảo, Nguyễn Tiến Mạnh - Đánh giá ảnh hưởng của một số nhân tố đến hiệu quả hoạt động

kinh doanh của các công ty bất động sản niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam 103

Phạm Thị Huyền - Án lệ và việc áp dụng án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam 109

Dương Thị Huyền - Mối quan hệ của thương điếm Anh ở Hirado (1613- 1623) với chính quyền Nhật Bản 115

Trần Nguyễn Sĩ Nguyên - Dân vận khéo là vấn đề cốt lõi trong nghệ thuật hoạt động chính trị Hồ Chí Minh 121

Đinh Thị Giang - Quan điểm của J.Locke về nguồn gốc và bản chất của nhà nước 127

Journal of Science and Technology

170 (10)

N¨m 2017

Trang 3

Trần Bảo Ngọc, Lê Thị Lựu, Bùi Thanh Thủy và cộng sự - Nhận thức của sinh viên Dược về môi trường giáo

dục tại trường Đại học Y Dược - Đại học Thái Nguyên bằng bảng hỏi DREEM 131 Lương Ngọc Huyên - Thực trạng việc vận dụng toán học vào thực tiễn trong dạy học và kiểm tra, đánh giá kết

quả học tập môn Toán của học sinh lớp 10 ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Tuyên

Nguyễn Thị Hồng, Nguyễn Xuân Trường, Hoàng Thị Giang - Tiếp cận địa lý trong nghiên cứu quan hệ

giữa phát triển kinh tế gắn với đảm bảo an ninh quốc phòng khu vực các xã vùng cao biên giới (ví dụ tại tỉnh

Đỗ Thị Quyên, Nguyễn Thị Kim Tuyến - Nghiên cứu các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến hành vi mua trực tuyến của

Phương Hữu Khiêm, Nguyễn Đắc Dũng, Nguyễn Ngọc Lý - Phát triển thị trường sản phẩm đầu ra cho rừng

trồng sản xuất theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên 155 Phan Thị Thanh Huyền, Hà Xuân Linh - Nghiên cứu giá đất ở trên địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội 161 Nguyễn Thị Vân Anh - Thu hút đầu tư – động lực và cơ sở phát triển kinh tế bền vững tỉnh Thái Nguyên 167 Văn Thị Quỳnh Hoa, Nguyễn Lan Hương - Hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc giảng

dạy tiếng Anh cho sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên 173 Mai Văn Cẩn - Sử dụng hình tượng nhân vật Thạch Sanh trong một số hoạt động dạy thực hành tiếng Anh bậc

Đỗ Thị Hương Liên - Bàn thêm về cuộc khởi nghĩa của Hoàng Đình Kinh (Cai Kinh) và mối liên hệ với các

Phạm Văn Quang, Nguyễn Huy Ánh - Giải pháp tăng cường tính tích cực, chủ động trong học tập của sinh

viên khoa Thể dục thể thao trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên 191 Nguyễn Thị Minh Thu, Bùi Thị Ngọc Anh - Ca dao, dân ca làng chài Vịnh Hạ Long - nét văn hóa mang đậm

Đặng Anh Tuấn, Ngô Thị Minh Hằng, Phạm Thị Trung Hà - Sự hồi phục của thị trường bất động sản và rủi

ro kinh doanh của các công ty bất động sản 203

Lê Văn Thơ, Vũ Anh Tuấn - Đánh giá tình hình sử dụng đất tại các khu đô thị trên địa bàn thành phố Việt Trì,

tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011 – 2016 209

Trang 4

Trần Bảo Ngọc và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 170(10): 131 - 136

131

NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN DƯỢC VỀ MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC-ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

