Dựa trên thực tế ngành chế biến và xuất khẩu thủy hải sản của nghiên cứu này, việc áp dụng máy móc thiết bị, hệ thống nhà xưởng, dây chuyền chế biến, hoạt động nghiên cứu và phát triể[r]
Trang 1DOI:10.22144/ctu.jvn.2019.169
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THỦY HẢI SẢN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Nguyễn Thị Lệ1*, Huỳnh Thanh Nhã2 và Nguyễn Thiện Phong3
1 Khoa Quản trị kinh doanh, Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Cần Thơ
2 Trường Đại học Kỹ thuật - Công nghệ Cần Thơ
3 Trường Đại học Tây Đô
*Người chịu trách nhiệm về bài viết: Nguyễn Thị Lệ (email: ntle@ctec.edu.vn)
Thông tin chung:
Ngày nhận bài: 20/09/2019
Ngày nhận bài sửa: 29/10/2019
Ngày duyệt đăng: 26/12/2019
Title:
Analysis of factors affecting
the competitiveness of seafood
businesses in the Mekong
Delta
Từ khóa:
Doanh nghiệp, năng lực cạnh
tranh, nhân tố ảnh hưởng,
thủy hải sản
Keywords:
Competitiveness, enterprises,
influence factors, seafood
ABSTRACT
The objective of this study is to analyze the impact of factors on the competitiveness of seafood exporting enterprises in the Mekong Delta Data used in the study was collected from 155 enterprises via convenient sampling methods The results from Cronbach’s Alpha, EFA, and linear regression analyses show that there are four groups of factors affecting the competitiveness of seafood enterprises including source of material, human resources, characteristics and capabilities of enterprises, and ethics and social responsibilities association of businesses Based on the results, four administrative implications were proposed to improve the competitiveness of seafood exporters in the Mekong Delta
TÓM TẮT
Mục tiêu của nghiên cứu là phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy hải sản vùng Đồng bằng sông Cửu Long Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu được thu thập từ 155 doanh nghiệp bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện Kết quả của kiểm định thang đo Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA và phân tích hồi qui tuyến tính cho thấy có bốn nhóm nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thủy hải sản trong vùng là: nguồn nguyên liệu, nguồn nhân lực, đặc điểm và khả năng của doanh nghiệp và đạo đức và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Kết quả phân tích của nghiên cứu là căn cứ đề xuất bốn hàm ý quản trị góp phần hoàn thiện năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp hải sản ở Đồng bằng sông Cửu Long
Trích dẫn: Nguyễn Thị Lệ, Huỳnh Thanh Nhã và Nguyễn Thiện Phong, 2019 Nghiên cứu các nhân tố ảnh
hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thủy hải sản vùng Đồng bằng sông Cửu Long Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ 55(6B): 65-74
1 GIỚI THIỆU
Thủy hải sản là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của
Việt Nam Theo Phòng Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam (2017), Việt Nam đứng trong ba
quốc gia hàng đầu thế giới (sau Trung Quốc và Ấn
Độ) về nuôi trồng và xuất khẩu thủy hải sản Tuy
nhiên, các vấn đề về bệnh dịch, hạn hán, xâm nhập
mặn hay ô nhiễm môi trường tại Việt Nam hiện
đang tạo ra nhiều khó khăn và áp lực cho sự phát
triển của ngành Ngoài ra, các rào cản kỹ thuật và giao dịch của các nước nhập khẩu để bảo vệ các doanh nghiệp (DN) và người tiêu dùng của họ ngày càng khắt khe hơn Nghiên cứu của Phan Văn Hòa (2009) cho thấy việc sản xuất và tiêu thụ thủy hải sản của các DN Việt Nam còn nhiều thiếu sót và sự không nhất quán Điều đó trực tiếp làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động và tính bền vững trong sản xuất, tiêu thụ và tiếp thị sản phẩm Hệ thống cơ sở
hạ tầng đã không đáp ứng yêu cầu thực tế, sản xuất
Trang 2các cơ sở nhỏ lẻ, rải rác; các mô hình công nghệ
cao còn hạn chế; mối liên kết trong sản xuất và
quản lý còn lỏng lẻo Bên cạnh đó, giá thủy hải sản
nguyên liệu không hợp lý so với giá xuất khẩu do
chi phí sản xuất trong nước cao (Xuân Thảo, 2017)
cũng là một trong các yếu tố tạo nên khó khăn lớn
để các DN Việt Nam có thể cạnh tranh trên thị
trường xuất khẩu
Để phát triển bền vững trên thị trường quốc tế,
các DN xuất khẩu thủy hải sản nên chú trọng vào
việc nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt
động Bởi vì theo Porter (2008), năng lực cạnh
tranh giúp DN có thể đứng vững trên thị trường,
mở rộng thị phần, tăng lợi nhuận Năng lực cạnh
tranh cũng là khả năng thực hiện tốt hơn đối thủ
