1. Trang chủ
  2. » Lịch sử lớp 12

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH CƠ KHÍ TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

11 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đa số các doanh nghiệp có công nghệ lạc hậu, thiếu nguồn nguyên vật liệu trong nước, nguồn nhân lực chất lượng thấp và hiệu quả quản lý yếu, khó khăn trong việc huy động vốn và phát tr[r]

Trang 1

Tập 170, số 10, 2017

Trang 2

T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ

CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN – KINH TẾ

Lưu Bình Dương, Nguyễn Văn Tiến - “Thiêng hóa” - yếu tố cơ bản cấu thành luật tục 3

Nguyễn Thị Mai Chanh, Bùi Thuỳ Linh - Phương thức huyền thoại hoá nhân vật trong Tửu quốc của Mạc Ngôn 9

Phạm Văn Cường - Nghiên cứu sự thích ứng với phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ của sinh viên dân

Bùi Linh Phượng, Mai Thị Ngọc Hà - Phân tích, so sánh nội dung toán học trong chương trình đào tạo ngành

nông lâm nghiệp của một số trường đại học trên thế giới 19

Trịnh Thị Kim Thoa - Thực trạng và giải pháp để nâng cao chất lượng học tập môn tư tưởng Hồ Chí Minh tại

Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông – Đại học Thái Nguyên 25

Thân Thị Thu Ngân - Kỷ niệm 90 năm ra đời tác phẩm “Đường Kách mệnh” (1927 – 2017) - Ý nghĩa lý luận

và thực tiễn việc nghiên cứu tác phẩm “Đường Kách mệnh” của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh 31

Ma Thị Ngần - Một số đặc điểm cần lưu ý khi xây dựng chương trình môn học giáo dục thể chất nhằm nâng

cao kết quả học tập của sinh viên 35

Dương Thị Hương Lan, Nguyễn Vũ Phong Vân, Nguyễn Hiền Lương - Ứng dụng các hoạt động học tập

trải nghiệm vào trong một giờ học nói tiếng Anh ở Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh – Đại học

Lê Ngọc Nương, Nguyễn Thị Hà, Nguyễn Hải Khanh - Xây dựng khung lý thuyết về sự hài lòng trong công việc

của người lao động tại Công ty Cổ phần Quản lý và Xây dựng giao thông Thái Nguyên 47

Đoàn Quang Thiệu - Xây dựng hệ thống nghiệp vụ kinh tế phát sinh và bộ chứng từ kế toán mẫu để thực hành

Đỗ Thị Hà Phương, Đoàn Thị Mai, Chu Thị Hà, Nguyễn Thị Giang - Các yếu tố ảnh hưởng tới mức sẵn lòng

chi trả của người tiêu dùng đối với thực phẩm an toàn trên địa bàn thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên 59

Nguyễn Thị Thanh Thủy - Phân tích tình hình tài chính của công ty cổ phần FPT 65

Vũ Hồng Vân, Lương Thị Mai Uyên - Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành cơ khí trong quá trình hội nhập

kinh tế quốc tế 71

Nguyễn Thị Linh Trang, Bùi Thị Ngân - Phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng

Thương mại Cổ phần quân đội – chi nhánh Thái Nguyên 77

Nguyễn Thị Lan Anh, Nông Thị Vân Thảo - Xây dựng hệ thống hỗ trợ quản lý chấm điểm cán bộ tại sở giao

Nguyễn Thu Nga, Kiều Thị Khánh, Hoàng Văn Dư - Hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng khi tính đến rủi

Nguyễn Thị Vân, Nguyễn Bích Hồng - Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bắc Giang theo

hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2020, tầm nhìn 2030 97

Đàm Thị Phương Thảo, Nguyễn Tiến Mạnh - Đánh giá ảnh hưởng của một số nhân tố đến hiệu quả hoạt động

kinh doanh của các công ty bất động sản niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam 103

Phạm Thị Huyền - Án lệ và việc áp dụng án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam 109

Dương Thị Huyền - Mối quan hệ của thương điếm Anh ở Hirado (1613- 1623) với chính quyền Nhật Bản 115

Trần Nguyễn Sĩ Nguyên - Dân vận khéo là vấn đề cốt lõi trong nghệ thuật hoạt động chính trị Hồ Chí Minh 121

Đinh Thị Giang - Quan điểm của J.Locke về nguồn gốc và bản chất của nhà nước 127

Journal of Science and Technology

170 (10)

N¨m 2017

Trang 3

Trần Bảo Ngọc, Lê Thị Lựu, Bùi Thanh Thủy và cộng sự - Nhận thức của sinh viên Dược về môi trường giáo

dục tại trường Đại học Y Dược - Đại học Thái Nguyên bằng bảng hỏi DREEM 131

Lương Ngọc Huyên - Thực trạng việc vận dụng toán học vào thực tiễn trong dạy học và kiểm tra, đánh giá kết

quả học tập môn Toán của học sinh lớp 10 ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Tuyên