BẰNG BẢNG HỎI DREEM

Trường Đại học Y Dược - ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Mục tiêu: Mô tả nhận thức và xác định sự phù hợp của bảng hỏi DREEM đối với môi trường giáo dục của sinh viên Dược, Trường Đại học Y Dược-Đại học Thái Nguyên Phương pháp: Mô tả cắt ngang bằng bảng hỏi 98 sinh viên Dược vào tháng 6/2017 Kết quả: Điểm số trung bình từng lĩnh vực nhận thức về học tập, giảng viên, học thuật, môi trường, xã hội và tổng điểm theo bộ DREEM gốc lần lượt là 29,3; 28,1; 19,4; 29,3; 18,1 và 124,3, tương ứng Sau khi phân tích nhân tố khám phá EFA còn 39 câu phù hợp Kết luận: Môi trường giáo dục của nhà trường có nhiều ưu điểm

hơn nhược điểm; bảng hỏi DREEM phù hợp để đánh giá nhận thức

Từ khóa: Bảng hỏi DREEM, nhận thức, môi trường giáo dục, sinh viên dược, Trường Đại học Y Dược

Theo Harden (2001) môi trường giáo dục của

một trường học bao gồm quan hệ giữa sinh

viên và giảng viên, các phương pháp/kỹ năng

giảng dạy và học tập, nhu cầu tâm lý xã hội

và cảm xúc của sinh viên, cũng như cơ sở vật

chất và trang thiết bị Thực tế cho thấy môi

trường giáo dục ảnh hưởng quan trọng tới

thành tích học tập của sinh viên (SV) và tạo ra

năng lực cho họ Do đó không có gì ngạc

nhiên khi môi trường giáo dục được xác định

là một trong những mục tiêu đánh giá

Chương trình giáo dục y tế của Liên đoàn

giáo dục y tế thế giới [3]

Một số công cụ đã được thiết kế, hoàn thiện

để đánh giá môi trường giáo dục trong nhiều

thập kỷ qua Mặc dù một số công cụ khác

nhau đã chứng minh tính giá trị mạnh mẽ và

độ tin cậy đo lường cao, song được sử dụng

rộng rãi và được chấp nhận trong môi trường

giáo dục y tế là công cụ đánh giá môi trường

giáo dục Dundee (DREEM) của Do Roff xây

dựng từ năm 1997 Bộ công cụ này đo lường

nhận thức của sinh viên về môi trường giáo

dục trong năm lĩnh vực: Giảng dạy; Tổ chức

khóa học; Nhận thức về học thuật; Bầu không

khí/môi trường và Tự nhận thức xã hội

DREEM được sử dụng với mục đích xác định

những điểm yếu trong chương trình giảng dạy

*

Tel: 0912232902; Email: ngoctranbao72@gmail.com

để đề nghị thay đổi; để so sánh sự mong đợi của SV với thực tế để xác định những khoảng trống cần cải tiến và đặc biệt để so sánh môi trường học tập ở các môi trường khác nhau cũng như ở các giai đoạn đào tạo khác nhau DREEM cũng cung cấp cơ hội để so sánh môi trường giáo dục giữa các cơ sở giáo dục đại học quốc tế cho phép các trường y tế chuẩn hóa môi trường giáo dục

Từ năm 2009, Trường Đại học Y Dược-Đại học Thái Nguyên đã chuyển đổi hình thức đào tạo tín chỉ Khoa Dược đã tham gia đào tạo nhiều khóa và hàng trăm dược sĩ đã tốt nghiệp phục vụ tốt, đáp ứng nhu cầu xã hội Một trong các thay đổi lớn về cách thức đào tạo mới này là sự chuyển đổi phương pháp giảng dạy cũng như học tập dựa trên vấn đề, giáo dục dựa vào cộng đồng…Việc đánh giá nhận thức về môi trường giáo dục theo DREEM chưa được thực hiện ở trường đào tạo ngành y nào trên toàn quốc và để cung cấp dữ liệu khách quan nhất từ nghiên cứu này sẽ bổ sung các minh chứng khoa học giúp nhà trường cải tiến phù hợp, do đó chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm mục tiêu: Mô tả nhận thức và xác định sự phù hợp của bảng hỏi DREEM để đánh giá môi trường giáo dục đối với sinh viên ngành Dược của Trường Đại học Y Dược - Đại học Thái Nguyên năm 2017

