Đa số các doanh nghiệp có công nghệ lạc hậu, thiếu nguồn nguyên vật liệu trong nước, nguồn nhân lực chất lượng thấp và hiệu quả quản lý yếu, khó khăn trong việc huy động vốn và phát tr[r]
Trang 1Tập 170, số 10, 2017
Trang 2T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ
CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN – KINH TẾ
Lưu Bình Dương, Nguyễn Văn Tiến - “Thiêng hóa” - yếu tố cơ bản cấu thành luật tục 3
Nguyễn Thị Mai Chanh, Bùi Thuỳ Linh - Phương thức huyền thoại hoá nhân vật trong Tửu quốc của Mạc Ngôn 9
Phạm Văn Cường - Nghiên cứu sự thích ứng với phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ của sinh viên dân
Bùi Linh Phượng, Mai Thị Ngọc Hà - Phân tích, so sánh nội dung toán học trong chương trình đào tạo ngành
nông lâm nghiệp của một số trường đại học trên thế giới 19
Trịnh Thị Kim Thoa - Thực trạng và giải pháp để nâng cao chất lượng học tập môn tư tưởng Hồ Chí Minh tại
Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông – Đại học Thái Nguyên 25
Thân Thị Thu Ngân - Kỷ niệm 90 năm ra đời tác phẩm “Đường Kách mệnh” (1927 – 2017) - Ý nghĩa lý luận
và thực tiễn việc nghiên cứu tác phẩm “Đường Kách mệnh” của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh 31
Ma Thị Ngần - Một số đặc điểm cần lưu ý khi xây dựng chương trình môn học giáo dục thể chất nhằm nâng
cao kết quả học tập của sinh viên 35
Dương Thị Hương Lan, Nguyễn Vũ Phong Vân, Nguyễn Hiền Lương - Ứng dụng các hoạt động học tập
trải nghiệm vào trong một giờ học nói tiếng Anh ở Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh – Đại học
Lê Ngọc Nương, Nguyễn Thị Hà, Nguyễn Hải Khanh - Xây dựng khung lý thuyết về sự hài lòng trong công việc
của người lao động tại Công ty Cổ phần Quản lý và Xây dựng giao thông Thái Nguyên 47
Đoàn Quang Thiệu - Xây dựng hệ thống nghiệp vụ kinh tế phát sinh và bộ chứng từ kế toán mẫu để thực hành
Đỗ Thị Hà Phương, Đoàn Thị Mai, Chu Thị Hà, Nguyễn Thị Giang - Các yếu tố ảnh hưởng tới mức sẵn lòng
chi trả của người tiêu dùng đối với thực phẩm an toàn trên địa bàn thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên 59
Nguyễn Thị Thanh Thủy - Phân tích tình hình tài chính của công ty cổ phần FPT 65
Vũ Hồng Vân, Lương Thị Mai Uyên - Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành cơ khí trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế 71
Nguyễn Thị Linh Trang, Bùi Thị Ngân - Phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng
Thương mại Cổ phần quân đội – chi nhánh Thái Nguyên 77
Nguyễn Thị Lan Anh, Nông Thị Vân Thảo - Xây dựng hệ thống hỗ trợ quản lý chấm điểm cán bộ tại sở giao
Nguyễn Thu Nga, Kiều Thị Khánh, Hoàng Văn Dư - Hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng khi tính đến rủi
Nguyễn Thị Vân, Nguyễn Bích Hồng - Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bắc Giang theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2020, tầm nhìn 2030 97
Đàm Thị Phương Thảo, Nguyễn Tiến Mạnh - Đánh giá ảnh hưởng của một số nhân tố đến hiệu quả hoạt động
kinh doanh của các công ty bất động sản niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam 103
Phạm Thị Huyền - Án lệ và việc áp dụng án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam 109
Dương Thị Huyền - Mối quan hệ của thương điếm Anh ở Hirado (1613- 1623) với chính quyền Nhật Bản 115
Trần Nguyễn Sĩ Nguyên - Dân vận khéo là vấn đề cốt lõi trong nghệ thuật hoạt động chính trị Hồ Chí Minh 121
Đinh Thị Giang - Quan điểm của J.Locke về nguồn gốc và bản chất của nhà nước 127
Journal of Science and Technology
170 (10)
N¨m 2017
Trang 3Trần Bảo Ngọc, Lê Thị Lựu, Bùi Thanh Thủy và cộng sự - Nhận thức của sinh viên Dược về môi trường giáo
dục tại trường Đại học Y Dược - Đại học Thái Nguyên bằng bảng hỏi DREEM 131
Lương Ngọc Huyên - Thực trạng việc vận dụng toán học vào thực tiễn trong dạy học và kiểm tra, đánh giá kết
quả học tập môn Toán của học sinh lớp 10 ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Tuyên