Nguyễn Thị Hồng, Nguyễn Xuân Trường, Hoàng Thị Giang - Tiếp cận địa lý trong nghiên cứu quan hệ

giữa phát triển kinh tế gắn với đảm bảo an ninh quốc phòng khu vực các xã vùng cao biên giới (ví dụ tại tỉnh

Đỗ Thị Quyên, Nguyễn Thị Kim Tuyến - Nghiên cứu các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến hành vi mua trực tuyến của

người tiêu dùng tỉnh Thái Nguyên 149 Phương Hữu Khiêm, Nguyễn Đắc Dũng, Nguyễn Ngọc Lý - Phát triển thị trường sản phẩm đầu ra cho rừng

trồng sản xuất theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên 155

Phan Thị Thanh Huyền, Hà Xuân Linh - Nghiên cứu giá đất ở trên địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội 161 Nguyễn Thị Vân Anh - Thu hút đầu tư – động lực và cơ sở phát triển kinh tế bền vững tỉnh Thái Nguyên 167

Văn Thị Quỳnh Hoa, Nguyễn Lan Hương - Hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc giảng

dạy tiếng Anh cho sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên 173

Mai Văn Cẩn - Sử dụng hình tượng nhân vật Thạch Sanh trong một số hoạt động dạy thực hành tiếng Anh bậc

Đỗ Thị Hương Liên - Bàn thêm về cuộc khởi nghĩa của Hoàng Đình Kinh (Cai Kinh) và mối liên hệ với các

Phạm Văn Quang, Nguyễn Huy Ánh - Giải pháp tăng cường tính tích cực, chủ động trong học tập của sinh

viên khoa Thể dục thể thao trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên 191

Nguyễn Thị Minh Thu, Bùi Thị Ngọc Anh - Ca dao, dân ca làng chài Vịnh Hạ Long - nét văn hóa mang đậm

Đặng Anh Tuấn, Ngô Thị Minh Hằng, Phạm Thị Trung Hà - Sự hồi phục của thị trường bất động sản và rủi

ro kinh doanh của các công ty bất động sản 203

Lê Văn Thơ, Vũ Anh Tuấn - Đánh giá tình hình sử dụng đất tại các khu đô thị trên địa bàn thành phố Việt Trì,

tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011 – 2016 209

Trang 4

Vũ Hồng Vân và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 170(10): 71 - 76

71

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH CƠ KHÍ

TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp – ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Trải qua các thời kỳ, sự phát triển của ngành công nghiệp cơ khí luôn là nền tảng vừa là động lực cho sự phát triển của nhiều ngành nghề khác Trong xu thế hội nhập hiện nay, ngành cơ khí Việt Nam đã và đang bộc lộ nhiều mặt hạn chế về năng lực cạnh tranh Đa số các doanh nghiệp có công nghệ lạc hậu, thiếu nguồn nguyên vật liệu trong nước, nguồn nhân lực chất lượng thấp và hiệu quả quản lý yếu, khó khăn trong việc huy động vốn và phát triển thị trường, cùng với sự cạnh tranh gay gắt của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng như hàng nhập khẩu Bài báo phân tích thực trạng của các doanh nghiệp, tìm hiểu các nguyên nhân và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năm lực cạnh tranh của ngành cơ khí để hội nhập thành công

Từ khóa: năng lực cạnh tranh, hội nhập quốc tế, công nghiệp cơ khí, doanh nghiệp cơ khí, cơ khí

Việt Nam

ĐẶT VẤN ĐỀ *

Nâng cao năng lực cạnh tranh về thực chất là

việc doanh nghiệp cố gắng tạo ra ngày càng

nhiều hơn các ưu thế trên tất cả các mặt để có

thể chiếm lĩnh được thị trường bởi các tiêu

chí như giá cả, chất lượng, nhãn hiệu và uy

tín Công nghiệp cơ khí là ngành sản xuất ra

máy móc, thiết bị cung cấp cho nhiều ngành

kinh tế khác Mục tiêu nghiên cứu nhằm chỉ

rõ các cơ hội và thách thức của các doanh

nghiệp cơ khí trong thời kỳ hội nhập kinh tế

quốc tế và đề xuất các giải pháp nâng cao

năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp để

ngành cơ khí Việt Nam tiếp tục khẳng định

vai trò động lực cho sự phát triển của nền

kinh tế

Trong nghiên cứu này, năng lực cạnh tranh

của doanh nghiệp được hiểu là khả năng duy

trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong hoạt

động tiêu thụ sản phẩm, thu hút và sử dụng có

hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích

kinh tế cao và đảm bảo sự phát triển bền vững

của doanh nghiệp

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tác giả dựa vào các chỉ tiêu cơ bản đo lường