Trang 5

Trần Bảo Ngọc và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 170(10): 131 - 136

NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Chọn chủ đích 98 sinh viên ngành Dược đang

theo học tại trường năm thứ hai và năm thứ tư

được khảo sát

Tiêu chuẩn chọn: Tình nguyện tham gia

phỏng vấn; Không trong thời gian kỷ luật từ

cảnh cáo trở lên (sai lạc số liệu); Hoàn thành

trả lời đầy đủ các câu hỏi

Phương pháp nghiên cứu

Mô tả cắt ngang

Cỡ mẫu: Chọn chủ đích toàn bộ SV Dược

năm thứ 2 và năm thứ 4

Địa điểm: Khoa Dược, Trường Đại học Y

Dược-Đại học Thái Nguyên

Thời gian: Tháng 6/2017

Đạo đức nghiên cứu: Nghiên cứu này đã

được Hội đồng Đạo đức của nhà trường phê

chuẩn Các số liệu thu nhận được hoàn toàn

bảo mật

Công cụ nghiên cứu

Bảng câu hỏi DREEM ngoài các câu hỏi về

đặc điểm nhân khẩu (tuổi tác, giới tính, dân

tộc…) đã được SV tự điền cho tất cả SV hội

đủ điều kiện

DREEM là một bảng câu hỏi 50 mục dùng để

đánh giá môi trường giáo dục trong chương

trình giáo dục y tế chuyên nghiệp đã được

nhóm nghiên cứu dịch sang tiếng Việt và hiệu

chỉnh bởi các chuyên gia Trường Đại học Y

Hà Nội Mỗi mục được đánh giá trên thang đo

Likert 5 điểm: rất đồng ý, đồng ý, trung lập,

không đồng ý và rất không đồng ý Với số

điểm tối đa là 200, 50 mục được phân thành 5

lĩnh vực chính: 1) Nhận thức về học tập (điểm

tối đa = 48), 2) nhận thức về giảng viên (điểm

tối đa = 44), 3) nhận thức về học thuật (điểm

tối đa = 32), 4) nhận thức về bầu không

khí/môi trường (điểm tối đa = 48) và 5) tự

nhận thức xã hội (điểm tối đa = 28)

Cách tính điểm bộ DREEM như sau: số điểm

lần lượt là 4; 3; 2; 1 và 0 cho các mức độ từ

hoàn toàn đồng ý tới hoàn toàn không đồng ý

Tuy nhiên, 9 trong số 50 câu hỏi (câu số 4, 8,

9, 17, 25, 35, 39, 48 và 50) là các câu phủ định và cách tính điểm ngược lại Tổng điểm DREEM tối đa là 200 cho thấy môi trường giáo dục lý tưởng; 151-200 là rất tuyệt vời; 101-150 nhiều khía cạnh tốt hơn không tốt; 51-100 có nhiều vấn đề cần sửa đổi; 0-50 là rất kém

Bảng hỏi DREEM được phát cho các SV tham gia khảo sát Sau khi được hướng dẫn chi tiết, tất cả sinh viên sẽ dành 10 đến 15 phút để hoàn thành bảng câu hỏi

Xử lý số liệu Tất cả dữ liệu được nhập, lưu dưới dạng tệp ở phần mềm SPSS 20.0

Mô hình phân tích nhân tố khám phá (EFA)

và hệ số Cronbach’s alpha được sử dụng để xác định mô hình phù hợp và độ tin cậy của

bộ câu hỏi, số liệu được phân tích trên phần mềm SPSS 20.0

Xử lý số liệu bằng các thuật toán thống kê phù hợp trong phần mềm này

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

98 SV hoàn thành bộ câu hỏi Trong đó, 65

là nữ giới; dân tộc thiểu số chiếm 45,9% (45 SV)