Nguyễn Thị Hồng, Nguyễn Xuân Trường, Hoàng Thị Giang - Tiếp cận địa lý trong nghiên cứu quan hệ
giữa phát triển kinh tế gắn với đảm bảo an ninh quốc phòng khu vực các xã vùng cao biên giới (ví dụ tại tỉnh
Đỗ Thị Quyên, Nguyễn Thị Kim Tuyến - Nghiên cứu các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến hành vi mua trực tuyến của
người tiêu dùng tỉnh Thái Nguyên 149 Phương Hữu Khiêm, Nguyễn Đắc Dũng, Nguyễn Ngọc Lý - Phát triển thị trường sản phẩm đầu ra cho rừng
trồng sản xuất theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên 155
Phan Thị Thanh Huyền, Hà Xuân Linh - Nghiên cứu giá đất ở trên địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội 161 Nguyễn Thị Vân Anh - Thu hút đầu tư – động lực và cơ sở phát triển kinh tế bền vững tỉnh Thái Nguyên 167
Văn Thị Quỳnh Hoa, Nguyễn Lan Hương - Hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc giảng
dạy tiếng Anh cho sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên 173
Mai Văn Cẩn - Sử dụng hình tượng nhân vật Thạch Sanh trong một số hoạt động dạy thực hành tiếng Anh bậc
Đỗ Thị Hương Liên - Bàn thêm về cuộc khởi nghĩa của Hoàng Đình Kinh (Cai Kinh) và mối liên hệ với các
Phạm Văn Quang, Nguyễn Huy Ánh - Giải pháp tăng cường tính tích cực, chủ động trong học tập của sinh
viên khoa Thể dục thể thao trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên 191
Nguyễn Thị Minh Thu, Bùi Thị Ngọc Anh - Ca dao, dân ca làng chài Vịnh Hạ Long - nét văn hóa mang đậm
Đặng Anh Tuấn, Ngô Thị Minh Hằng, Phạm Thị Trung Hà - Sự hồi phục của thị trường bất động sản và rủi
ro kinh doanh của các công ty bất động sản 203
Lê Văn Thơ, Vũ Anh Tuấn - Đánh giá tình hình sử dụng đất tại các khu đô thị trên địa bàn thành phố Việt Trì,
tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011 – 2016 209
Trang 4Vũ Hồng Vân và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 170(10): 71 - 76
71
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH CƠ KHÍ
TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp – ĐH Thái Nguyên
TÓM TẮT
Trải qua các thời kỳ, sự phát triển của ngành công nghiệp cơ khí luôn là nền tảng vừa là động lực cho sự phát triển của nhiều ngành nghề khác Trong xu thế hội nhập hiện nay, ngành cơ khí Việt Nam đã và đang bộc lộ nhiều mặt hạn chế về năng lực cạnh tranh Đa số các doanh nghiệp có công nghệ lạc hậu, thiếu nguồn nguyên vật liệu trong nước, nguồn nhân lực chất lượng thấp và hiệu quả quản lý yếu, khó khăn trong việc huy động vốn và phát triển thị trường, cùng với sự cạnh tranh gay gắt của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng như hàng nhập khẩu Bài báo phân tích thực trạng của các doanh nghiệp, tìm hiểu các nguyên nhân và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năm lực cạnh tranh của ngành cơ khí để hội nhập thành công
Từ khóa: năng lực cạnh tranh, hội nhập quốc tế, công nghiệp cơ khí, doanh nghiệp cơ khí, cơ khí
Việt Nam
ĐẶT VẤN ĐỀ *
Nâng cao năng lực cạnh tranh về thực chất là
việc doanh nghiệp cố gắng tạo ra ngày càng
nhiều hơn các ưu thế trên tất cả các mặt để có
thể chiếm lĩnh được thị trường bởi các tiêu
chí như giá cả, chất lượng, nhãn hiệu và uy
tín Công nghiệp cơ khí là ngành sản xuất ra
máy móc, thiết bị cung cấp cho nhiều ngành
kinh tế khác Mục tiêu nghiên cứu nhằm chỉ
rõ các cơ hội và thách thức của các doanh
nghiệp cơ khí trong thời kỳ hội nhập kinh tế
quốc tế và đề xuất các giải pháp nâng cao
năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp để
ngành cơ khí Việt Nam tiếp tục khẳng định
vai trò động lực cho sự phát triển của nền
kinh tế
Trong nghiên cứu này, năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp được hiểu là khả năng duy
trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong hoạt
động tiêu thụ sản phẩm, thu hút và sử dụng có
hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích
kinh tế cao và đảm bảo sự phát triển bền vững
của doanh nghiệp