các lợi thế của doanh nghiệp so với lợi thế

của các đối thủ cạnh tranh để đo lường năng

*

Tel: 0912352221; Email: vuhongvan881@gmail.com

lực cạnh tranh của các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam, gồm có: năng lực công nghệ, năng lực quản trị sản xuất, năng lực tài chính, năng lực tổ chức và quản lý doanh nghiệp Do vậy câu hỏi nghiên cứu đặt ra là ngành cơ khí nói chung và mỗi doanh nghiệp cơ khí nói riêng cần làm gì để đạt được ưu thế về các tiêu chí trên so với đối thủ cạnh tranh nhằm mục tiêu kinh doanh hiệu quả và bền vững Bài báo đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam thông qua các chỉ tiêu trên cùng với việc sử dụng phương pháp so sánh, phân tích số liệu thứ cấp được công bố của Bộ Công thương, Uỷ ban kinh tế trung ương, Hiệp hội cơ khí Việt Nam

ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH CƠ KHÍ VIỆT NAM

Số liệu của Tổng cục thống kê năm 2015 cho thấy, cả nước có 16.762 doanh nghiệp sản xuất cơ khí trong đó có 119 doanh nghiệp nhà nước, 146 doanh nghiệp nước ngoài Tổng số vốn của ngành cơ khí quốc doanh vào khoảng

380 triệu USD, tổng vốn đăng ký đầu tư nước ngoài (FDI) vào ngành cơ khí vào khoảng 2,1

tỷ USD Toàn ngành sản xuất được 1.059.950

tỷ đồng trong đó cơ khí nội địa đạt 344.737 tỷ đồng với hơn 500 chủng loại sản phẩm như máy công cụ, động cơ thiết bị điện, sản phẩm kim loại…

Trang 5

Vũ Hồng Vân và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 170(10): 71 - 76

Bảng 1 Giá trị sản xuất ngành cơ khí giai đoạn 2010-2015 [3]

Đvt: tỷ đồng

Chỉ tiêu 2010 2011 2012 2013 2014 2015 Giá trị SX trong nước 206.223 218.546,5 227.910,9 251.185,2 263.714 344.737 Giá trị nhập khẩu 401.520 482.262 471.660 521.030 532.529 652.215 Giá trị xuất khẩu 139.110 203.112 242.825 276.864 305.638 533.813 Tổng giá trị ngành 697.743 700.809 699.570,9 772.216,2 796.243 1.059.950

Năm 2015 ngành cơ khí Việt Nam đảm bảo

được 32,5% nhu cầu trong nước và 30% xuất

khẩu Năm 2015 chúng ta nhập khẩu 32,5 tỷ

USD thiết bị cơ khí trong khi giá trị xuất khẩu

chỉ đạt 26,6 tỷ USD [4] Thực tế cho thấy,

nếu cơ khí nội địa phát triển, chiếm được thị

trường trong nước và xuất khẩu thì sẽ tạo

được doanh thu lớn Hiện nay giá trị sản

lượng của ngành cơ khí chỉ chiếm 22% giá trị

sản xuất toàn ngành công nghiệp trong khi đó

vốn đầu tư chiếm hơn 16% và số lao động

chiếm khoảng 12% với trên 500 000 lao động

Số lượng lao động được phân bổ trong ngành

cơ khí thuộc doanh nghiệp nhà nước, tư nhân

và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là

8%-28% và 64% [5]

Xuất phát từ một nền kinh tế nông nghiệp, cơ

sở vật chất kỹ thuật và nguồn nhân lực yếu

nên sản phẩm của ngành công nghiệp cơ khí

Việt Nam nói chung đến nay vẫn còn nhỏ bé,

đạt trình độ trung bình về gia công và năng

lực cạnh tranh yếu về nhiều mặt Điều đó dẫn

đến chất lượng sản phẩm thấp, mẫu mã đơn

điệu, giá trị gia tăng của sản phẩm chưa cao,

hạn chế về thị trường xuất khẩu và chưa đáp

ứng được các tiêu chuẩn so với ngành công

nghiệp cơ khí của khu vực và thế giới Phân

tích thực trạng ngành cơ khí Việt Nam căn cứ

vào các tiêu chí đo lường năng lực cạnh tranh

của doanh nghiệp cụ thể như sau:

Về công nghệ, trình độ của ngành cơ khí Việt

Nam lạc hậu hơn các nước tiên tiến từ 50-100

năm Cơ khí tuy là ngành công nghiệp quan

trọng, nhưng vốn đầu tư cho ngành tăng

không đáng kể trong 20 năm qua, các thiết bị

đã qua nhiều năm sử dụng, tính năng kỹ thuật

đã lạc hậu, độ chính xác kém, thiếu phụ tùng thay thế, thiếu chú ý bảo dưỡng định kỳ, thiếu vốn để thay thế Nhìn chung các doanh nghiệp cơ khí chế tạo nước ta mới đạt trình độ trung bình về gia công kết cấu thép, thiết bị phi tiêu chuẩn, chế tạo các máy công cụ, máy động lực, máy canh tác và máy chế biến nông sản cỡ nhỏ Ngành cơ khí chưa có các cơ sở công nghiệp có thiết bị công nghệ tiên tiến đủ khả năng thiết kế, chế tạo máy, thiết bị công nghệ cao đủ sức cạnh tranh với thị trường trong nước và quốc tế Ngoài ra phần lớn máy móc thiết bị, nguyên liệu phải nhập từ nước ngoài, công nghệ phụ trợ lại yếu kém, sản xuất thép còn nhỏ bé và chỉ là thép xây dựng, thiếu nguồn vật liệu cho ngành cơ khí Trong khi đó các doanh nghiệp lại rất khó khăn về vốn đầu tư đổi mới thiết bị và công nghệ [2]

Về năng lực tài chính, hầu hết các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ (dưới 1 triệu USD) Đặc điểm của ngành cơ khí là ngành thâm dụng vốn, thời gian thu hồi vốn lâu, lợi nhuận thấp hơn các ngành khác, do đó việc thu hút vốn đầu tư còn gặp nhiều khó khăn và nguồn vốn cho đầu tư phát triển còn thiếu Khu vực chế tạo máy hơn 10 năm nay chưa xây dựng thêm được một nhà máy mới nào dẫn đến cơ khí nước ta phát triển lệch, phần chính yếu và quan trọng chưa được Nhà nước chỉ đạo đầu

tư phát triển

Trang 6

Vũ Hồng Vân và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 170(10): 71 - 76

73

Bảng 2 Vốn sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp cơ khí [3]

Đvt: tỷ đồng

Chỉ tiêu 2010 2011 2012 2013 2014 Tổng vốn kinh doanh ngành 558.984 672.450 783.378 887.369 1.050.436 Vốn SXKD bình quân 45,498 46,636 51,008 56,113 62,668

Số lượng doanh nghiệp 12.286 14.419 15.358 15.814 16.762

Về thị trường, một số sản phẩm của ngành cơ

khí đang bị mất dần thị phần tiêu thụ ngay

trong nước, đặc biệt trong việc sản xuất và

cung cấp thiết bị toàn bộ Quản lý thị trường

yếu kém, không xây dựng được tiêu chuẩn kỹ

thuật để bảo vệ sản phẩm trong nước, để cho

hàng cơ khí chất lượng thấp, giá rẻ tràn vào thị

trường trong nước Một số thị trường đáng kể

như thị trường máy động lực và nông nghiệp,

thị trường máy bơm thì hàng Việt Nam chỉ

chiếm 15 - 20% thị phần Các đối thủ chủ yếu

của ngành cơ khí Việt Nam là Trung Quốc,

Hàn Quốc, Nhật Bản Thêm vào đó, một số thị

trường bị Trung Quốc chiếm lĩnh do giá thành

sản phẩm nội cao hơn từ 15-30% Ngành cơ

khí Việt Nam cũng chưa có chiến lược thị

trường và sản phẩm để cạnh tranh

Về nguồn nhân lực và năng lực quản lý,

ngành cơ khí còn thiếu lực lượng nghiên cứu

phát triển, từ lực lượng tư vấn, thiết kế công

nghệ và thiết kế chế tạo, đến các chuyên gia

đầu ngành Hiện các doanh nghiệp cơ khí phải

đối mặt với tình trạng thiếu hụt lao động

nghiêm trọng, nhất là kỹ sư, cán bộ kỹ thuật,

công nhân có tay nghề cao cũng như khả năng

hợp tác, làm việc nhóm Ngoài ra, doanh

nghiệp cũng thiếu sự liên hệ chặt chẽ với các

trường để đặt hàng nguồn nhân lực chất lượng

cao, đáp ứng nhu cầu thực tế Nhìn chung

chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng

được đòi hỏi của nền sản xuất cơ khí có công

nghệ cao trong cơ chế thị trường Hơn nữa

trình độ quản lý của chủ doanh nghiệp cơ khí

còn thấp, chưa chủ động và nhạy bén trong

cạnh tranh Liên kết chiến lược giữa các

doanh nghiệp theo đúng nguyên tắc cơ bản

của quá trình tổ chức sản xuất cơ khí là

chuyên môn hóa sâu, hợp tác rộng chưa được

quan tâm và triển khai

Từ thực trạng trên cho thấy các nguyên nhân dẫn đến năng lực cạnh tranh hạn chế của ngành cơ khí Việt Nam như sau:

Công tác xây dựng, quy hoạch chiến lược phát triển của ngành chưa được quan tâm đúng mức Cơ chế, chính sách hỗ trợ, thúc đẩy phát triển ngành còn thiếu sự nhất quán

và tính thưc thi còn yếu, đặc biệt là cơ chế tài chính Vai trò quản lý, triển khai và kiểm tra việc thực hiện cơ chế chính sách của các cơ quan quản lý Nhà nước còn nhiều hạn chế Đầu tư cho cơ khí vừa phân tán, dàn trải; công tác nghiên cứu phục vụ cho việc phát triển của ngành cơ khí còn yếu