Tại Bảng 1, chúng ta thấy điểm trung bình các lĩnh vực đều trên 50% so với mốc chuẩn, tuy nhiên điểm tối đa mỗi thành tố này đều chưa đạt ngưỡng cao nhất Điểm tổng của DREEM đạt 124,3 điểm, tương ứng với ý nghĩa nhiều mặt ưu điểm hơn so với hạn chế; điểm số của từng lĩnh vực đều đạt trên 60% so với điểm số tối đa (trong đó tự nhận thức xã hội và nhận thức về giảng viên có điểm số trung bình cao hơn so với điểm tối đa) Đã có một số nghiên cứu ở các nước sử dụng bộ câu hỏi này để khảo sát, như ở Ghana (2016) [4], tại Iran (2015) [1], tại Đức (2011) [5], tại Hy Lạp (2012) [2] Mặc dù DREEM chỉ có 50 câu chia cho 5 lĩnh vực, song qua kết quả công bố

từ các quốc gia khác nhau, có thể nhận thấy

bộ DREEM phù hợp để đánh giá môi trường giáo dục tại các trường đào tạo chuyên ngành

y dược

Trang 6

Trần Bảo Ngọc và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 170(10): 131 - 136

133

Bảng 1 Điểm nhận thức trung bình các lĩnh vực theo bộ DREEM gốc

Bảng 2 So sánh mức độ nhận thức với một số biến độc lập (T test)

(±SD)

Giảng viên (±SD)

Học thuật (±SD)

Môi trường (±SD)

Xã hội (±SD)

Điểm tổng (±SD)

Giới

(5,7)

27,1 (4,9)

17,9 (4,8)

28,2 (5,3)

17,2 (3,9)

118,3 (21,1)

(6,8)

30,1*

(5,2)

22,2*

(4,9)

31,5*

(5,9)

20,0*

(4,2)

136,1* (25,1)

Dân tộc

(6,8)

27,6 (5,2)

18,6 (5,4)

29,1 (6,2)

17,6 (4,4)

121,3 (25,2)

(5,8)

28,8 (5,2)

20,3 (4,9)

29,6 (5,2)

18,8 (3,9)

127,8 (22,1) Theo học

(4,4)

32,2*

(2,5)

23,7*

(3,0)

33,5*

(4,0)

21,7*

(3,2)

145,9* (14,2)

(5,3)

26,1 (4,9)

17,2 (4,8)

27,2 (5,3)

16,3 (3,5)

113,3 (20,1) Loại tuyển

sinh

(6,9)

28,9*

(5,3)

20,3*

(5,2)

30,5*

(5,9)

19,1*

(4,4)

129,2* (24,9)

(3,9)

26,3 (4,5)

17,3 (4,8)

26,6 (4,1)

16,0 (2,9)

113,1 (16,9)

Ghi chú: “*” sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, với p < 0,05 (T test)

Bảng 2 cho thấy yếu tố dân tộc đối với SV

ngành Dược (trong nghiên cứu gần tương

đương nhau) nhưng không còn sự chênh lệch

về nhận thức như cách nghĩ của nhiều người

Nam giới, SV năm thứ hai và các SV trúng

tuyển qua thi/xét tuyển có điểm nhận thức cao

hơn có ý nghĩa thống kê so với SV nữ, SV

năm tư và SV tuyển sinh hình thức khác (địa

chỉ, cử tuyển, dự bị…) khi sử dụng T test để

phân tích với p<0,05 Nguyên nhân của sự

khác biệt về nhận thức môi trường giáo dục ở

các đối tượng này chúng tôi sẽ tìm hiểu kỹ

hơn và công bố tại các bài báo sắp tới

Chúng tôi tiến hành phân tích nhân tố khám

phá EFA từng lĩnh vực trong 50 câu hỏi của

bộ DREEM theo phương pháp principal

components với hệ số eigenvalues ≥ 1; 25 lần xoay tối đa; ma trận xoay theo varimax và hệ

số tải nhân tố > 0,5 Kết quả với 5 nhân tố gốc đều có hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) thỏa mãn điều kiện 0,5<KMO<1, như vậy phân tích khám phá là thích hợp cho dữ liệu thực tế Đồng thời ta thấy kiểm định Bartlett