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Tác giả dựa vào các chỉ tiêu cơ bản đo lường
các lợi thế của doanh nghiệp so với lợi thế
của các đối thủ cạnh tranh để đo lường năng
*
Tel: 0912352221; Email: vuhongvan881@gmail.com
lực cạnh tranh của các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam, gồm có: năng lực công nghệ, năng lực quản trị sản xuất, năng lực tài chính, năng lực tổ chức và quản lý doanh nghiệp Do vậy câu hỏi nghiên cứu đặt ra là ngành cơ khí nói chung và mỗi doanh nghiệp cơ khí nói riêng cần làm gì để đạt được ưu thế về các tiêu chí trên so với đối thủ cạnh tranh nhằm mục tiêu kinh doanh hiệu quả và bền vững Bài báo đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam thông qua các chỉ tiêu trên cùng với việc sử dụng phương pháp so sánh, phân tích số liệu thứ cấp được công bố của Bộ Công thương, Uỷ ban kinh tế trung ương, Hiệp hội cơ khí Việt Nam
ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH CƠ KHÍ VIỆT NAM
Số liệu của Tổng cục thống kê năm 2015 cho thấy, cả nước có 16.762 doanh nghiệp sản xuất cơ khí trong đó có 119 doanh nghiệp nhà nước, 146 doanh nghiệp nước ngoài Tổng số vốn của ngành cơ khí quốc doanh vào khoảng
380 triệu USD, tổng vốn đăng ký đầu tư nước ngoài (FDI) vào ngành cơ khí vào khoảng 2,1
tỷ USD Toàn ngành sản xuất được 1.059.950
tỷ đồng trong đó cơ khí nội địa đạt 344.737 tỷ đồng với hơn 500 chủng loại sản phẩm như máy công cụ, động cơ thiết bị điện, sản phẩm kim loại…
Trang 5Vũ Hồng Vân và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 170(10): 71 - 76
Bảng 1 Giá trị sản xuất ngành cơ khí giai đoạn 2010-2015 [3]
Đvt: tỷ đồng
Chỉ tiêu 2010 2011 2012 2013 2014 2015 Giá trị SX trong nước 206.223 218.546,5 227.910,9 251.185,2 263.714 344.737 Giá trị nhập khẩu 401.520 482.262 471.660 521.030 532.529 652.215 Giá trị xuất khẩu 139.110 203.112 242.825 276.864 305.638 533.813 Tổng giá trị ngành 697.743 700.809 699.570,9 772.216,2 796.243 1.059.950
Năm 2015 ngành cơ khí Việt Nam đảm bảo
được 32,5% nhu cầu trong nước và 30% xuất
khẩu Năm 2015 chúng ta nhập khẩu 32,5 tỷ
USD thiết bị cơ khí trong khi giá trị xuất khẩu
chỉ đạt 26,6 tỷ USD [4] Thực tế cho thấy,
nếu cơ khí nội địa phát triển, chiếm được thị
trường trong nước và xuất khẩu thì sẽ tạo
được doanh thu lớn Hiện nay giá trị sản
lượng của ngành cơ khí chỉ chiếm 22% giá trị
sản xuất toàn ngành công nghiệp trong khi đó
vốn đầu tư chiếm hơn 16% và số lao động
chiếm khoảng 12% với trên 500 000 lao động
Số lượng lao động được phân bổ trong ngành
cơ khí thuộc doanh nghiệp nhà nước, tư nhân
và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là
8%-28% và 64% [5]
Xuất phát từ một nền kinh tế nông nghiệp, cơ
sở vật chất kỹ thuật và nguồn nhân lực yếu
nên sản phẩm của ngành công nghiệp cơ khí
Việt Nam nói chung đến nay vẫn còn nhỏ bé,
đạt trình độ trung bình về gia công và năng
lực cạnh tranh yếu về nhiều mặt Điều đó dẫn
đến chất lượng sản phẩm thấp, mẫu mã đơn
điệu, giá trị gia tăng của sản phẩm chưa cao,
hạn chế về thị trường xuất khẩu và chưa đáp
ứng được các tiêu chuẩn so với ngành công
nghiệp cơ khí của khu vực và thế giới Phân
tích thực trạng ngành cơ khí Việt Nam căn cứ
vào các tiêu chí đo lường năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp cụ thể như sau:
Về công nghệ, trình độ của ngành cơ khí Việt
Nam lạc hậu hơn các nước tiên tiến từ 50-100
năm Cơ khí tuy là ngành công nghiệp quan
trọng, nhưng vốn đầu tư cho ngành tăng
không đáng kể trong 20 năm qua, các thiết bị
đã qua nhiều năm sử dụng, tính năng kỹ thuật
đã lạc hậu, độ chính xác kém, thiếu phụ tùng thay thế, thiếu chú ý bảo dưỡng định kỳ, thiếu vốn để thay thế Nhìn chung các doanh nghiệp cơ khí chế tạo nước ta mới đạt trình độ trung bình về gia công kết cấu thép, thiết bị phi tiêu chuẩn, chế tạo các máy công cụ, máy động lực, máy canh tác và máy chế biến nông sản cỡ nhỏ Ngành cơ khí chưa có các cơ sở công nghiệp có thiết bị công nghệ tiên tiến đủ khả năng thiết kế, chế tạo máy, thiết bị công nghệ cao đủ sức cạnh tranh với thị trường trong nước và quốc tế Ngoài ra phần lớn máy móc thiết bị, nguyên liệu phải nhập từ nước ngoài, công nghệ phụ trợ lại yếu kém, sản xuất thép còn nhỏ bé và chỉ là thép xây dựng, thiếu nguồn vật liệu cho ngành cơ khí Trong khi đó các doanh nghiệp lại rất khó khăn về vốn đầu tư đổi mới thiết bị và công nghệ [2]