trong việc đạt được mục tiêu quan trọng nhất là lợi
nhuận. Nâng cao năng lực cạnh tranh cho phép
DN tạo ra và duy trì lợi nhuận trong môi trường
thay đổi nhanh chóng (Ambrosini and Bowman,
2009)
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, “Nghiên
cứu các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh
tranh của các doanh nghiệp thủy hải sản vùng
Đồng bằng sông Cửu Long” là cấp thiết, cần được
thực hiện để có cơ sở, làm căn cứ đề xuất các hàm
ý quản trị
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
2.1.1 Năng lực cạnh tranh
Theo quan điểm của Porter (2008), cạnh tranh
là vấn đề cơ bản quyết định sự thành công hay thất
bại của DN Chiến lược cạnh tranh là sự tìm kiếm
vị thế cạnh tranh thuận lợi trong ngành Vị thế cạnh
tranh khi xem xét trên phương diện từ DN đó chính
là khả năng cạnh tranh của DN Guan et al (2006)
tin rằng khả năng cạnh tranh bao gồm nhiều yếu tố
như lãnh đạo, chi phí, lợi thế giá trị khách hàng,
quản lý thời gian hiệu quả và lợi thế của sự đổi
mới Một công ty có lợi thế cạnh tranh nếu nó có
thể sản xuất và bán sản phẩm với giá thấp hơn đối
thủ cạnh tranh (Rojaka, 2009) Năng lực cạnh tranh
bao gồm các khả năng cho phép tổ chức để phân
biệt chính nó với các đối thủ cạnh tranh và năng
lực cạnh tranh có được thông qua việc ra quyết
định của nhà quản lý Hai trong số các năng lực
cạnh tranh có thể được sở hữu bởi một công ty là
chi phí thấp và sự khác biệt Mặt khác, Salloum
(2013) đã kết luận rằng các môi trường kinh doanh
khác nhau sẽ làm thay đổi các nhân tố dùng để đo
lường năng lực cạnh tranh của DN Karima et al
(2008) đã so sánh và chứng minh các đo lường cho
năng lực cạnh tranh ở các quốc gia khác nhau thì
không hoàn toàn giống nhau
Nếu như các nghiên cứu trên là để tìm hiểu về năng lực cạnh tranh trên nhiều khía cạnh khác nhau
từ các cách thức đo lường, cho đến các quan điểm
đo lường trên từng quốc gia khác nhau, Han et al
(2007) lại tập trung chuyên sâu vào nghiên cứu các mối quan hệ nhân quả của năng lực cạnh tranh và cho rằng hiệu quả kinh doanh sẽ tăng nếu công ty
có năng lực cạnh tranh mạnh hơn thông qua cải tiến các nhân tố có thể tác động đến năng lực này Tuy nhiên, những nghiên cứu chuyên sâu theo hướng này còn khá hạn chế đặc biệt là trong nhóm ngành chế biến và xuất khẩu thủy hải sản
2.1.2 Cải tiến công nghệ Guan et al (2006) đã xác nhận mối quan hệ nội
bộ chặt chẽ giữa việc cải tiến công nghệ và khả năng cạnh tranh Kết quả cho thấy DN có thể nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua việc đổi mới
công nghệ Kocoglu et al (2012) và Lai and Lin
(2012) đã nghiên cứu mối tương quan ba chiều giữa cải tiến công nghệ và học tập công nghệ, và ảnh hưởng của học tập công nghệ đối với sự đổi mới hiệu suất của công ty Các nhân tố này được chứng minh sẽ chi phối năng lực cạnh tranh của
DN Dựa trên thực tế ngành chế biến và xuất khẩu thủy hải sản của nghiên cứu này, việc áp dụng máy móc thiết bị, hệ thống nhà xưởng, dây chuyền chế biến, hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) là những cải tiến không thể thiếu trong quá trình cạnh tranh và gia tăng thế mạnh trên thị trường xuất
khẩu Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu H 1 : Có sự tác động tích cực của nhân tố cải tiến công nghệ lên năng lực cạnh tranh của DN thủy hải sản vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) sẽ được đưa vào mô hình nghiên cứu
2.1.3 Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực bao giờ cũng là vấn đề sống còn trong hoạt động kinh doanh của bất cứ một DN nào trong bất cứ lĩnh vực hoạt động nào Việc có được một tập thể lao động với chuyên môn và trình
độ nghề nghiệp cao sẽ luôn mang lại hiệu quả hoạt
động tích cực cho DN Theo Zhang et al (2003),
ngoài chất lượng nguồn nhân lực, trong môi trường kinh doanh thay đổi nhanh như hiện nay, tính linh hoạt của người lao động cũng là nhân tố tạo nên lợi thế cạnh tranh cho DN Nguồn nhân lực linh hoạt
có khả năng xử lý mọi tình huống bên trong và bên ngoài chẳng hạn như thay đổi trong khối lượng nhu cầu và thiết kế theo yêu cầu của khách hàng Điều
này cũng được chứng minh bởi Francas et al
(2011), tuy nhiên sự chuyển đổi lao động linh hoạt
sẽ tác động đến khả năng cạnh tranh tốt hơn
Kế thừa kết quả trên, nghiên cứu này được thực hiện kiểm định giả thuyết H2: Nguồn nhân lực có
Trang 3tác động cùng chiều với năng lực cạnh tranh của
DN thủy hải sản vùng ĐBSCL
2.1.4 Nguồn nguyên liệu
Nguyên liệu bao gồm tất cả các yếu tố đầu vào
trong quá trình sản xuất để tạo điều kiện cho sự di