có mức ý nghĩa với p < 0,0001 Mô hình cuối cùng được thể hiện với các nhân tố mới thích hợp và hệ số Cronbach’s alpha đều >0,6 Cuối cùng chúng tôi thu nhận có 39 câu hỏi phù hợp với khảo sát SV nhà trường so với 50 câu

bộ gốc, điều đó cho thấy cần có sự thống nhất chung của các trường y trên thế giới về xây dựng bộ câu hỏi khảo sát

Trang 7

Trần Bảo Ngọc và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 170(10): 131 - 136

Bảng 3 Phân tích EFA bộ DREEM, điểm trung bình và điểm tổng của từng nhân tố thực tế

Nhân tố

Nhân

tố

1

Nhân

tố

2

Nhân

tố

3

Cronbach Alpha

Phương sai trích

%

Điểm

± SD

Tổng điểm từng nhân tố

± SD

Nhận

thức

học tập

2,8 ± 0,8

25,9 ± 7,3

Nhận

thức

giảng

viên

0,847

78,7

2,2 ± 0,8

19,5 ± 3,1

Nhận

thức

học

thuật

2,4 ± 0,8

17,5 ± 4,9

Nhận

thức

môi

trường

2,5 ± 0,8

25,7 ± 6,8

Nhận

thức xã

hội

2,9 ± 0,9

11,4 ± 3,4

Tại Bảng 3 sau nhiều lần xoay ma trận và tính

hệ số tin cậy, chúng tôi loại bỏ lần lượt các

câu hỏi của từng nhân tố không thích hợp với

đối tượng nghiên cứu Với nhân tố nhận thức

về học tập còn 10/12 câu hỏi gốc, với hệ số

tin cậy 0,944, tổng trị số phương sai trích

(cumulative) là 67,0% điều này có nghĩa là

67,0% thay đổi của các nhân tố được giải

thích bởi các biến quan sát Với kết quả điểm

số, chúng tôi thấy câu Q20 (Các giờ giảng có

trọng tâm tốt, đáp ứng mục tiêu bài học) là 1

trong 5 câu khảo sát có điểm số tốt nhất Như vậy, có thể thấy các SV khoa Dược đã hoàn thành tốt các mục tiêu bài học của mình Với cách tương tự, về nhân tố nhận thức GV còn 8/11 so với câu gốc được chia thành 3

Trang 8

Trần Bảo Ngọc và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 170(10): 131 - 136

135

nhân tố mới, hệ số tin cậy ở mỗi nhân tố mới

này đều > 0,8, trị số phương sai trích đạt

78,7% Rất đáng chú ý có 4/5 câu hỏi có kết

quả khảo sát kém nhất đều nằm trong nhân tố

mới thứ nhất về nhận thức giảng viên Đó là

các câu Q50 (Các sinh viên đôi khi biểu hiện

thái độ chống đối gây ức chế giảng viên), câu

Q8 (Các giảng viên thường phê phán, ít động viên

khích lệ sinh viên), câu Q9 (Các giảng viên độc

đoán/gia trưởng, ít lắng nghe các thắc mắc từ

sinh viên) và câu Q39 (Một số giảng viên có

biểu hiện cáu kỉnh, bực tức trong giờ giảng)

