Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, bên cạnh thiên chức làm dâu, làm vợ, làm mẹ, phụ nữ các dân tộc thiểu số ngày càng thể hiện vai trò then chốt trong quán xuyến tổ [r]
Trang 1Tập 172, số 12/2, 2017
Trang 2T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ
CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN – KINH TẾ
Hà Xuân Hương - Thân phận người phụ nữ trong dân ca trữ tình sinh hoạt Tày, Thái 3
Ngô Thị Thu Trang - Một số biện pháp nâng cao năng lực sử dụng từ Hán Việt cho học sinh phổ thông 9
Nguyễn Thị Hà, Vũ Thị Hồng Hoa - Nâng cao tỷ lệ nữ trong các cơ quan dân cử 15
Nguyễn Thu Hà, Nguyễn Thị Mai Hương, An Thị Thư, Nguyễn Thị Hồng - Phát triển chuẩn mực kế toán
Việt Nam theo hướng chuẩn mực kế toán quốc tế 21
Nguyễn Thị Hòa - Sử dụng tuyển tập “Những lá thư thời chiến Việt Nam” trong giáo dục lịch sử 27
Nguyễn Thị Xuân Thu, Phạm Ngọc Duy - Những tác động của việc sử dụng sơ đồ ngữ nghĩa đối với khả
năng ghi nhớ từ vựng tiếng Anh chuyên ngành của sinh viên trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp – Đại học
Vũ Kiều Hạnh, Hoàng Thị Cương - Nghiên cứu kỹ năng đọc của sinh viên năm thứ 2 tại trường Đại học Nông
Lâm – Đại học Thái Nguyên, cơ sở để thiết kế các hoạt động rèn luyện tăng cường 39
Nguyễn Thị Thu Hường - Bảo vệ quyền nhân thân cho lao động chưa thành niên theo pháp luật Việt Nam 45
Nguyễn Thị Thắm - Hành trình tìm kiếm hạnh phúc của nhân vật nữ trong Những nẻo đường đời và những bản
tình ca khác của Le Clézio 51
Lê Thị Lựu, Trần Bảo Ngọc, Bùi Thanh Thủy và cộng sự - Nhận thức của sinh viên cử nhân điều dưỡng về
môi trường giáo dục tại trường Đại học Y Dược - Đại học Thái Nguyên bằng bảng hỏi DREEM 57
Bùi Thị Minh Hà, Nguyễn Hữu Thọ - Nhận thức của nông hộ về biến đổi khí hậu và tác động của biến đổi khí
hậu tới sản xuất chè - Trường hợp nghiên cứu: Vùng chè Tân Cương thành phố Thái Nguyên 63
Dương Thanh Tình, Trần Văn Quyết, Nguyễn Ngọc Lý, Nguyễn Việt Dũng - Giải quyết việc làm cho lao
động dân tộc thiểu số thông qua phát triển chuỗi liên kết tiêu thụ các sản phẩm từ cây quế tại huyện Văn Yên,
Nguyễn Thu Nga, Đỗ Thị Tuyết Mai, Nguyễn Thị Diệu Hồng - Sử dụng hàm Cobb - Douglas tuyến tính để
đánh giá hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng Việt Nam 75
Phùng Thanh Hoa, Bùi Thị Thanh Thuỷ - Tác động của kinh tế thị trường đến nông thôn Việt Nam hiện nay 81
Hoàng Thị Mỹ Hạnh, Sombath Kingbounkai - Quá trình di cư của người Việt đến Lào và định cư tại tỉnh
Vi Thị Phương - Sử dụng báo chí vào công cuộc xây dựng nền văn hóa mới ở Việt Nam, nhìn từ góc độ tạp chí
Nguyễn Thị Minh Loan - Đề xuất mô hình tập huấn dạy đặt câu hỏi trong kỹ năng đọc hiểu 99
Nguyễn Thị Bích Ngọc - Đánh giá nội dung và việc giảng dạy học phần bút ngữ tiếng Anh trung cao cấp 2 tại
Khoa Ngoại ngữ, Đại học Thái Nguyên xét từ góc độ sinh viên 105
Nguyễn Mai Linh, Trần Minh Thành, Dương Thị Hồng An - Kết hợp sử dụng hồ sơ học tập (Portfolio) và
thuyết trình nhóm trong dạy và học các khóa học tiếng Anh chuyên ngành tiếp cận hậu phương pháp luận 111
Trần Thị Kim Hoa - Phát triển năng lực sử dụng từ tiếng Việt cho học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số qua