chuyển của công việc thông qua hệ thống sản xuất
và tạo ra sản phẩm cuối cùng Nguồn nguyên liệu
thay đổi tùy theo từng lĩnh vực hoạt động của DN
và phụ thuộc vào số lượng sản phẩm sản xuất, yêu
cầu chất lượng của sản phẩm, mức độ tự động hóa
của công nghệ và yêu cầu về nguồn gốc nguyên
liệu của từng thị trường cụ thể Nghiên cứu của
Kaur et al (2016) công bố có mối quan hệ chặt chẽ
giữa nguyên vật liệu đầu vào với năng lực cạnh
tranh của DN Thực tế trong ngành thủy hải sản
cũng cho thấy, DN có nguồn nguyên liệu ổn định
và đảm bảo về chất lượng sẽ nâng cao hiệu quả
xuất khẩu cũng như tạo nên lợi thế cạnh tranh lâu
dài cho DN Tuy nhiên cũng phải nói rằng sự kiểm
soát nguồn nguyên liệu đầu vào trong ngành thủy
hải sản tương đối phức tạp và bị phụ thuộc nhiều
vào yêu cầu của khách hàng trên từng quốc gia cụ
thể Từ dẫn chứng trên, giả thuyết H 3 sẽ được thực
hiện để kiểm chứng sự tác động của nguồn nguyên
liệu đến năng lực cạnh tranh của DN thủy hải sản
của vùng ĐBSCL
2.1.5 Quản lý chất lượng toàn diện
Có rất nhiều nguyên tắc quản lý chất lượng toàn
diện (TQM), nhưng trên thực tế, các DN có thể
theo mô hình chuẩn đã được biết và chấp nhận như
một hướng dẫn cho quản lý chất lượng chung
(José, 2005) Trong một số nghiên cứu tiếp theo,
các thực hành TQM được phát triển và được đo
lường theo nhiều cách tiếp cận khác nhau Han et
al (2007), đã phát hiện ra rằng TQM thực tiễn có
mối quan hệ tích cực và tác động trực tiếp đến
năng lực cạnh tranh Các thực hành TQM có thể
dẫn đến lợi thế cạnh tranh thông qua các cải tiến để
kích thích sự cạnh tranh về chất lượng và chi phí
Han et al (2007) đã đánh giá sự đóng góp của
quản lý chất lượng trong hiệu quả kinh doanh và
kết luận rằng quản lý chất lượng có thể giúp các
công ty đạt được lợi thế cạnh tranh bằng cách cung
cấp hàng hóa có thể đáp ứng nhu cầu của người
tiêu dùng Năm 2009, Zhang et al tuyên bố rằng
việc thực hành TQM có tác động mạnh mẽ đến
năng lực cạnh tranh của công ty, dẫn đến số lượng
ngày càng tăng sự hài lòng của người tiêu dùng
Do vậy, giả thuyết đặt ra là H 4 : Việc triển khai
TQM tốt hơn sẽ tăng cường hơn nữa năng lực cạnh
tranh của DN thủy hải sản vùng ĐBSCL
2.1.6 Đạo đức và trách nhiệm xã hội
Việc áp dụng đạo đức thực tiễn kinh doanh
trong một công ty thể hiện quản trị hiệu quả, minh bạch, có trách nhiệm và quản lý Điều này xây dựng niềm tin và độ tin cậy cho các cổ đông và tất
cả các bên có liên quan Đạo đức kinh doanh tốt là một công cụ để có thêm các giá trị và tăng cường tăng trưởng bền vững cho một công ty (Badaracco, 1994) Nghiên cứu của Juholin (2004) cho rằng trách nhiệm xã hội của DN cũng góp phần vào việc tăng cường năng lực cạnh tranh lâu dài Tuy nhiên,
Vilanova et al (2009) vẫn cho rằng các nghiên cứu
trên không chứng minh rõ ràng làm thế nào thực hành đạo đức kinh doanh liên quan trực tiếp đến năng lực cạnh tranh Do đó các học giả đã cố gắng xác định mối quan hệ trực tiếp giữa trách nhiệm xã hội và khả năng cạnh tranh và có thể chỉ ra rằng hai khía cạnh tương quan thông qua chu kỳ học tập và đổi mới Đó là, khi các nguyên tắc đạo đức được đưa vào thực tế như là một phần của hoạt động kinh doanh, nó sẽ dẫn dắt một công ty hướng tới thực tiễn đổi mới và cuối cùng là năng lực cạnh tranh Trên cơ sở này, nghiên cứu hình thành giả
thuyết H 5 : Đạo đức và trách nhiệm xã hội sẽ ảnh hưởng làm tăng năng lực cạnh tranh của DN thủy hải sản vùng ĐBSCL
2.1.7 Đặc điểm và khả năng của doanh nghiệp Chen et al (2016) chứng minh rằng các đặc
điểm và khả năng của DN là nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng đến hiệu suất xuất khẩu cũng như sự cạnh tranh của các công ty Các đặc điểm này bao gồm quy mô của công ty, kinh nghiệm xuất khẩu, năng lực quốc tế, số năm thành lập và kiến thức thị trường xuất khẩu (Nazar and Saleem, 2009) Chen
et al (2016) đã bổ sung thêm việc lập kế hoạch
xuất khẩu và định hướng thị trường xuất khẩu cũng
là hai yếu tố quan trọng hình thành đặc điểm và khả năng của mỗi DN Đồng tình với quan điểm
trên, nghiên cứu này đề xuất giả thuyết H 6 : Năng lực cạnh tranh của DN thủy hải sản vùng ĐBSCL chịu sự tác động tích cực bởi đặc điểm và khả năng của DN
2.1.8 Khả năng xây dựng thương hiệu
O’Cass and Ngo (2011) đã đưa ra khái niệm khả năng xây dựng thương hiệu như một năng lực vững chắc của công ty Nó bao gồm một nhóm các hoạt động như truyền thông và các chương trình tiếp thị trong việc cung cấp một ý nghĩa thương
hiệu phù hợp đến với khách hàng Merrilees et al