Mặc dù đây là các câu hỏi phủ định (câu hỏi

ngược) về sự đồng ý với các tuyên bố về GV,

song kết quả cho thấy SV đã rất “tinh ý” về

cách thức khảo sát trộn lẫn câu hỏi khẳng

định và phủ định này Và kết quả khảo sát

phản ánh đúng với nhận định thực tế, các GV

khoa Dược thường tâm huyết với học trò

Tất cả 7/7 câu nhận thức về học thuật đều phù

hợp với khảo sát SV Dược (không lược bỏ

câu nào), vẫn giữ nguyên 01 nhân tố, với hệ

số Cronbach’s Alpha = 0,911, tổng phương

sai trích đạt 64,1% Điểm số các câu hỏi đều

đạt trên trung bình, tuy nhiên có câu Q22 (Tôi

cảm thấy bản thân đang được chuẩn bị tốt

cho nghề nghiệp tương lai của mình) là 1

trong 5 câu có điểm số thấp nhất Kết quả này

đòi hỏi công tác định hướng, tư vấn nghề

nghiệp tương lai của GV nhà trường nói

chung và GV khoa Dược nói riêng trong việc

hướng nghiệp tương lai cho SV, đặc biệt với

ngành Dược khi nhu cầu việc làm tại cơ quan

nhà nước không phải quá thiếu (nhất là tuyến

Trung ương, tuyến tỉnh)

Có 10/12 câu hỏi được giữ lại trong cùng một

nhân tố để phân tích về nhận thức môi

trường/bầu không khí của nhà trường Kết

quả với hệ số tin cậy = 0,936; tổng phương

sai trích đạt 64,1% cho thấy khía cạnh này

cũng thích hợp để tiến hành khảo sát Trong

các câu hỏi nhân tố này có câu Q23 (Có bầu

không khí thoải mái, cởi mở trong các giờ

học) là 1 trong 5 câu điểm số tốt nhất, điều

này cho thấy sự yên tâm của các SV khi học

tập, rèn luyện trong nhà trường

Cuối cùng là tự nhận thức xã hội của SV ngành Dược, với 4/7 câu phù hợp để khảo sát, các câu hỏi lược bỏ đều là các câu có ý nghĩa phủ định/tiêu cực Rất tốt khi điểm số khảo sát các câu hỏi này đều nằm trong các câu cao

nhất, đó là câu Q46 (Nơi ở của tôi dễ chịu,

thoải mái, đáng yêu), câu Q19 (Đời sống xã hội của tôi phong phú, tốt đẹp) và câu Q15 (Tôi có những người bạn tốt trong khóa học)

Kết quả này phản ánh môi trường nhà trường xứng đáng “thân thiện, lành mạnh”, bạn bè cùng trang lứa chan hòa, vui vẻ, các hoạt động ngoại khóa của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên đã góp phần tạo môi trường giáo dục tốt cho nhà trường

Qua nghiên cứu, phân tích, chúng tôi thấy bộ câu hỏi DREEM phù hợp để khảo sát nhận thức môi trường giáo dục của SV ngành y dược nói chung, với 39/50 câu sau khi đã loại

bỏ một số câu (chủ yếu là các câu hỏi ngược) Điều rất trùng hợp ở nghiên cứu này so với tác giả Morge (2016) công bố năm 2016 khi các câu loại bỏ sau phân tích hệ số tin cậy, như câu 25, 48, 17, 50, 4 [4], từ đó khuyến nghị cho chúng tôi cần phải xem xét sự phù hợp của các câu hỏi này với SV Việt Nam nói riêng, cũng như ở các quốc gia kém phát triển nói chung Và cũng tại nghiên cứu Ghana, sau khi phân tích nhân tố khẳng định CFA, các tác giả cũng thu gọn lại còn 4 thành tố mới và

40 câu hỏi [4] Còn tại nghiên cứu này, có lẽ

do cỡ mẫu chưa đạt chuẩn tối thiểu 250 nên chúng tôi chưa so sánh khi chạy CFA trong AMOS

Nghiên cứu này không phải không có hạn chế Nghiên cứu cấu thành SV y khoa từ một chuyên ngành, với một mẫu không ngẫu nhiên, bộ câu hỏi tự điền, dẫn tới hạn chế cho tính đại diện từ các phát hiện nói trên Ngoài

ra, với yêu cầu của mẫu khoảng từ 5-10 cho mỗi câu hỏi, do đó chúng tôi không thể nói cỡ mẫu 98 đủ để phân tích nhân tố cho công cụ DREEM Chúng tôi đang tiếp tục khảo sát với các SV chuyên ngành khác trong trường, với

cỡ mẫu chọn ngẫu nhiên và đủ lớn (khoảng

Trang 9

Trần Bảo Ngọc và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 170(10): 131 - 136