Trần Tú Hoài - Một số nội dung cơ bản của chính sách phát triển giảng viên qua thực tiễn tại trường Đại học
Phạm Thị Huyền, Vũ Thị Thủy - Rèn luyện phong cách làm việc quần chúng của người cán bộ theo phong
cách Hồ Chí Minh 127
Journal of Science and Technology
N¨m 2017
Trang 3Tống Thị Phương Thảo - Bảo vệ quyền của lao động nữ khi mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ theo pháp luật
Lương Thị Hạnh - Vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bắc Kạn 137 Nguyễn Thị Thanh Hà, Nguyễn Thị Thu Hiền - Một số vấn đề về việc xây dựng lối sống mới cho sinh viên
Việt Nam hiện nay 143
Hồ Lương Xinh, Nguyễn Thị Yến, Nguyễn Thị Giang, Lưu Thị Thùy Linh, Bùi Thị Thanh Tâm, Nguyễn
Mạnh Thắng - Xác suất cải thiện thu nhập của hộ nông dân sau thu hồi đất nông nghiệp tại các khu công nghiệp
Đinh Ngọc Lan, Đoàn Thị Thanh Hiền, Dương Tuấn Việt - Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất và
tiêu thụ miến dong tại huyện Nguyên Bình- tỉnh Cao Bằng 155
Đỗ Thị Hà Phương, Chu Thị Hà, Nguyễn Thị Giang, Dương Xuân Lâm - Tác động của vốn xã hội và công nghệ
thông tin đến dự định chia sẻ tri thức và hành vi chia sẻ tri thức của cán bộ giảng viên tại Đại học Thái Nguyên 161
Nguyễn Thị Hiền Thương, Dương Thị Thu Hoài, Cù Ngọc Bắc, Kiều Thu Hương, Vũ Thị Hải Anh - Sự
tham gia của người dân trong việc thực hiện các tiêu chí cơ sở hạ tầng - chương trình xây dựng nông thôn mới
tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 169
Vũ Bạch Điệp, Mai Việt Anh - Huy động vốn cho phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố
Thái Nguyên, thực trạng và một số giải pháp 175
Nguyễn Thị Ngọc Anh, Hoàng Huyền Trang - Thiết kế và sử dụng các trò chơi học tập nhằm nâng cao hiệu
quả dạy học môn khẩu ngữ cao cấp cho sinh viên Trung Quốc tại Khoa Ngoại ngữ, Đại học Thái Nguyên 181
Trần Thị Yến, Khổng Thị Thanh Huyền - Những lỗi về câu thường gặp trong bài viết tiếng Anh học thuật của
sinh viên Việt Nam chuyên ngành tiếng Anh: Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp 187
Hà Thị Thanh Hoa, Chu Thị Kim Ngân, Dương Thị Thúy Hương - Mức độ hài lòng của khách hàng về chất
lượng dịch vụ mạng di động Vinaphone tỉnh Thái Nguyên 193
Vũ Thị Loan, Vũ Thị Hậu - Vai trò của giá cổ phiếu đối với dự báo khó khăn tài chính doanh nghiệp: Mô hình
Hồ Thị Mai Phương, Hoàng Thị Tú, Trần Nguyệt Anh - Thiết kế và tổ chức trò chơi học tập trong hình thành
biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mẫu giáo 205
Đồng Thị Hồng Ngọc, Nguyễn Quỳnh Hoa, Nguyễn Thị Thu Hường, Hoàng Thanh Hải, Nguyễn Thị Thu
Hằng - Ứng dụng mô hình logistic xếp hạng tín dụng doanh nghiệp xây dựng niêm yết tại Việt Nam 211
Hà Thị Hòa, Hồ Ngọc Sơn - Phân tích chuỗi giá trị qua các kênh tiêu thụ sản phẩm Sơn tra tại Yên Bái 219
Trang 4Lương Thị Hạnh Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 172(12/2): 137-142
X
137
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ
TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở TỈNH BẮC KẠN
Lương Thị Hạnh*
Trường Đại học Khoa học – ĐH Thái Nguyên
TÓM TẮT