Ở phạm vi doanh nghiệp, hệ thống quản lý phối hợp giữa các doanh nghiệp trong ngành

cơ khí yếu kém, thiếu các chính sách và quyết định kịp thời, đủ sức mạnh để bảo hộ và tạo thị trường cho ngành cơ khí trong nước Tổ chức sản xuất khép kín, không hợp lý thiếu chuyên môn hoá, mức độ hợp tác hoá thấp, ít quan tâm đến quản lý chất lượng Các doanh nghiệp Nhà nước chậm đổi mới, các doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ, năng lực hạn chế, ít quan tâm đến đầu tư chiều sâu Năng lực quản lý điều hành của chủ các doanh nghiệp cơ khí còn yếu Năng lực nghiên cứu phát triển hạn chế Thêm vào đó các doanh nghiệp chưa chủ động tham gia hội nhập kinh

tế quốc tế

Nguồn nhân lực ngành cơ khí chưa có kế hoạch đào tạo và phát triển phù hợp và có sự phối kết hợp đồng bộ giữa cơ sở đào tạo, người lao động và người sử dụng lao động; cơ cấu lao động theo trình độ còn bất hợp lý Thiếu lực lượng nghiên cứu phát triển, trước hết là lực lượng thiết kế, chế tạo, cụ thể là thiếu các tổng công trình sư hoặc kỹ sư trưởng cho các sự án thiết kế toàn bộ Mặt khác, công nghiệp cơ khí của ta còn phụ

Trang 7

Vũ Hồng Vân và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 170(10): 71 - 76

thuộc nhiều vào các chuyên gia giám sát, tư

vấn viên và đặc biệt là hầu hết các nguyên vật

liệu chính, máy móc đều phải nhập khẩu từ

nước ngoài

Bên cạnh mặt hạn chế, thời gian qua các

doanh nghiệp ngành cơ khí đã có nhiều cố

gắng đổi mới cơ cấu tổ chức, đẩy mạnh cổ

phần hóa và tập trung vào ngành nghề chính

Về thiết bị toàn bộ, đã sản xuất được các loại

thiết bị cơ khí thủy công cho các nhà máy

thủy điện lớn, dây chuyền thiết bị cán thép

30000 tấn/năm, dây chuyền thiết bị đồng bộ

cho nhà máy xi măng 800 000 tấn/năm, sản

xuất máy biến áp 500kv, cáp ngầm đến

220kv, chế tạo dàn khoan tự nâng có độ sâu

90m nước Về sản xuất lắp ráp ô tô có tổng

năng lực đạt 460 ngàn xe/năm gồm các chủng

loại xe con, xe tải và xe khách tăng trên 55%

Sản xuất xe máy có sự phát triển vượt bậc đáp

ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu 150 000

xe/năm với tỉ lệ nội địa hóa đạt trên 85% Đẩy

mạnh đầu tư thiết bị và chế tạo thành công

nhiều sản phẩm cơ khí phức tạp, siêu trường

siêu trọng; sản xuất kim loại cũng tăng hơn

23% [5]

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA NGÀNH

CƠ KHÍ TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP

KINH TẾ QUỐC TẾ

Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực

được nhìn nhận bằng quá trình tham gia các tổ

chức WTO, AEC, diễn đàn kinh tế thế giới và

khu vực cũng như những hiệp định thương mại

song phương và đa phương mà Việt Nam đã

ký kết và cam kết thực hiện Theo đó, các hàng

rào bảo hộ và thuế quan bị dỡ bỏ, chỉ còn lại

các rào cản kỹ thuật nhưng đến nay, chúng ta

vẫn chưa có các rào cản kỹ thuật đủ mạnh để

bảo vệ các sản phẩm cơ khí trọng điểm Do

vậy nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh

nghiệp Việt là một tất yếu khách quan trong

quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới

Nếu không làm được điều này, doanh nghiệp

Việt không chỉ thất bại trên thị trường ngoài

nước mà còn gánh chịu những hậu quả tương

tự trên chính thị trường nội địa

Thời gian tới, với chiến lược phát triển dài hạn công nghiệp cơ khí là đẩy mạnh chế tạo các loại linh kiện, phụ tùng phục vụ sửa chữa thay thế cho máy móc thiết bị sản xuất công nghiệp nói chung, trong đó có cơ khí nông nghiệp, ô tô - xe gắn máy, cơ khí xây dựng,

cơ khí tiêu dùng và cơ khí dệt may, từng bước thay thế nguồn phụ tùng nhập khẩu Chiến lược cũng đề ra mục tiêu cụ thể, đến năm