(2011) trong nghiên cứu của mình đã mô tả khả năng xây dựng thương hiệu bao gồm bốn cách tiếp cận: xác định ý nghĩa thương hiệu; sử dụng thương hiệu như một công cụ hoạt động; truyền đạt ý nghĩa thương hiệu nhất quán; và nhận được sự hỗ trợ thương hiệu từ nhân viên
Trang 4Bảng 1: Các biến số trong mô hình nghiên cứu
Cải tiến công
nghệ của DN
[TDCTCN1] Áp dụng công nghệ máy móc tự động vào hoạt động chế biến
sản xuất
[TDCTCN2] Sử dụng hệ thống máy móc có tính thích ứng cao trong việc đổi
mới sản phẩm
[TDCTCN3] Sử dụng máy móc thiết bị được thiết kế để phù hợp với sự thay
đổi nhanh chóng
[TDCTCN4] Chuyển đổi công cụ lao động từ thủ công sang tự động hóa
[TDCTCN5] Phần lớn các hoạt động trong DN đã tự động hóa
Yam et al (2004); Kaur et
al (2016)
Nguồn nhân
lực
[NNL1] Thể hiện tính chuyên nghiệp trong công việc
[NNL2] Có khả năng thích ứng cao trước các thay đổi về sản phẩm, công nghệ
và môi trường làm việc
[NNL3] Có kỹ năng nghề nghiệp cao
Francas et al (2011); Kaur et
al (2016)
Nguồn
nguyên liệu
[NNLIEU1] Có mối quan hệ chặt chẽ với các nguồn cung cấp nguyên vật liệu
[NNLIEU2] Đảm bảo luôn có nguồn nguyên vật liệu dồi dào
[NNLIEU3] Luôn có nguồn nguyên liệu đảm bảo chất lượng
[NNLIEU4] Áp dụng công nghệ tự động hóa vào chuỗi cung ứng nguyên liệu
Kaur et al (2016)
Quản lý chất
lượng toàn
diện (TQM)
[QLCLTD1] Dẫn đầu trong quản lý chất lượng sản phẩm
[QLCLTD2] Kiểm soát hệ thống quản lý chất lượng cung ứng
[QLCLTD3] Tập trung quản lý chất lượng theo yêu cầu của khách hàng
[QLCLTD4] Chú trọng cải tiến chất lượng liên tục
[QLCLTD5] Thiết lập hệ thống quản lý chất lượng thông tin nội bộ
Han et al (2007)
; Ramlawati and Kusuma (2018)
Đạo đức và
trách nhiệm
xã hội
[DD&TNXH1] Chú trọng yếu tố môi trường trong quá trình sản xuất kinh
doanh
[DD&TNXH2] Quan tâm đến vấn đề an toàn và sức khỏe cho người lao động
[DD&TNXH3] Thể hiện trách nhiệm giải trình và minh bạch về hoạt động
[DD&TNXH4] Chú trọng kiểm soát đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm đảm
bảo sức khỏe cho người tiêu dùng
[DD&TNXH5] Kiểm soát đảm bảo an toàn nguồn nguyên liệu sản xuất
Siriphattrasophon and Piriyatanarak (2013)
Đặc điểm và
khả năng của
DN
[DD&KNDN1] Quy mô hoạt động lớn
[DD&KNDN2] Nhiều kinh nghiệm trong hoạt động xuất khẩu
[DD&KNDN3] Nhiều kinh nghiệm cạnh tranh trên thị trường quốc tế
[DD&KNDN4] Luôn xây dựng kế hoạch xuất khẩu tốt
Nazar and Saleem
(2009); Thanh et
al (2018)
Khả năng xây
dựng thương
hiệu
[KNXDTH1] Sử dụng thương hiệu như một công cụ cạnh tranh
[KNXDTH2] Có khả năng xây dựng thương hiệu có giá trị
[KNXDTH3] Đang áp dụng cách thức xây dựng thương hiệu độc đáo
[KNXDTH4] Đang sở hữu một thương hiệu đáng tin cậy trên thị trường
Zhang et al
(2009); Merrilees
et al (2011); Odoom et al
(2017)
Năng lực
cạnh tranh
[NLCT1] Cung cấp sản phẩm phù hợp với yêu cầu của khách hàng
[NLCT2] Có thể cung cấp sản phẩm với chi phí thấp
[NLCT3] Có thể cung cấp sản phẩm với thiết kế mới nhất so với đối thủ
[NLCT4] Có thể cung cấp các đơn hàng với số lượng lớn
[NLCT5] Luôn giao hàng đúng thời gian
[NLCT6] Linh hoạt trong việc sắp xếp các đơn hàng theo đúng yêu cầu của
khách hàng
[NLCT7] Có khả năng khai thác toàn bộ thị trường
[NLCT8] Có thể kiểm soát tất cả các mối đe dọa từ đối thủ cạnh tranh
[NLCT9] Có khả năng mở rộng thị trường tiềm năng tốt hơn so với đối thủ
Sigalas et al
(2013);
Siriphattrasophon and Piriyatanarak
(2013); Kaur et
al (2016);
Famiyeh (2017); Ramlawati and Kusuma (2018)
(Nguồn: Tổng hợp)
Khả năng xây dựng thương hiệu khó bắt chước
và chuyển giao, do đó mang lại lợi thế cạnh tranh
bền vững (Morgan et al., 2009) Xây dựng thương
hiệu để bảo vệ sự đổi mới từ việc bắt chước của đối
thủ cạnh tranh cũng như cho phép các công ty dễ
dàng kiểm soát rủi ro và phản ứng nhanh hơn và
(Lei et al., 2013) Từ nhiều bằng chứng nêu trên,
nghiên cứu này sẽ kiểm chứng mối quan hệ giữa khả năng xây dựng thương hiệu với năng lực cạnh tranh của các DN thủy hải sản vùng ĐBSCL với
giả thuyết H 7 : Khả năng xây dựng thương hiệu tác động tích cực đến năng lực cạnh tranh của DN
Trang 5Dựa trên các giả thuyết được xây dựng, mô
hình nghiên cứu được hình thành như Hình 1 Các biến trong mô hình nghiên cứu được xây dựng như trình bày trong Bảng 1
Hình 1: Mô hình nghiên cứu
(Nguồn: Nghiên cứu đề xuất)
2.2 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
Theo Hair et al (1998) để cỡ mẫu đảm bảo phù
hợp với phương pháp phân tích EFA thì số quan sát
ít nhất phải bằng 4-5 lần số biến,trong nghiên cứu