Do cư trú ở miền núi, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, lại chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng “trọng nam khinh nữ” đã khiến phụ nữ dân tộc thiểu số ở tỉnh Bắc Kạn luôn sống trong tâm trạng cam chịu, ngại thay đổi và khó bắt nhịp với cái mới Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, bên cạnh thiên chức làm dâu, làm vợ, làm mẹ, phụ nữ các dân tộc thiểu số ngày càng thể hiện vai trò then chốt trong quán xuyến tổ chức cuộc sống gia đình, đến việc tham gia các khâu trong trồng trọt, chăn nuôi, tạo thu nhập, nâng cao mức sống cho gia đình (với hơn 70% lao động nữ trực tiếp sản xuất nông nghiệp) Điều đó cho thấy phụ nữ các dân tộc thiểu số tỉnh Bắc Kạn chính là chủ thể quan trọng, là nhân tố tích cực góp phần hoàn thành chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới
Từ khóa: Phụ nữ, dân tộc thiểu số, vai trò, nông thôn mới, Bắc Kạn,…
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA PHỤ NỮ DÂN
TỘC THIỂU SỐ TỈNH BẮC KẠN *
Phụ nữ dân tộc thiểu số là thuật ngữ dùng để
chỉ cộng động phụ nữ thuộc các thành phần
dân tộc có số lượng dân cư ít hơn người Kinh
(tộc người đa số) sinh sống ở các khu vực của
nước ta Là một bộ phận của phụ nữ Việt
Nam, phụ nữ các dân tộc thiểu số mang trong
mình cả đặc điểm, phẩm chất, tiềm năng nổi
bật của phụ nữ Việt Nam, cả đặc điểm, tiềm
năng của phụ nữ dân tộc thiểu số do sống
trong môi trường tự nhiên - niềm núi, và môi
trường xã hội – dân tộc thiểu số tạo nên, đó
là: đức tính cần cù, phẩm chất thật thà, khéo
léo và sáng tạo trong mọi công việc, có sức
khỏe dẻo dai được rèn luyện trong môi trường
tự nhiên khắc nghiệt, hết lòng vun vén cho
cuộc sống gia đình, tạo nên sự yên ổn, êm ấm
trật tự trên dưới cho gia đình và cho xã hội
Tuy nhiên, do sống trong điều kiện tự nhiên
khắc nghiệt, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, lại
chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng “tam
tòng, tứ đức” đã khiến phụ nữ dân tộc thiểu số
luôn sống trong tâm trạng cam chịu, ngại thay
đổi và khó bắt nhịp với cái mới Những vấn
đề bất cập của phụ nữ dân tộc thiểu số hiện
nay cũng là những vấn đề lớn và đòi hỏi phải
*
Tel: 0914892999, Email: hanhlt@tnus.edu.vn
có biện pháp khắc phục Đó là những hạn chế
về trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, nghề nghiệp, điều kiện chăm sóc sức khỏe và đặc biệt là tâm lí tự ti với những thói quen truyền thống, những hủ tục lạc hậu, trọng nam khinh
nữ là rào cản lớn nhất đối với phụ nữ các dân tộc thiểu số ở tỉnh Bắc Kạn trong việc phát huy những thế mạnh của mình vào quá trình phát triển kinh tế cho gia đình và cho xã hội [4]
So với phụ nữ miền xuôi (người Kinh), phụ
nữ các dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế: chưa mạnh dạn, chưa năng động và gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp xã hội, nhất là giao tiếp bằng tiếng phổ thông (tiếng Việt) Ngoài thời gian lao động sản xuất, phụ nữ các dân tộc thiểu số hầu như không có thời gian dành cho nghỉ ngơi hoặc hưởng thụ văn hóa tinh thần, học hỏi nâng cao hiểu biết kiến thức xã hội mà họ phải dành phần lớn thời gian còn lại cho công việc gia đình Chính vì vậy, phụ