2025, tỷ trọng ngành cơ khí chiếm trên 21%

và năm 2035 chiếm 24% trong cơ cấu ngành công nghiệp Năm 2025, ngành cơ khí đáp ứng trên 50% nhu cầu thị trường trong nước

và năm 2035 đáp ứng trên 60% Nếu tỷ lệ nội địa hóa được 30-40% Việt Nam sẽ hạn chế nhập siêu sản phẩm cơ khí hiện nay [1] Hiện nay, cùng với quá trình mở cửa nền kinh tế và hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, ngành cơ khí Việt Nam vẫn còn nhiều địa dư

để phát triển cùng với triển vọng tốt của ngành công nghiệp cơ khí chế tạo, cơ khí công nghiệp hỗ trợ và cơ khí chính xác Hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra những điều kiện thuận lợi để tiếp cận nhanh chóng các thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, tiếp thu và nâng cao trình độ công nghệ ngành

và quốc gia; mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo, nâng cao năng lực, trình độ của lực lượng nghiên cứu khoa học công nghệ

và thiết kế trong nước; mở rộng thị trường xuất khẩu cho các sản phẩm cơ khí mới, có khả năng cạnh tranh như: ô tô, xe máy, tàu thuỷ, máy công cụ, phụ tùng máy móc thiết bị; cơ hội thúc đẩy cải cách hành chính, đổi mới doanh nghiệp, đổi mới phương thức quản

lý giúp cho doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh của mình

Bên cạnh đó những thách thức đối với ngành công nghiệp cơ khí Việt Nam là: sự cạnh tranh mạnh mẽ từ phía các quốc gia ASEAN cũng như Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc

và Nhật Bản Để thực hiện các cam kết hội nhập, Chính phủ Việt Nam phải đưa ra chương trình cắt giảm thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, mở cửa thị trường ô tô; đối mặt với cuộc cạnh tranh khốc liệt trên thị trường quốc tế Các thành viên WTO gây áp

Trang 8

Vũ Hồng Vân và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 170(10): 71 - 76

75

lực buộc Việt Nam phải chấp nhận giảm thuế

suất cho các linh kiện nhập khẩu Mặt khác,

Việt Nam phải tuân thủ theo các quy tắc

thương mại quốc tế, xóa bỏ các yêu cầu về tỷ

lệ nội địa hóa Ngoài ra những thách thức từ

nội địa, doanh nghiệp cơ khí Việt Nam thiếu

vốn để đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ

hoặc để đầu tư mới nhằm tạo ra sản phẩm

mới, chất lượng cao phục vụ cho nhu cầu

ngày càng cao của thị trường trong và ngoài

nước Thiếu lực lượng nghiên cứu phát triển,

trước hết là lực lượng thiết kế, chế tạo đặc

biệt là các tổng công trình sư, kỹ sư trưởng

cho các dự án thiết bị toàn bộ và cán bộ quản

lý doanh nghiệp có trình độ

GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC

CẠNH TRANH CỦA NGÀNH CƠ KHÍ

Các giải pháp của doanh nghiệp cơ khí

Cần có nhận thức đúng về năng lực cạnh

tranh, tìm ra các giải pháp để nâng cao năng

lực cạnh tranh của doanh nghiệp một cách

bền vững, lâu dài và liên tục cả hiện tại và

tương lai; đổi mới tư duy và cách làm, chủ

động cơ cấu lại sản xuất, năng động, tự vươn

lên trong nền kinh tế thị trường và hội nhập

quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả quản trị

doanh nghiệp, tìm mọi cách giảm chi phí đầu

vào, nâng cao năng suất, chất lượng; mở rộng

thị trường, chủ động tham gia chuỗi giá trị

toàn cầu

Đẩy mạnh quá trình tiếp nhận và chuyển giao

công nghệ, đầu tư vốn để nghiên cứu, phát

minh đưa vào ứng dụng công nghệ mới Đổi

mới công nghệ phải đi đôi với đào tạo, nâng

cao trình độ của cán bộ kỹ thuật cũng như

công nhân sản xuất để có thể làm chủ và khai

thác triệt để công nghệ Cộng đồng doanh

nghiệp cơ khí cần nhanh chóng liên kết hợp

tác sản xuất, đặc biệt là xây dựng các tổ hợp

gồm các doanh nghiệp tư vấn, thiết kế, chế

tạo và xây lắp để trở thành các liên danh nhà

thầu mạnh tham gia tổng thầu EPC các dự án

nhiệt điện và công nghiệp

Tiếp tục tiến hành cổ phần hóa các doanh

nghiệp cơ khí, lập chiến lược và kế hoạch

kinh doanh khả thi, phải tranh thủ mọi cơ hội

để có thể vay được vốn của các tổ chức tài chính trong và ngoài nước

Các doanh nghiệp cần có quá trình tuyển mộ

và tuyển chọn phù hợp để thu hút, tuyển dụng được những người giỏi; tăng cường hoạt động đào tạo và phát triển để người lao động không ngừng nâng cao trình độ, tay nghề; có các chính sách tạo động lực, đãi ngộ thích đáng