Về năng lực tài chính, hầu hết các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ (dưới 1 triệu USD) Đặc điểm của ngành cơ khí là ngành thâm dụng vốn, thời gian thu hồi vốn lâu, lợi nhuận thấp hơn các ngành khác, do đó việc thu hút vốn đầu tư còn gặp nhiều khó khăn và nguồn vốn cho đầu tư phát triển còn thiếu Khu vực chế tạo máy hơn 10 năm nay chưa xây dựng thêm được một nhà máy mới nào dẫn đến cơ khí nước ta phát triển lệch, phần chính yếu và quan trọng chưa được Nhà nước chỉ đạo đầu
tư phát triển
Trang 6Vũ Hồng Vân và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 170(10): 71 - 76
73
Bảng 2 Vốn sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp cơ khí [3]
Đvt: tỷ đồng
Chỉ tiêu 2010 2011 2012 2013 2014 Tổng vốn kinh doanh ngành 558.984 672.450 783.378 887.369 1.050.436 Vốn SXKD bình quân 45,498 46,636 51,008 56,113 62,668
Số lượng doanh nghiệp 12.286 14.419 15.358 15.814 16.762
Về thị trường, một số sản phẩm của ngành cơ
khí đang bị mất dần thị phần tiêu thụ ngay
trong nước, đặc biệt trong việc sản xuất và
cung cấp thiết bị toàn bộ Quản lý thị trường
yếu kém, không xây dựng được tiêu chuẩn kỹ
thuật để bảo vệ sản phẩm trong nước, để cho
hàng cơ khí chất lượng thấp, giá rẻ tràn vào thị
trường trong nước Một số thị trường đáng kể
như thị trường máy động lực và nông nghiệp,
thị trường máy bơm thì hàng Việt Nam chỉ
chiếm 15 - 20% thị phần Các đối thủ chủ yếu
của ngành cơ khí Việt Nam là Trung Quốc,
Hàn Quốc, Nhật Bản Thêm vào đó, một số thị
trường bị Trung Quốc chiếm lĩnh do giá thành
sản phẩm nội cao hơn từ 15-30% Ngành cơ
khí Việt Nam cũng chưa có chiến lược thị
trường và sản phẩm để cạnh tranh
Về nguồn nhân lực và năng lực quản lý,
ngành cơ khí còn thiếu lực lượng nghiên cứu
phát triển, từ lực lượng tư vấn, thiết kế công
nghệ và thiết kế chế tạo, đến các chuyên gia
đầu ngành Hiện các doanh nghiệp cơ khí phải
đối mặt với tình trạng thiếu hụt lao động
nghiêm trọng, nhất là kỹ sư, cán bộ kỹ thuật,
công nhân có tay nghề cao cũng như khả năng
hợp tác, làm việc nhóm Ngoài ra, doanh
nghiệp cũng thiếu sự liên hệ chặt chẽ với các
trường để đặt hàng nguồn nhân lực chất lượng
cao, đáp ứng nhu cầu thực tế Nhìn chung
chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng
được đòi hỏi của nền sản xuất cơ khí có công
nghệ cao trong cơ chế thị trường Hơn nữa
trình độ quản lý của chủ doanh nghiệp cơ khí
còn thấp, chưa chủ động và nhạy bén trong
cạnh tranh Liên kết chiến lược giữa các
doanh nghiệp theo đúng nguyên tắc cơ bản
của quá trình tổ chức sản xuất cơ khí là
chuyên môn hóa sâu, hợp tác rộng chưa được
quan tâm và triển khai
Từ thực trạng trên cho thấy các nguyên nhân dẫn đến năng lực cạnh tranh hạn chế của ngành cơ khí Việt Nam như sau:
Công tác xây dựng, quy hoạch chiến lược phát triển của ngành chưa được quan tâm đúng mức Cơ chế, chính sách hỗ trợ, thúc đẩy phát triển ngành còn thiếu sự nhất quán
và tính thưc thi còn yếu, đặc biệt là cơ chế tài chính Vai trò quản lý, triển khai và kiểm tra việc thực hiện cơ chế chính sách của các cơ quan quản lý Nhà nước còn nhiều hạn chế Đầu tư cho cơ khí vừa phân tán, dàn trải; công tác nghiên cứu phục vụ cho việc phát triển của ngành cơ khí còn yếu
Ở phạm vi doanh nghiệp, hệ thống quản lý phối hợp giữa các doanh nghiệp trong ngành