này có 30 biến quan sát thuộc nhóm biến độc lập
và 9 biến quan sát thuộc nhóm biến phụ thuộc tức
cần từ 120 đến 150 quan sát Vì vậy, nghiên cứu
tiến hành điều tra 160 quan sát nhưng vì một số
DN trả lời phiếu phỏng vấn không đầy đủ thông tin
nên cuối cùng chỉ còn 155 quan sát phù hợp Đối
tượng khảo sát là các DN có hoạt động xuất khẩu
thủy hải sản tại các tỉnh thành thuộc vùng ĐBSCL
Vì tính chất khó tiếp cận của DN cũng như yêu cầu
đối tượng trả lời phỏng vấn phải thuộc cấp lãnh
đạo của DN nên nghiên cứu đã sử dụng phương
pháp thuận tiện để khảo sát
Dựa trên lược khảo tài liệu, bộ tiêu chí đo
lường các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh
tranh đã được xây dựng và điều chỉnh phù hợp
phạm vi và đặc trưng ngành nghề Thang đo Likert
5 mức độ được sử dụng để đánh giá với 1 là “hoàn
toàn không đồng ý” cho đến 5 là “hoàn toàn đồng
ý” Nghiên cứu sử dụng Cronbach’s Alpha để kiểm
định thang đo trước khi áp dụng hai phương pháp
định lượng là phân tích nhân tố khám phá và ước
lượng mô hình hồi qui tuyến tính Thực hiện phân
tích nhân tố khám phá để rút gọn các biến tạo ra
các biến độc lập và biến phụ thuộc cho phân tích
hồi qui Mục tiêu của phân tích là xây dựng một
hàm tuyến tính để cho thấy sự tác động cũng như mức độ tác động của các nhân tố được nghiên cứu đến năng lực cạnh tranh của DN
Mô hình hồi qui có dạng:
Yi = B0+ B1 X1i + B2X2i +…+ BkXki+ ei
Trong đó:
Y: Năng lực cạnh tranh
X 1 : Trình độ cải tiến công nghệ của DN; X 2 : Nguồn nhân lực; X 3 : Nguồn nguyên liệu; X 4 : Quản
lý chất lượng toàn diện (TQM); X 5: Đạo đức và
trách nhiệm xã hội; X 6: Đặc điểm và khả năng của
DN; X 7: Khả năng xây dựng thương hiệu
3 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH VÀ THẢO LUẬN
Trước khi tiến hành phân tích nhân tố khám phá, nghiên cứu sử dụng phương pháp kiểm định thống kê bằng hệ số Cronbach’s Alpha để kiểm tra mức độ chặt chẽ của các mục hỏi trong bộ tiêu chí
đo lường năng lực cạnh tranh Kết quả phân tích ở Bảng 2 cho thấy các biến đo lường tốt cho từng thang đo thành phần, không có biến nào bị loại khỏi thang đo Tiến hành phân tích nhân tố, kết quả có bảy nhân tố được rút ra cho nhóm các biến độc lập, giải thích được 75,47% biến thiên của dữ
liệu điều tra (Hair et al., 2010) Tương tự như vậy
cho biến phụ thuộc, kết quả cho thấy các đo lường trong biến phụ thuộc sau khi gom nhóm sẽ giải
thích được 63,28% biến thiên (Bảng 3)
H3
Năng lực cạnh tranh
Nguồn nhân lực
Nguồn nguyên liệu
Quản lý chất lượng toàn diện
Đạo đức & TNXH DN
Đặc điểm & khả năng DN
Cải tiến công nghệ
Khả năng XD thương hiệu
H4
H5
Trang 6Bảng 2: Kết quả độ tin cậy của thang đo
Alpha
Trình độ cải tiến công nghệ của DN TDCTCN1, TDCTCN2, TDCTCN3, TDCTCN4,
Quản lý chất lượng toàn diện-TQM QLCLTD1, QLCLTD2, QLCLTD3, QLCLTD4,
Đạo đức và trách nhiệm xã hội DD&TNXH1, DD&TNXH2, DD&TNXH3,
Đặc điểm và khả năng của DN DD&KNDN1, DD&KNDN2, DD&KNDN3,
Khả năng xây dựng thương hiệu KNXDTH1, KNXDTH2, KNXDTH3, KNXDTH4 0,799 Năng lực cạnh tranh NLCT1, NLCT2, NLCT3, NLCT4, NLCT5, NLCT6,
(Nguồn: số liệu khảo sát 155 DN thủy hải sản vùng ĐBSCL, 2019)
Bảng 3: Kết quả phân tích ma trận nhân tố sau khi xoay
(Nguồn: số liệu khảo sát 155 DN thủy hải sản vùng ĐBSCL, 2019)
Kết quả phân tích ở Bảng 3 cho thấy các kiểm
định được đảm bảo như sau: (1) kiểm định tính
thích hợp của mô hình (0,5 < KMO = 0,941 và
0,961 < 1,0) tương ứng biến phụ thuộc và biến độc lập; (2) kiểm định Bartlett’s về sự tương quan của các biến quan sát (Sig = 0,000 < 0,05) cho cả hai
KMO: 0,961; P value: 0,000;
Phương sai trích: 75,47%
Trang 7nhóm biến chứng tỏ các biến có liên quan chặt chẽ
với nhau; hệ số tải nhân tố của các biến đều lớn
hơn 0,5 (Hair et al., 2010) Điều này cho thấy, kết
quả phân tích EFA là phù hợp
Các nhóm nhân tố được rút trích và gom nhóm
lại với một số khác biệt nhỏ không đáng kể so với
các nhóm biến xây dựng ban đầu Kết quả này cho
thấy mô hình nghiên cứu đề xuất lúc này đã có sự
điều chỉnh nhưng về số biến và tên gọi các biến
độc lập vẫn không thay đổi so với mô hình nghiên
cứu đề xuất Giá trị F của mô hình 65,895 và giá trị
Sig F = 0,000; chứng tỏ giả thuyết H0 đã bị bác bỏ
và tồn tại mối quan hệ tuyến tính giữa biến phụ
thuộc Y với ít nhất một biến trong các biến độc lập
đưa vào mô hình Hệ số R2 = 0,758 tức mô hình
giải thích được 75,8% sự biến thiên của Y (năng
lực cạnh tranh) bởi mối quan hệ tuyến tính của các
nhân tố tác động (Bảng 4) Nghiên cứu cũng tiến
hành một số kiểm định như phân phối chuẩn và giả