để giữ chân người lao động Ngoài ra cần các chính sách liên kết, hợp tác với một số trong hơn 80 trường đại học, cao đẳng đào tạo ngành cơ khí và với các trung tâm dạy nghề

để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành trong dài hạn

Các cán bộ quản lý cần xây dựng cho doanh nghiệp mình phong cách quản lý phù hợp và khoa học, tạo ra được môi trường làm việc chuyên nghiệp để phát huy sự sáng tạo của người lao động trong công việc, khuyến khích

họ đóng góp phát triển công ty và nâng cao hiệu suất công tác Ngoài ra lực lượng lao động cơ khí cần rèn luyện tác phong công nghiệp, khả năng hợp tác và nâng cao trình độ ngoại ngữ

Các doanh nghiệp cơ khí cần tăng cường công tác điều tra, nghiên cứu thị trường; mở rộng thị trường gắn với việc đảm bảo chất lượng với giá cả phù hơp; cần tăng cường các hoạt động xây dựng thương hiệu sản phẩm với dịch vụ tư vấn trước và sau bán, dịch vụ bảo hành và sửa chữa theo yêu cầu của khách hàng Ngành cơ khí cũng cần xây dựng Hiệp hội ngành hàng để hỗ trợ đắc lực cho Chính phủ và các doanh nghiệp xây dựng lợi thế cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc

tế Đồng thời xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật làm hàng rào ngăn cản các sản phẩm cơ khí kém chất lượng vào thị trường trong nước Các giải pháp từ phía nhà nước

Có các chính sách kịp thời và đủ mạnh để bảo

hộ và tạo điều kiện cho ngành cơ khí trong nước phát triển, bao gồm bảo hộ sản xuất các sản phẩm cơ khí trọng điểm, hạn chế nhập khẩu những sản phẩm cơ khí mà trong nước đã

có năng lực sản xuất tốt; bổ sung hoàn chỉnh các quy chế đấu thầu, chỉ định thầu, thông qua

Trang 9

Vũ Hồng Vân và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 170(10): 71 - 76

cơ chế tạo đơn hàng tạo điều kiện cho các

doanh nghiệp cơ khí đủ khả năng được tham

gia các dự án công nghiệp lớn, các dây chuyền

thiết bị toàn bộ để họ có điều kiện tích lũy

được năng lực, kinh nghiệm và tài chính để

vươn lên, làm chủ các dự án tiếp theo

Đẩy mạnh công tác nghiên cứu trong lĩnh vực

cơ khí như đầu tư cho các viện nghiên cứu,

các dự án nghiên cứu quan trọng đồng thời có

chính sách hỗ trợ vay vốn dài hạn cho ngành

cơ khí với lãi suất ưu đãi Tập trung vào lĩnh

vực chủ yếu là cơ khí chế tạo, xây dựng các

nhà máy đúc, tạo phôi có quy mô lớn; hoàn

thiện công nghệ gia công, lắp ráp cơ khí

Phát triển nguồn nhân lực như đầu tư cho các

cơ sở đào tạo kỹ sư cơ khí và công nhân kỹ

thuật Xây dựng chức danh công trình sư và

tổng công trình sư Nghiên cứu ban hành các

chính sách thu hút nhân tài và tăng cường cử

cán bộ và công nhân kỹ thuật ra nước ngoài

học tập bồi dưỡng

Thúc đẩy những ngành cung cấp nguyên vật

liệu và những ngành công nghiệp hỗ trợ cho

ngành cơ khí phát triển Nhà nước cũng là

người định hướng, cung cấp các thông tin cho

các doanh nghiệp về các vấn đề đầu tư, các

giải pháp công nghệ từ nước ngoài một cách kịp thời để các doanh nghiệp tận dụng, nắm bắt, nâng cao khả năng cạnh tranh

KẾT LUẬN

Từ thực trạng của ngành cơ khí đã phân tích, cần thực hiện các giải pháp đồng bộ với sự nỗ lực của các cơ quan Nhà nước, tổ chức và các doanh nghiệp cơ khí để ngành cơ khí Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển vững mạnh trong thời kỳ hội nhập

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Chính phủ (2002), Quyết định

186/2002/QĐ-TTg ngày 26/12/2002, Chiến lược phát triển Công

nghiệp cơ khí Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020, Hà Nội

2 Bộ Công thương (2014), Kỷ yếu Hội nghị tổng kết

10 năm thực hiện chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam, tháng 4/2014, tr 124-125, Hà Nội

3 Hiệp hội doanh nghiệp cơ khí Việt Nam (2016),

Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2016 và định hướng năm 2017, tr 2-4, Hà Nội