cơ khí yếu kém, thiếu các chính sách và quyết định kịp thời, đủ sức mạnh để bảo hộ và tạo thị trường cho ngành cơ khí trong nước Tổ chức sản xuất khép kín, không hợp lý thiếu chuyên môn hoá, mức độ hợp tác hoá thấp, ít quan tâm đến quản lý chất lượng Các doanh nghiệp Nhà nước chậm đổi mới, các doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ, năng lực hạn chế, ít quan tâm đến đầu tư chiều sâu Năng lực quản lý điều hành của chủ các doanh nghiệp cơ khí còn yếu Năng lực nghiên cứu phát triển hạn chế Thêm vào đó các doanh nghiệp chưa chủ động tham gia hội nhập kinh
tế quốc tế
Nguồn nhân lực ngành cơ khí chưa có kế hoạch đào tạo và phát triển phù hợp và có sự phối kết hợp đồng bộ giữa cơ sở đào tạo, người lao động và người sử dụng lao động; cơ cấu lao động theo trình độ còn bất hợp lý Thiếu lực lượng nghiên cứu phát triển, trước hết là lực lượng thiết kế, chế tạo, cụ thể là thiếu các tổng công trình sư hoặc kỹ sư trưởng cho các sự án thiết kế toàn bộ Mặt khác, công nghiệp cơ khí của ta còn phụ
Trang 7Vũ Hồng Vân và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 170(10): 71 - 76
thuộc nhiều vào các chuyên gia giám sát, tư
vấn viên và đặc biệt là hầu hết các nguyên vật
liệu chính, máy móc đều phải nhập khẩu từ
nước ngoài
Bên cạnh mặt hạn chế, thời gian qua các
doanh nghiệp ngành cơ khí đã có nhiều cố
gắng đổi mới cơ cấu tổ chức, đẩy mạnh cổ
phần hóa và tập trung vào ngành nghề chính
Về thiết bị toàn bộ, đã sản xuất được các loại
thiết bị cơ khí thủy công cho các nhà máy
thủy điện lớn, dây chuyền thiết bị cán thép
30000 tấn/năm, dây chuyền thiết bị đồng bộ
cho nhà máy xi măng 800 000 tấn/năm, sản
xuất máy biến áp 500kv, cáp ngầm đến
220kv, chế tạo dàn khoan tự nâng có độ sâu
90m nước Về sản xuất lắp ráp ô tô có tổng
năng lực đạt 460 ngàn xe/năm gồm các chủng
loại xe con, xe tải và xe khách tăng trên 55%
Sản xuất xe máy có sự phát triển vượt bậc đáp
ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu 150 000
xe/năm với tỉ lệ nội địa hóa đạt trên 85% Đẩy
mạnh đầu tư thiết bị và chế tạo thành công
nhiều sản phẩm cơ khí phức tạp, siêu trường
siêu trọng; sản xuất kim loại cũng tăng hơn
23% [5]
CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA NGÀNH
CƠ KHÍ TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ
Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực
được nhìn nhận bằng quá trình tham gia các tổ
chức WTO, AEC, diễn đàn kinh tế thế giới và
khu vực cũng như những hiệp định thương mại
song phương và đa phương mà Việt Nam đã
ký kết và cam kết thực hiện Theo đó, các hàng
rào bảo hộ và thuế quan bị dỡ bỏ, chỉ còn lại
các rào cản kỹ thuật nhưng đến nay, chúng ta
vẫn chưa có các rào cản kỹ thuật đủ mạnh để
bảo vệ các sản phẩm cơ khí trọng điểm Do
vậy nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp Việt là một tất yếu khách quan trong
quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới
Nếu không làm được điều này, doanh nghiệp
Việt không chỉ thất bại trên thị trường ngoài
nước mà còn gánh chịu những hậu quả tương
tự trên chính thị trường nội địa
Thời gian tới, với chiến lược phát triển dài hạn công nghiệp cơ khí là đẩy mạnh chế tạo các loại linh kiện, phụ tùng phục vụ sửa chữa thay thế cho máy móc thiết bị sản xuất công nghiệp nói chung, trong đó có cơ khí nông nghiệp, ô tô - xe gắn máy, cơ khí xây dựng,
cơ khí tiêu dùng và cơ khí dệt may, từng bước thay thế nguồn phụ tùng nhập khẩu Chiến lược cũng đề ra mục tiêu cụ thể, đến năm
2025, tỷ trọng ngành cơ khí chiếm trên 21%
và năm 2035 chiếm 24% trong cơ cấu ngành công nghiệp Năm 2025, ngành cơ khí đáp ứng trên 50% nhu cầu thị trường trong nước
và năm 2035 đáp ứng trên 60% Nếu tỷ lệ nội địa hóa được 30-40% Việt Nam sẽ hạn chế nhập siêu sản phẩm cơ khí hiện nay [1] Hiện nay, cùng với quá trình mở cửa nền kinh tế và hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, ngành cơ khí Việt Nam vẫn còn nhiều địa dư
để phát triển cùng với triển vọng tốt của ngành công nghiệp cơ khí chế tạo, cơ khí công nghiệp hỗ trợ và cơ khí chính xác Hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra những điều kiện thuận lợi để tiếp cận nhanh chóng các thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, tiếp thu và nâng cao trình độ công nghệ ngành