1000 SV), sẽ được công bố trong các bài báo

tiếp theo Và chúng tôi hy vọng rằng, các

trường y dược trong toàn quốc cũng có thể sử

dụng DREEM trong việc khảo sát nhận thức

của SV, từ đó có thể hình thành bộ DREEM

sửa đổi phù hợp hơn với sinh viên y dược

Việt Nam

KẾT LUẬN

Qua khảo sát 98 SV ngành Dược tại Trường

Đại học Y Dược, Đại học Thái Nguyên nhận

thức về môi trường giáo dục của Nhà trường

bằng bộ DREEM, chúng tôi thấy: điểm số

trung bình từng lĩnh vực nhận thức về học

tập, giảng viên, học thuật, môi trường, xã hội

và tổng điểm theo bộ DREEM gốc lần lượt

là 29,3; 28,1; 19,4; 29,3; 18,1 và 124,3,

Kết quả này cho thấy môi trường giáo dục của

Nhà trường theo quan điểm của SV ngành

Dược có nhiều điểm ưu điểm hơn nhược

điểm Có sự khác biệt có ý nghĩa về nhận thức

về môi trường giáo dục của các SV nam so

với nữ, SV năm 2 so với năm 4, SV thi/xét

tuyển so với SV tuyển sinh hình thức khác

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Hassanshahi G (2015), "Students' perceptions of the academic learning environment in seven

medical sciences courses based on DREEM", Adv Med Educ Pract., 6, pp 195-203

2 Kossioni A E., Varela R., Ekonomu I., et al (2012), "Students' perceptions of the educational environment in a Greek Dental School, as

measured by DREEM", Eur J Dent Educ., 16(1),

pp e73-78

3 Harden R.M (2001), “AMEE Guide No 21: Curriculum mapping: a tool for transparent and

authentic teaching and learning”, Med Teach.,

23(2), pp 123-137

4 Mogre V., Amalba A (2016), "Psychometric properties of the dundee ready educational environment measure in a sample of Ghanaian

Medical Students", Educ Health (Abingdon), 29

(1), pp 16-24

5 Ostapczuk M S., Hugger A., de Bruin J., et al (2012), "DREEM on dentist Students' perceptions

of the educational environment in a German dental school as measured by the Dundee Ready

Education Environment Measure", Eur J Dent Educ., 16 (2), pp 67-77

SUMMARY

THE PHARMACEUTICAL STUDENTS’ PERCEPTION OF EDUCATIONAL

ENVIRONMENT AT THAI NGUYEN UNIVERSITY OF MEDICINE AND

PHARMACY BY DREEM QUESTIONNARE

University of Medicine and Pharmacy - TNU

Objective: Describe perception and determine the suitability of the questionnaire DREEM with educational environment for pharmaceutical students, Thai Nguyen University of Medicine and Pharmacy Methods: The cross-sectional descriptive study was carried out in 98 pharmaceutical students in 6/2017 Results: The mean scores of each fields for perception of study, lecturer, academic, environment, society and total score following the original DREEM were 29.3; 28.1; 19.4; 29.3; 18.1 and 124.3, respectively After analyzing of EFA down 39 suitable questions Conclusions: Educational environment of the university had more advantages than disadvantages; The DREEM questionnaire was appropriate to evaluate the perception of educational environment

students, University of Medicine and Pharmacy.