định về hiện tượng đa cộng tuyến và sự tương
quan, tất cả đều đạt yêu cầu Cụ thể, dựa vào hệ số
phóng đại phương sai VIF của các biến có thể thấy
không có hiện tượng đa cộng tuyến xảy ra vì VIF
của các biến đầu bé hơn 10 (Mai Văn Nam, 2006)
Kết quả hệ số Durbin Watson của mô hình d=
1,940 tiến tới giá trị 2 Do đó, hiện tượng tự tương
quan chuỗi bậc nhất không ảnh hưởng đến ý nghĩa
của mô hình hồi qui (Hair et al., 2010)
Kết quả phân tích ở Bảng 4 cho thấy mô hình
hồi qui có bốn biến có ý nghĩa thống kê tác động
đến năng lực cạnh tranh của các DN, bao gồm:
nguồn nhân lực, nguồn nguyên liệu, đạo đức và TNXH và đặc điểm và KNDN Giá trị Beta chuẩn
hóa của bốn biến này cho thấy các biến độc lập đều có mối quan hệ thuận chiều đến năng lực cạnh
tranh Trong đó, nhân tố nguồn nhiên liệu là tác
động mạnh nhất (0,229) Điều này phù hợp với thực tế sản xuất và kinh doanh của phần lớn các
DN thủy hải sản vùng ĐBSCL Các DN này chủ yếu chế biến và xuất khẩu là tôm, cá và mực đông lạnh sang các thị trường như Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản,… với các yêu cầu từ thị trường ngày càng khắt khe mà đặc biệt là về nguồn nguyên liệu đầu vào Ở một số thị trường sẽ kiểm soát về dư lượng kháng sinh của sản phẩm, cũng có các thị trường yêu cầu chứng nhận nguồn gốc nguồn nguyên liệu… Cho nên, DN có thế mạnh trong việc kiểm soát tốt về nguồn nguyên liệu sẽ chi phối mạnh trên thị trường thông qua khả năng cạnh tranh với đối thủ Hơn nữa tính ổn định của nguồn nguyên liệu cũng ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh vì
nó giúp DN đảm bảo được số lượng đơn hàng theo hợp đồng hay đáp ứng đủ và tốt cho các kế hoạch
đề ra Kết luận này cũng phù hợp với nghiên cứu
của Kaur et al (2016), mặc dù Kaur et al kỳ vọng
việc cung ứng nguyên vật liệu thông qua chuỗi cung ứng tự động có thể tác động đến năng lực cạnh tranh, tuy nhiên trên điều kiện thực tế tại
vùng, rất ít DN áp dụng được chuỗi cung ứng này
Bảng 4: Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến năng lực cạnh tranh của các DN
chuẩn hóa
Sai số chuẩn
Beta chuẩn hóa
Mức ý nghĩa Hệ số phóng
đại phương sai (VIF)
t Sig
Quản lý chất lượng toàn diện 0,063ns 0,084 0,063 0,747 0,456 4,339
Khả năng xây dựng thương hiệu 0,050ns 0,072 0,046 0,698 0,487 2,619
Biến phụ thuộc: Năng lực cạnh tranh (NLCT)
R:0,871; R Square: 0,758
Durbin-Watson: 1,940
F:65,895, P value: 0,000
(Nguồn: số liệu khảo sát 155 DN thủy hải sản vùng ĐBSCL, 2019)
*: ý nghĩa thống kê 10%, **: ý nghĩa thống kê 5%, ***: ý nghĩa thống kê 1%, ns: không có ý nghĩa thống kê
Nhân tố đặc điểm và khả năng của DN có giá
trị hệ số Beta đứng thứ hai về mức độ tác động
(0,214) và cũng tác động cùng chiều đến năng lực
cạnh tranh Kết quả chứng minh được rằng DN với
quy mô hoạt động càng lớn, kinh nghiệm càng
nhiều và hoạch định càng tốt kế hoạch xuất khẩu hiển nhiên sẽ tăng vị thế cạnh tranh so với đối thủ Môi trường cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu thủy hải sản thay đổi nhanh và liên tục theo tình hình thế giới nên kinh nghiệm không đi liền với số
Trang 8năm thành lập của DN mà phải đồng hành với kinh
nghiệm cạnh tranh và việc am hiểu sâu sắc về hoạt
động xuất khẩu Thanh et al (2018) đã chứng minh
thuyết phục về sự tác động của nhân tố này đến khả
năng cạnh tranh và hoạt động xuất khẩu của DN
trong chính ngành hải sản tại Việt Nam, khác biệt
của nghiên cứu này với nghiên cứu của Thanh et
al là nghiên cứu trên phạm vi vùng ĐBSCL, tuy
nhiên điều tương tự đã được chứng minh là đúng
Vị trí tác động thứ ba đến năng lực cạnh tranh là
nguồn nhân lực (0,207) Kết quả này cùng lúc đã
củng cố kết luận của Francas et al (2011) và Kaur
et al (2016) rằng khi nguồn nhân lực càng chuyên
nghiệp, kỹ năng nghề nghiệp cao và có khả năng
thích ứng cao thì sẽ tạo ra năng lực cạnh tranh càng
mạnh cho DN
Nhân tố về đạo đức và trách nhiệm xã hội tuy
có ý nghĩa thống kê nhưng chỉ ở mức 10% và hệ số
tác động cũng là thấp nhất đến năng lực cạnh tranh
Mặc dù các DN cũng đã quan tâm đến vấn đề đạo
đức và trách nhiệm xã hội nhưng bản thân họ
không đặt quá nhiều niềm tin vào hoạt động này có
thể thúc đẩy làm tăng năng lực cạnh tranh trên thị
trường một cách mạnh mẽ Ngược lại,
Siriphattrasophon and Piriyatanarak (2013) chứng
minh rằng việc thực hiện đạo đức và trách nhiệm
xã hội tác động trên 60% đến sự tăng lên của năng
lực cạnh tranh tại một DN
Các nhân tố như trình độ cải tiến công nghệ,
khả năng xây dựng thương hiệu và quản lý chất