và quốc gia; mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo, nâng cao năng lực, trình độ của lực lượng nghiên cứu khoa học công nghệ
và thiết kế trong nước; mở rộng thị trường xuất khẩu cho các sản phẩm cơ khí mới, có khả năng cạnh tranh như: ô tô, xe máy, tàu thuỷ, máy công cụ, phụ tùng máy móc thiết bị; cơ hội thúc đẩy cải cách hành chính, đổi mới doanh nghiệp, đổi mới phương thức quản
lý giúp cho doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh của mình
Bên cạnh đó những thách thức đối với ngành công nghiệp cơ khí Việt Nam là: sự cạnh tranh mạnh mẽ từ phía các quốc gia ASEAN cũng như Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc
và Nhật Bản Để thực hiện các cam kết hội nhập, Chính phủ Việt Nam phải đưa ra chương trình cắt giảm thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, mở cửa thị trường ô tô; đối mặt với cuộc cạnh tranh khốc liệt trên thị trường quốc tế Các thành viên WTO gây áp
Trang 8Vũ Hồng Vân và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 170(10): 71 - 76
75
lực buộc Việt Nam phải chấp nhận giảm thuế
suất cho các linh kiện nhập khẩu Mặt khác,
Việt Nam phải tuân thủ theo các quy tắc
thương mại quốc tế, xóa bỏ các yêu cầu về tỷ
lệ nội địa hóa Ngoài ra những thách thức từ
nội địa, doanh nghiệp cơ khí Việt Nam thiếu
vốn để đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ
hoặc để đầu tư mới nhằm tạo ra sản phẩm
mới, chất lượng cao phục vụ cho nhu cầu
ngày càng cao của thị trường trong và ngoài
nước Thiếu lực lượng nghiên cứu phát triển,
trước hết là lực lượng thiết kế, chế tạo đặc
biệt là các tổng công trình sư, kỹ sư trưởng
cho các dự án thiết bị toàn bộ và cán bộ quản
lý doanh nghiệp có trình độ
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA NGÀNH CƠ KHÍ
Các giải pháp của doanh nghiệp cơ khí
Cần có nhận thức đúng về năng lực cạnh
tranh, tìm ra các giải pháp để nâng cao năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp một cách
bền vững, lâu dài và liên tục cả hiện tại và
tương lai; đổi mới tư duy và cách làm, chủ
động cơ cấu lại sản xuất, năng động, tự vươn
lên trong nền kinh tế thị trường và hội nhập
quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả quản trị
doanh nghiệp, tìm mọi cách giảm chi phí đầu
vào, nâng cao năng suất, chất lượng; mở rộng
thị trường, chủ động tham gia chuỗi giá trị
toàn cầu
Đẩy mạnh quá trình tiếp nhận và chuyển giao
công nghệ, đầu tư vốn để nghiên cứu, phát
minh đưa vào ứng dụng công nghệ mới Đổi
mới công nghệ phải đi đôi với đào tạo, nâng
cao trình độ của cán bộ kỹ thuật cũng như
công nhân sản xuất để có thể làm chủ và khai
thác triệt để công nghệ Cộng đồng doanh
nghiệp cơ khí cần nhanh chóng liên kết hợp
tác sản xuất, đặc biệt là xây dựng các tổ hợp
gồm các doanh nghiệp tư vấn, thiết kế, chế
tạo và xây lắp để trở thành các liên danh nhà
thầu mạnh tham gia tổng thầu EPC các dự án
nhiệt điện và công nghiệp
Tiếp tục tiến hành cổ phần hóa các doanh
nghiệp cơ khí, lập chiến lược và kế hoạch
kinh doanh khả thi, phải tranh thủ mọi cơ hội
để có thể vay được vốn của các tổ chức tài chính trong và ngoài nước
Các doanh nghiệp cần có quá trình tuyển mộ
và tuyển chọn phù hợp để thu hút, tuyển dụng được những người giỏi; tăng cường hoạt động đào tạo và phát triển để người lao động không ngừng nâng cao trình độ, tay nghề; có các chính sách tạo động lực, đãi ngộ thích đáng
để giữ chân người lao động Ngoài ra cần các chính sách liên kết, hợp tác với một số trong hơn 80 trường đại học, cao đẳng đào tạo ngành cơ khí và với các trung tâm dạy nghề
để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành trong dài hạn
Các cán bộ quản lý cần xây dựng cho doanh nghiệp mình phong cách quản lý phù hợp và khoa học, tạo ra được môi trường làm việc chuyên nghiệp để phát huy sự sáng tạo của người lao động trong công việc, khuyến khích
họ đóng góp phát triển công ty và nâng cao hiệu suất công tác Ngoài ra lực lượng lao động cơ khí cần rèn luyện tác phong công nghiệp, khả năng hợp tác và nâng cao trình độ ngoại ngữ