Ngày nhận bài: 02/8/2017; Ngày phản biện: 22/8/2017; Ngày duyệt đăng: 28/9/2017

*

Tel: 0912232902; Email: ngoctranbao72@gmail.com

Trang 10

soT T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ

SOCIAL SCIENCE – HUMANITIES – ECONOMICS

Luu Binh Duong, Nguyen Van Tien - "Sacred" fundamental structure of customary law 3

Nguyen Thi Mai Chanh, Bui Thuy Linh - The characters of mythology in “The Republic of Wine” by

Pham Van Cuong - Studying adaptation to the training menthod of the credit for northern mountainous ethnic

minority students 15

Bui Linh Phuong, Mai Thi Ngoc Ha - Analysis and comparison of mathematical content in the forestry

agricultural sector training program of a number of universities in the world 19 Trinh Thi Kim Thoa - The situation and the solutions to improve the quality of teaching and learning Ho Chi

Minh ideology at University of Information and Communication Technology – TNU 25

Than Thi Thu Ngan - The 90th anniversary of the publication of "Duong Kach menh" book (1927 – 2017)

Theoretical and practical meaning of the work “Duong Kach menh” of the leader Nguyen Ai Quoc - Ho Chi Minh 31

Ma Thi Ngan - Some features should be regarded when building a physical education program to increase the

Duong Thi Huong Lan, Nguyen Vu Phong Van, Nguyen Hien Luong - Applied experiential learning

activities in an English speaking lesson of University of Economics and Business Administration - Thai

Le Ngoc Nuong, Nguyen Thi Ha, Nguyen Hai Khanh - Building the theory of integrity of satisfaction in the

work of laborers at Thai Nguyen Traffic Trading and Management Joint Stock Company 47

Doan Quang Thieu - Establishing the standard sample system of occurred economic operations and accounting

vouchers for students' practice 53

Do Thi Ha Phuong, Doan Thi Mai, Chu Thi Ha, Nguyen Thi Giang - Factors influencing willingness to pay

for safety food in Thai Nguyen city, Thai Nguyen province 59

Nguyen Thi Thanh Thuy - Analysis of FPT Joint Stock Company 's financial situation 65

Vu Hong Van, Luong Thi Mai Uyen - Strengthen competitive capability of mechanical industry in the process

of international economic integration 71

Nguyen Thi Linh Trang, Bui Thi Ngan - The development of non - cash payment service at military JSC Bank

Nguyen Thi Lan Anh, Nong Thi Van Thao - Building the system of management support in scoring staffs at

Nguyen Thu Nga, Kieu Thi Khanh, Hoang Van Du - Investigation of commercial bank’s efficiency with

Nguyen Thi Van, Nguyen Bich Hong - Solutions to promote the economic structural transformation in Bac

Giang province towards industrialization and modernization to 2020 with a vision to 2030 97

Dam Thi Phuong Thao, Nguyen Tien Manh - Estimating the effect of some factors on operational efficiency

of real estate companies posted up in Viet Nam stock market 103

Pham Thi Huyen - Precedent and the application of precedent in Vietnam law system 109

Duong Thi Huyen - The relationship of the English's factory in Hirado (1613- 1623) with Japan government 115

Tran Nguyen Si Nguyen - Subtle mass mobilization is core of political activism art of Ho Chi Minh 121

Journal of Science and Technology

170 (10)

N¨m 2017

Ngày đăng: 15/01/2021, 04:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. So sánh mức độ nhận thức với một số biến độc lập (T test) - NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN DƯỢC VỀ MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC  TẠI  TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC-ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  BẰNG BẢNG HỎI DREEM
Bảng 2. So sánh mức độ nhận thức với một số biến độc lập (T test) (Trang 6)
Bảng 1. Điểm nhận thức trung bình các lĩnh vực theo bộ DREEM gốc - NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN DƯỢC VỀ MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC  TẠI  TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC-ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  BẰNG BẢNG HỎI DREEM
Bảng 1. Điểm nhận thức trung bình các lĩnh vực theo bộ DREEM gốc (Trang 6)
Bảng 3. Phân tích EFA bộ DREEM, điểm trung bình và điểm tổng của từng nhân tố thực tế - NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN DƯỢC VỀ MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC  TẠI  TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC-ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  BẰNG BẢNG HỎI DREEM
Bảng 3. Phân tích EFA bộ DREEM, điểm trung bình và điểm tổng của từng nhân tố thực tế (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w