nữ bị hạn chế về kỹ thuật chuyên môn và trình độ học vấn
Trình độ học vấn của phụ nữ các dân tộc thiểu
số ở Việt Nam nói chung, ở tỉnh Bắc Kạn nói riêng là thấp, bởi cha mẹ thường ưu tiên để con trai được đến lớp học, còn con gái phải ở nhà phụ giúp việc nương rẫy, do đó có sự khác nhau giữa nam và nữ, nam bao giờ cũng
có trình độ học vấn cao hơn và tỷ lệ mù chữ
Trang 5Lương Thị Hạnh Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 172(12/2): 137-142
thấp hơn, nhiều chị em dân tộc Mông, Dao,
Nùng không biết đọc và ký tên mình Bên
cạnh sự khác biệt về giới, thì điều kiện kinh tế
của mỗi gia đình cũng tác động lớn đến trình
độ học vấn, người nghèo ít có cơ hội đến
trường nên trình độ học vấn thấp và khả năng
áp dựng những tiến bộ khoa học vào sản xuất
lại càng khó khăn hơn Qua khảo sát sơ bộ
dân tộc Mông ở Bản Quá, Phiêng Rằm, Nộc
Chắp (huyện Chợ Đồn); Đán Mẩy, Cốc Lùng
(huyện Ba Bể); Thuần Mang (Ngân Sơn) cho
thấy trình độ học vấn của phụ nữ Mông so với
các tộc người khác trong vùng cư trú là thấp
nhất Các bản kể trên không có một người
phụ nữ nào học đến cấp 3 Vì mù chữ nên phụ
nữ không có khả năng hướng dẫn, định hướng
hay quan tâm con cái trong học tập, điều này
thể hiện ở tỉ lệ con của các bà mẹ mù chữ
hoặc trình độ thấp được đến trường thấp hơn
so với các bà mẹ có trình độ tiểu học, thấp
hơn so với các bà mẹ có trình độ trung học cơ
sở (các bà mẹ mù chữ thường có độ tuổi từ 45
trở lên)
Như vậy, học vấn của phụ nữ không chỉ ảnh
hưởng đến tương lai con cái mà còn ảnh
hưởng trực tiếp đến cơ hội nâng cao năng lực
của phụ nữ trong việc nắm bắt và tiếp cận các
tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất [1]
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC THIỂU
SỐ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
Phụ nữ dân tộc thiểu số trong việc tổ chức
đời sống gia đình
Bên cạnh thiên chức làm mẹ, làm vợ, làm
dâu, phụ nữ các dân tộc thiểu số đã thể hiện
vai trò đảm đang trong quán xuyến tổ chức
cuộc sống gia đình, từ việc đi chợ, lo cơm
nước đảm bảo sức khỏe cho các thành viên
trong gia đình, may vá quần áo, đến việc sắp
xếp công việc trong gia đình hợp lý, hằng
ngày thu xếp, dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ, ngăn
nắp Đó là mảng công việc lặt vặt, tỉ mỉ,
chiếm nhiều thời gian nhưng không thể không
có Người phụ nữ đã sắp xếp, tổ chức gia đình
theo suy nghĩ, nhận thức và tính năng động
của mình Tuy ngày nay đời sống vật chất
tinh thần của các dân tộc đã được cải thiện rõ rệt, công việc nội trợ cũng có sự chia sẻ, giúp
đỡ từ người chồng, song vai trò nội trợ của người vợ không vì thế mà mất đi, ngược lại
nó được quan tâm nhiều hơn, yêu cầu cao hơn
để tạo ra những bữa cơm ngon, thân mật cho các thành viên trong gia đình [4]
Không chỉ vậy, phụ nữ còn là người giữ vai trò trọng yếu trong việc điều hòa các mối quan hệ gia đình; là người vun đắp hạnh phúc, người duy trì và phát triển những giá trị văn hóa gia đình, giữ gìn bản sắc dân tộc [1]
Do nhận được sự dạy bảo kỹ lưỡng về đạo