lượng toàn diện chưa được chứng minh có tác
động đến năng lực cạnh tranh của DN Nguyên
nhân có thể đến từ thực tế của DN, trong quá trình
hoạt động DN chưa đầu tư đủ lớn cho việc cải tiến
công nghệ chế biến, quản lý chất lượng toàn diện
hay xây dựng một thương hiệu giá trị trên thị
trường Mặc dù cũng có DN đã cạnh tranh tốt hơn
khi thực hiện xây dựng thương hiệu hay quản lý
chất lượng toàn diện nhưng số lượng này còn quá
nhỏ để có thể có được kết luận trên tổng thể
4 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ
4.1 Kết luận
Kết quả nghiên cứu trên cho thấy ba nhân tố
quan trọng tác động đến năng lực cạnh tranh của
DN thủy hải sản vùng ĐBSCL là nguồn nguyên
liệu, nguồn nhân lực, và đặc điểm và khả năng của
DN Việc thực hiện đạo đức và trách nhiệm xã hội
cũng sẽ giúp DN có thể cạnh tranh thông qua niềm
tin và sự yêu mến từ khách hàng hay từ quốc gia
nhập khẩu, DN thực hiện trách nhiệm xã hội càng
nhiều càng dễ dàng có được sự tôn trọng và thiện
cảm từ khách hàng
4.2 Hàm ý quản trị
Dựa trên kết quả phân tích hồi qui, bốn hàm ý quản trị được đề xuất góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của DN
Một là, tăng cường kiểm soát để đảm bảo chất lượng nguồn nguyên liệu đầu vào bao gồm kích cỡ đồng đều, không chứa thành phần dư lượng của các loại thuốc cấm Muốn làm được điều này DN phải bắt đầu từ người nuôi trồng thủy hải sản, ký kết các cam kết đảm bảo nguồn nuôi trồng an toàn và đúng yêu cầu chất lượng Tiếp theo nguồn cung nguyên liệu nên được ổn định bằng cách đa dạng hóa đối tác thu mua Có thể thu mua từ thương lái, hộ nuôi trồng, hay tổ chức tự nuôi trồng để hình thành chuỗi cung ứng khép kín cho DN
Hai là, tăng cường hiệu quả hoạt động của nguồn nhân lực Bản thân nguồn nhân lực trong ngành thủy hải sản ở ĐBSCL đã có kỹ năng và chuyên môn nghề nghiệp Vì vậy để nâng cao hiệu quả hoạt động của nguồn nhân lực DN nên tập trung vào việc đào tạo họ sử dụng thành thạo các cải tiến máy móc và dây chuyền công nghệ
Ba là, tăng cường đầu tư để mở rộng qui mô hoạt động của DN thông qua mở rộng nhà xưởng chế biến, tăng số lao động, đầu tư cải tiến công nghệ máy móc theo hướng hiện đại hóa chế biến thủy hải sản Tích lũy thêm kinh nghiệm xuất khẩu thông qua hình thức xuất khẩu trực tiếp thay vì việc lựa chọn xuất khẩu gián tiếp hay ủy thác như hiện nay Việc xuất khẩu trực tiếp sẽ tạo cơ hội cho DN từng bước hình thành và xây dựng thương hiệu Cuối cùng, DN cũng nên chú trọng tạo ra hình ảnh tốt thông qua việc nâng cao thực hiện hoạt động đạo đức và đề cao trách nhiệm xã hội bao gồm quan tâm nhiều hơn nữa vấn đề môi trường đặc biệt trong khâu nuôi trồng Quan tâm đúng mực về vấn đề lao động, thực hiện các quy tắc đạo đức với nguồn nhân lực để tạo nên một tác động liên kết, khi nguồn nhân lực được vững chắc thì năng lực cạnh tranh lại một lần nữa được tăng cao
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Ambrosini, V., Bowman, C., 2009 What are dynamic capabilities and are they a useful construct in strategic management? Int J Manage Rev., 11(1): 29-49
Badaracco, J L., 1994 Business ethics: Roles and responsibilities Homewood, IL: Irwin, 588 pages Chen, J., Sousa, C.M.P and He, X., 2016 The determinants of export performance: A review of the literature 2006-2014 International Marketing
Review, 33(5): 626-670
Trang 9Famiyeh, S., 2017 Corporate social responsibility
and firm’s performance: empirical evidence
Social Responsibility Journal, 13(2): 390-406
Francas, D., Lohndorf, N., and Minner, S., 2011
Machine and Labour flexibility in manufacturing
networks Int J Production Economics, 131(1):
165-174
Guan, J.C., Yam, R.C.M., Mok, C.K and Ma, N.,
2006 A study of the relationship between
competitiveness and technological innovation
capability based on DEA models European
Journal of Operational Research, 170(3): 971-986
Hair J.F, Anderson, R.E., Tatham, R.L., and Black,
W.C., 1998 Multivariate data analysis with readings
5th ed PrenticeHall New Jersey, 768 pages
Hair, J.F., Black, W.C., Babin, B.J., Anderson, R.E.,
2010 Multivariate Data Analysis: A Global
Perspective, Seventh Edition Pearson Prentice
Hall New Jersey, 816 pages
Han, S.B., Chen, S.K., Ebrahimpour, M., 2007 The
impact of iso 9000 on tqm and business
performance The Journal of Business and
Economic Studies, 13(2): 1-11
José T.J., 2005 Components of successful total
quality management The TQM Magazine, 17(2):
182-194
Juholin, E., 2004 For business or the good of all? A
Finnish approach to corporate social