Các doanh nghiệp cơ khí cần tăng cường công tác điều tra, nghiên cứu thị trường; mở rộng thị trường gắn với việc đảm bảo chất lượng với giá cả phù hơp; cần tăng cường các hoạt động xây dựng thương hiệu sản phẩm với dịch vụ tư vấn trước và sau bán, dịch vụ bảo hành và sửa chữa theo yêu cầu của khách hàng Ngành cơ khí cũng cần xây dựng Hiệp hội ngành hàng để hỗ trợ đắc lực cho Chính phủ và các doanh nghiệp xây dựng lợi thế cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc
tế Đồng thời xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật làm hàng rào ngăn cản các sản phẩm cơ khí kém chất lượng vào thị trường trong nước Các giải pháp từ phía nhà nước
Có các chính sách kịp thời và đủ mạnh để bảo
hộ và tạo điều kiện cho ngành cơ khí trong nước phát triển, bao gồm bảo hộ sản xuất các sản phẩm cơ khí trọng điểm, hạn chế nhập khẩu những sản phẩm cơ khí mà trong nước đã
có năng lực sản xuất tốt; bổ sung hoàn chỉnh các quy chế đấu thầu, chỉ định thầu, thông qua
Trang 9Vũ Hồng Vân và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 170(10): 71 - 76
cơ chế tạo đơn hàng tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp cơ khí đủ khả năng được tham
gia các dự án công nghiệp lớn, các dây chuyền
thiết bị toàn bộ để họ có điều kiện tích lũy
được năng lực, kinh nghiệm và tài chính để
vươn lên, làm chủ các dự án tiếp theo
Đẩy mạnh công tác nghiên cứu trong lĩnh vực
cơ khí như đầu tư cho các viện nghiên cứu,
các dự án nghiên cứu quan trọng đồng thời có
chính sách hỗ trợ vay vốn dài hạn cho ngành
cơ khí với lãi suất ưu đãi Tập trung vào lĩnh
vực chủ yếu là cơ khí chế tạo, xây dựng các
nhà máy đúc, tạo phôi có quy mô lớn; hoàn
thiện công nghệ gia công, lắp ráp cơ khí
Phát triển nguồn nhân lực như đầu tư cho các
cơ sở đào tạo kỹ sư cơ khí và công nhân kỹ
thuật Xây dựng chức danh công trình sư và
tổng công trình sư Nghiên cứu ban hành các
chính sách thu hút nhân tài và tăng cường cử
cán bộ và công nhân kỹ thuật ra nước ngoài
học tập bồi dưỡng
Thúc đẩy những ngành cung cấp nguyên vật
liệu và những ngành công nghiệp hỗ trợ cho
ngành cơ khí phát triển Nhà nước cũng là
người định hướng, cung cấp các thông tin cho
các doanh nghiệp về các vấn đề đầu tư, các
giải pháp công nghệ từ nước ngoài một cách kịp thời để các doanh nghiệp tận dụng, nắm bắt, nâng cao khả năng cạnh tranh
KẾT LUẬN
Từ thực trạng của ngành cơ khí đã phân tích, cần thực hiện các giải pháp đồng bộ với sự nỗ lực của các cơ quan Nhà nước, tổ chức và các doanh nghiệp cơ khí để ngành cơ khí Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển vững mạnh trong thời kỳ hội nhập
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Chính phủ (2002), Quyết định
186/2002/QĐ-TTg ngày 26/12/2002, Chiến lược phát triển Công
nghiệp cơ khí Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020, Hà Nội
2 Bộ Công thương (2014), Kỷ yếu Hội nghị tổng kết
10 năm thực hiện chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam, tháng 4/2014, tr 124-125, Hà Nội
3 Hiệp hội doanh nghiệp cơ khí Việt Nam (2016),
Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2016 và định hướng năm 2017, tr 2-4, Hà Nội
4 Quỳnh Nga (10/11/2015), Chiến lược mới cho
ngành cơ khí Việt Nam, http://baocongthuong
com.vn/chien-luoc-moi-cho-nganh-co-khi-viet-nam.html, thời gian truy cập ngày 16/2/2017
5 Tổng cục Thống kê (2015), Thống kê doanh
nghiệp, hợp tác xã, cơ sở kinh tế phi nông nghiệp,
Nxb Thống kê, Hà Nội
SUMMARY
STRENGTHEN COMPETITIVE CAPABILITY OF MECHANICAL INDUSTRY
IN THE PROCESS OF INTERNATIONAL ECONOMIC INTEGRATION
Vu Hong Van*, Luong Thi Mai Uyen
University of Technology – TNU