“Tam tòng”, “Tứ đức” từ khi còn bé, nên những người phụ nữ dân tộc Tày, Nùng, Dao,…trong sinh hoạt hàng ngày rất ý tứ, từ cách ăn, uống; đi lại trên nhà sàn luôn có bước chân nhẹ nhàng; lời nói nhỏ nhẹ, lễ phép; hết lòng chăm lo vun vén cho chồng con và gia đình nhà chồng Trong quan hệ vợ chồng, trước kia phụ nữ chỉ biết lắng nghe, thì ngày nay cùng với sự phát triển của xã hội, phụ nữ còn đưa ra chủ kiến riêng của mình, chia sẻ với chồng những khó khăn vất vả trong công việc, trong cuộc sống Đó là nền tảng cho một gia đình ổn định, nền nếp, êm
ấm và hạnh phúc
Phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế nông thôn miền núi
Do điều kiện cư trú là miền núi, nên cơ cấu kinh tế của các tộc người ở mỗi vùng có sự khác nhau trong tập quán lao động, văn hóa,…tương ứng với vùng rẻo cao, rẻo giữa hay vùng thấp thì vai trò làm việc của phụ nữ các dân tộc thiểu số ở mỗi vùng lại khác nhau Theo số liệu tổng điều tra dân số ngày 01 tháng 04 năm 1999 với 76,3 triệu dân, cơ cấu giới tính nam/nữ là 49,2% Số liệu nghiên cứu cho thấy phụ nữ tham gia hoạt động kinh tế chiếm tỷ lệ cao hơn nam giới, với 75% lao động trong nông nghiệp nông thôn Trong nghiên cứu của chúng tôi tại hai xã cũng cho thấy phụ nữ chiếm số đông trong độ tuổi lao động tại các địa bàn được khảo sát, cụ thể: ở
Trang 6Lương Thị Hạnh Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 172(12/2): 137-142
X
139
xã Nam Cường (huyện Chợ Đồn) và xã
Dương Phong (huyện Bạch Thông) tỷ lệ lao
động nữ trong các công việc chăn nuôi, trồng
trọt như sau: phụ nữ dân tộc Tày gieo mạ, nhổ
mạ 78% nữ (nam: 22%), cấy 84% nữ (nam:
16%) Phụ nữ dân tộc Dao thì công việc trồng
lúa ruộng là 56,3% (nam: 43,7%), làm nương
rẫy: nữ là 68,2% (nam: 31,8%); chăn nuôi lợn
gà: nữ: 72% (nam: 28%) Phụ nữ Mông chủ
yếu làm rẫy 52% (nam: 48%) Một vài lĩnh
vực trong trồng trọt do phụ nữ không đủ sức
khỏe nên nam giới chiếm tỷ lệ cao hơn như:
cày, bừa, đắp bờ, lấy nước, đập lúa, làm
mương phai,… còn lại đều do phụ nữ đảm
nhận hoặc cùng hợp tác với chồng Từ khảo
sát sơ bộ nêu trên, nếu xét theo khía cạnh tộc
người chúng ta dễ dàng nhận thấy trong
truyền thống cũng như hiện tại, phụ nữ các
dân tộc có vai trò trong hoạt động kinh tế gia
đình không hoàn toàn giống nhau, điều đó
phản ánh môi trường sống, mức độ nhận thức
của bản thân người phụ nữ, của cộng đồng về
giới trong lao động
Hưởng ứng phong trào thi đua “Phụ nữ chung
sức xây dựng nông thôn mới”, bằng các giải
pháp cụ thể, Hội phụ nữ các cấp trong tỉnh đã
giúp cho các gia đình hội viên mạnh dạn đứng
ra vay vốn và sử dụng vốn vay để đổi mới kỹ
thuật trồng trọt, chăn nuôi Nhờ sử dụng vốn
vay có hiệu quả, đến nay trên địa bàn toàn tỉnh
đã xuất hiện một số mô hình kinh tế cho thu
nhập cao, góp phần cải thiện cuộc sống cho hội
viên phụ nữ như: Mô hình chăn nuôi tổng hợp
của chị Nguyễn Thị Gái (tổ 5, thị trấn Chợ Mới,
huyện Chợ Mới); mô hình trồng cây ăn quả
của chị Hoàng Thị Kìa (xã Quang Thuận,
huyện Bạch Thông) hay mô hình sản xuất
miến dong sạch của Triệu Thị Tá dân tộc Dao
(thôn Nà Viến, xã Yến Dương, huyện Ba Bể);
tổ hợp tác chế biến chè tại xã Bằng Phúc (Chợ
Đồn); tổ liên kết trồng rau an toàn tại xã
Quang Thuận (Bạch Thông)… Hiệu quả hoạt
động của các mô hình này đã tạo cơ hội cho
phụ nữ giúp đỡ lẫn nhau vươn lên thoát nghèo