4 Quỳnh Nga (10/11/2015), Chiến lược mới cho

ngành cơ khí Việt Nam, http://baocongthuong

com.vn/chien-luoc-moi-cho-nganh-co-khi-viet-nam.html, thời gian truy cập ngày 16/2/2017

5 Tổng cục Thống kê (2015), Thống kê doanh

nghiệp, hợp tác xã, cơ sở kinh tế phi nông nghiệp,

Nxb Thống kê, Hà Nội

SUMMARY

STRENGTHEN COMPETITIVE CAPABILITY OF MECHANICAL INDUSTRY

IN THE PROCESS OF INTERNATIONAL ECONOMIC INTEGRATION

Vu Hong Van*, Luong Thi Mai Uyen

University of Technology – TNU

From many periods, the development of mechanical industry in Vietnam’s economy is both foundation and motivation for the development of other industries In the period of international economic integration, the mechanical industry has revealed many disadvantages in competitive capability Most of enterprises which having outdated technology, lacking domestic raw materials; quality of human resource is low and management effectiveness is weak; having difficulties in raising capital and developing the market share, besides competition of foreign enterprises and imports The article analyzes the real situation of mechanical enterprises, identifies the reasons and proposes solutions to improve the competitive capability of the mechanical enterprises in the process of international economic integration

Keywords: competitive capability, international integration, mechanical industry, mechanical

enterprise, Vietnam’s mechanics

Ngày nhận bài: 15/02/2017; Ngày phản biện: 13/3/2017; Ngày duyệt đăng: 28/9/2017

*

Tel: 0912352221; Email: vuhongvan881@gmail.com

Trang 10

soT T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ

SOCIAL SCIENCE – HUMANITIES – ECONOMICS

Luu Binh Duong, Nguyen Van Tien - "Sacred" fundamental structure of customary law 3

Nguyen Thi Mai Chanh, Bui Thuy Linh - The characters of mythology in “The Republic of Wine” by

Pham Van Cuong - Studying adaptation to the training menthod of the credit for northern mountainous ethnic

minority students 15

Bui Linh Phuong, Mai Thi Ngoc Ha - Analysis and comparison of mathematical content in the forestry

agricultural sector training program of a number of universities in the world 19

Trinh Thi Kim Thoa - The situation and the solutions to improve the quality of teaching and learning Ho Chi

Minh ideology at University of Information and Communication Technology – TNU 25

Than Thi Thu Ngan - The 90th anniversary of the publication of "Duong Kach menh" book (1927 – 2017)

Theoretical and practical meaning of the work “Duong Kach menh” of the leader Nguyen Ai Quoc - Ho Chi Minh 31

Ma Thi Ngan - Some features should be regarded when building a physical education program to increase the

Duong Thi Huong Lan, Nguyen Vu Phong Van, Nguyen Hien Luong - Applied experiential learning

activities in an English speaking lesson of University of Economics and Business Administration - Thai

Le Ngoc Nuong, Nguyen Thi Ha, Nguyen Hai Khanh - Building the theory of integrity of satisfaction in the

work of laborers at Thai Nguyen Traffic Trading and Management Joint Stock Company 47

Doan Quang Thieu - Establishing the standard sample system of occurred economic operations and accounting

vouchers for students' practice 53

Do Thi Ha Phuong, Doan Thi Mai, Chu Thi Ha, Nguyen Thi Giang - Factors influencing willingness to pay

for safety food in Thai Nguyen city, Thai Nguyen province 59

Nguyen Thi Thanh Thuy - Analysis of FPT Joint Stock Company 's financial situation 65

Vu Hong Van, Luong Thi Mai Uyen - Strengthen competitive capability of mechanical industry in the process

of international economic integration 71

Nguyen Thi Linh Trang, Bui Thi Ngan - The development of non - cash payment service at military JSC Bank

Nguyen Thi Lan Anh, Nong Thi Van Thao - Building the system of management support in scoring staffs at

Vietcombank transaction deparment 85

Nguyen Thu Nga, Kieu Thi Khanh, Hoang Van Du - Investigation of commercial bank’s efficiency with

Nguyen Thi Van, Nguyen Bich Hong - Solutions to promote the economic structural transformation in Bac

Giang province towards industrialization and modernization to 2020 with a vision to 2030 97

Dam Thi Phuong Thao, Nguyen Tien Manh - Estimating the effect of some factors on operational efficiency

of real estate companies posted up in Viet Nam stock market 103

Pham Thi Huyen - Precedent and the application of precedent in Vietnam law system 109

Duong Thi Huyen - The relationship of the English's factory in Hirado (1613- 1623) with Japan government 115

Tran Nguyen Si Nguyen - Subtle mass mobilization is core of political activism art of Ho Chi Minh 121

Journal of Science and Technology

170 (10)

N¨m 2017

Ngày đăng: 15/01/2021, 04:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Vốn sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp cơ khí [3] - NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH CƠ KHÍ TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Bảng 2. Vốn sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp cơ khí [3] (Trang 6)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w