responsibility Corporate Governance, 4(3): 20-31
Karima, M A., Smith, A J R., Halgamuge, S K.,
and Islam, M M., 2008 A comparative study of
manufacturing practices and performance
variables Int J Production Economics, 112(2):
841-859
Kaur, S.P., Kumar, J and Kumar, R., 2016 Impact
of Flexibility of Manufacturing System
Components on Competitiveness of SMEs in
Northern India Journal of Engineering, Project
and Production Management, 6(1): 63-76
Kocoglu, I., Imamoglu, S.Z., Ince, H and Keskin,
H., 2012 Learning, R&D and manufacturing
capabilities as determinants of technological
learning: enhancing innovation and firm
performance Procedia – Social and Behavioral
Sciences, 58: 842-852
Lai, Y L., and Lin, F J., 2012 The effects of
knowledge management and technology
innovation on new product development
performance an empirical study of Taiwanese
machine tools industry Procedia-Social and
Behavioral Sciences, 40: 157-164.
Lei, X., Ye, T and Abimbola, T., 2013 The role of
branding capability for innovative companies:
Stock market reactions to new product
announcement Nankai Business Review
International, 4(4): 329-348
Mai Văn Nam, 2006 Giáo trình kinh tế lượng Hà
Nội: Nhà xuất bản thống kê, 166 trang
Merrilees, B., Rundle-Thiele, S and Lye, A., 2011 Marketing capabilities: antecedents and implications for B2B SME performance Industrial Marketing Management, 40(3): 368-375
Morgan, R.E., Vorhies, D.W and Mason, C.H.,
2009 Market orientation, marketing capabilities, and firm performance Strategic Management Journal, 30(8): 909-920
Nazar, M.S and Saleem, H.M.N., 2009 Firm level determinants of export performance
International Business & Economics Research
Journal, 8(2): 105-112
O’Cass, A and Ngo, L.V., 2011 Achieving customer satisfaction in services firms via branding capability and customer empowerment Journal of Services Marketing, 25(7): 489-496 Odoom, R., Agbemabiese, G.C., Anning-Dorson, T and Mensah, P., 2017 Branding capabilities and SME performance in an emerging market: The moderating effect of brand
regulations Marketing Intelligence &
Planning, 35(4): 473-487
Phan Văn Hòa, 2009 Nuôi trồng thủy sản Thừa Thiên Huế trong bối cảnh tự do hóa thương mại Luận án Tiến sĩ kinh tế Đại học Huế Thành phố Huế Porter, M.E., 2008 On Competition Updated and Expanded Edition Boston: Harvard Business School Press, 544 pages
Ramlawati, R and Kusuma, A.H.P., 2018 Total Quality Management as the Key of the Company
to Gain the Competitiveness, Performance Achievement and Consumer
Satisfaction International Review of Management and Marketing, 8(5): 60-69
Rojoka, J., 2009 Baltic States Competitiveness: Before and After the Global Crisis Applied
Economics: Systamatic Research, 3(1): 27-46
Salloum, M., 2013 Explaining the Evolution of Performance Measures - A Dual Case-Study Approach Journal of Engineering, Project, and Production Management, 3(2): 99-106
Sigalas, C., Pekka Economou, V and B
Georgopoulos, N., 2013 Developing a measure
of competitive advantage Journal of Strategy and Management, 6(4): 320-342
Siriphattrasophon, S and Piriyatanarak, S., 2013 A causal model of ethical business practices and firm competitiveness of small and medium enterprises in Thailand International Journal of Arts & Sciences, 6(2): 389-402
Thanh, V.N., Minh, H.P., Thanh, L.N., Minh, D.P and Kim, N.V., 2018 The Empirical Study on Seafood Export Performance in the Mekong Delta, Vietnam Academy of Marketing Studies Journal, 22(2): 131-145
Vilanova, M., Lozano, J.M., and Arenasss, D., 2009 Exploring the nature of the relationship between CSR and competitiveness Journal of Business Ethics, 87(1): 57–69
Trang 10Xuân Thảo, 2017 Thách thức lớn đối với mục tiêu
xuất khẩu tôm đạt 10 tỷ USD
http://doanhnhan.net/thach-thuc-lon-doi-voimuc-tieu-xuat-khau-tom-dat-10-ty-usd-113770.html ,
truy cập ngày 19/05/2017
Yam, R., Guan, J.C., Pun, K.F and Tang, E.P., 2004
An audit of technological innovation capabilities in
Chinese firms: some empirical findings in Beijing,
China Research Policy, 33(8): 1123-1140
Zhang, Q., Vonderembse, M.A and Cao, M., 2009 Product concept and prototype flexibility in manufacturing: Implications for customer satisfaction European Journal Of Operational Research, 194(1): 143-154
Zhang, X., Shen, L., Wu, Y and Fan, L.C., 2009 Competitiveness assessment for real estate enterprises in china: A model‐
procedure International Journal of Strategic Property Management, 13(3): 229-245