From many periods, the development of mechanical industry in Vietnam’s economy is both foundation and motivation for the development of other industries In the period of international economic integration, the mechanical industry has revealed many disadvantages in competitive capability Most of enterprises which having outdated technology, lacking domestic raw materials; quality of human resource is low and management effectiveness is weak; having difficulties in raising capital and developing the market share, besides competition of foreign enterprises and imports The article analyzes the real situation of mechanical enterprises, identifies the reasons and proposes solutions to improve the competitive capability of the mechanical enterprises in the process of international economic integration
Keywords: competitive capability, international integration, mechanical industry, mechanical
enterprise, Vietnam’s mechanics
Ngày nhận bài: 15/02/2017; Ngày phản biện: 13/3/2017; Ngày duyệt đăng: 28/9/2017
*
Tel: 0912352221; Email: vuhongvan881@gmail.com
Trang 10oµ soT T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ
SOCIAL SCIENCE – HUMANITIES – ECONOMICS
Luu Binh Duong, Nguyen Van Tien - "Sacred" fundamental structure of customary law 3
Nguyen Thi Mai Chanh, Bui Thuy Linh - The characters of mythology in “The Republic of Wine” by
Pham Van Cuong - Studying adaptation to the training menthod of the credit for northern mountainous ethnic
minority students 15
Bui Linh Phuong, Mai Thi Ngoc Ha - Analysis and comparison of mathematical content in the forestry
agricultural sector training program of a number of universities in the world 19
Trinh Thi Kim Thoa - The situation and the solutions to improve the quality of teaching and learning Ho Chi
Minh ideology at University of Information and Communication Technology – TNU 25
Than Thi Thu Ngan - The 90th anniversary of the publication of "Duong Kach menh" book (1927 – 2017)
Theoretical and practical meaning of the work “Duong Kach menh” of the leader Nguyen Ai Quoc - Ho Chi Minh 31
Ma Thi Ngan - Some features should be regarded when building a physical education program to increase the
Duong Thi Huong Lan, Nguyen Vu Phong Van, Nguyen Hien Luong - Applied experiential learning
activities in an English speaking lesson of University of Economics and Business Administration - Thai
Le Ngoc Nuong, Nguyen Thi Ha, Nguyen Hai Khanh - Building the theory of integrity of satisfaction in the
work of laborers at Thai Nguyen Traffic Trading and Management Joint Stock Company 47
Doan Quang Thieu - Establishing the standard sample system of occurred economic operations and accounting
vouchers for students' practice 53
Do Thi Ha Phuong, Doan Thi Mai, Chu Thi Ha, Nguyen Thi Giang - Factors influencing willingness to pay
for safety food in Thai Nguyen city, Thai Nguyen province 59
Nguyen Thi Thanh Thuy - Analysis of FPT Joint Stock Company 's financial situation 65
Vu Hong Van, Luong Thi Mai Uyen - Strengthen competitive capability of mechanical industry in the process
of international economic integration 71
Nguyen Thi Linh Trang, Bui Thi Ngan - The development of non - cash payment service at military JSC Bank
Nguyen Thi Lan Anh, Nong Thi Van Thao - Building the system of management support in scoring staffs at
Vietcombank transaction deparment 85
Nguyen Thu Nga, Kieu Thi Khanh, Hoang Van Du - Investigation of commercial bank’s efficiency with
Nguyen Thi Van, Nguyen Bich Hong - Solutions to promote the economic structural transformation in Bac
Giang province towards industrialization and modernization to 2020 with a vision to 2030 97
Dam Thi Phuong Thao, Nguyen Tien Manh - Estimating the effect of some factors on operational efficiency
of real estate companies posted up in Viet Nam stock market 103
Pham Thi Huyen - Precedent and the application of precedent in Vietnam law system 109
Duong Thi Huyen - The relationship of the English's factory in Hirado (1613- 1623) with Japan government 115
Tran Nguyen Si Nguyen - Subtle mass mobilization is core of political activism art of Ho Chi Minh 121
Journal of Science and Technology
170 (10)
N¨m 2017