bền vững và làm giàu chính đáng
Ngoài sản xuất nông nghiệp - ngành sản xuất chính, thủ công nghiệp cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong cơ cấu kinh tế, trong đời sống và văn hóa tộc người [2] Trong thời gian nông nhàn phụ nữ các dân tộc thiểu số thường: dệt vải, đan sọt, đan tẹm phơi thóc, phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng sinh hoạt hàng ngày của các tộc người Có thể kể đến ở đây
là nghề dệt mà chu trình sản xuất đến chế biến thành vải bao gồm nhiều khâu đều do người phụ nữ đảm nhiệm và phải tốn nhiều công sức, thời gian Việc dệt vải được tiến hành hầu như quanh năm trong những thời gian rảnh rỗi
Do đó, người ta không thể tính được số ngày công lao động của phụ nữ trong công việc này Hiện nay vải dệt chỉ tồn tại hạn chế nhằm đáp ứng yêu cầu trong các nghi lễ tôn giáo mà thôi Trường hợp làng nghề dệt thổ cẩm của người Tày thuộc dự án PAD bảo tồn làng văn hóa thôn Pác Ngòi, xã Nam Mẫu, huyện Ba
Bể cũng đem lại lợi ích kinh tế gia đình của một số hộ: những chiếc túi dệt thủ công có thêu dòng chữ “Du lịch hồ Ba Bể” sẽ là những món quà lưu niệm đặc biệt đầy ý nghĩa đối với mỗi du khách khi đến với Bắc Kạn Xét dưới góc độ văn hóa, việc duy trì nghề dệt với những sản phẩm thủ công tinh xảo là thể hiện tiềm năng của phụ nữ thông qua hoạt động kinh tế này được khẳng định như là người giữ gìn các di sản văn hóa truyền thống
mà các thế hệ trước để lại
Phụ nữ dân tộc thiểu số tham gia hoạt động cộng đồng, hoạt động quản lý
Hoạt động cộng đồng là hoạt động ngoài phạm vi gia đình, song lại liên quan chặt chẽ
và ảnh hưởng tới đời sống gia đình So với phụ nữ miền xuôi, thì phụ nữ các dân tộc thiểu số miền núi tham gia các hoạt động bên ngoài phạm vi gia đình, như tham gia công tác lãnh đạo quản lý cộng đồng, tham gia các
tổ chức xã hội, các lễ hội tại địa phương,… chiếm tỷ lệ thấp Điều này phản ánh mối quan
hệ về vị thế của phụ nữ và nam giới, vì thông thường trong gia đình các dân tộc thiểu số vị thế ngoài xã hội là dành cho nam Qua khảo
Trang 7Lương Thị Hạnh Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 172(12/2): 137-142
sát sơ bộ so sánh vai trò của phụ nữ các dân
tộc thiếu số hiện nay với 10 năm trước ở
một số hoạt động cộng đồng hay tham gia
công tác xã hội thì phụ nữ dân tộc Tày
chiếm tỉ lệ cao nhất (10 năm trước chiếm
khoảng 6%; nay là 14,8%) so với phụ nữ
dân tộc Mông, Dao)
Hiện nay, trong các cuộc họp thôn bản, đi họp
phụ huynh thì chỉ số hai vợ chồng đều tham
gia như nhau (chủ yếu phụ nữ dân tộc Tày,
dân tộc Dao) Ở các cuộc họp việc tham gia
phát biểu, thảo luận của phụ nữ cũng thể hiện
một mức cao hơn (con số 11,7% phụ nữ
thường xuyên phát biểu ý kiến so với 35,3%
nam giới) thể hiện sự trưởng thành về mặt
nhận thức xã hội và khả năng giao tiếp xã hội
của phụ nữ các dân tộc thiểu số Bên cạnh đó
vẫn còn nhiều chị em chưa bao giờ tham gia
phát biểu ý kiến trong các cuộc họp của thôn,
vì họ chưa vượt qua được những thói quen cũ
là ngại phát biểu trước đám đông, tâm lý tự ti
Trong lĩnh vực quản lý xã hội, các tổ chức
đoàn thể nông thôn, sự tham gia của phụ nữ
rất hạn chế [2] Những người tham gia chủ
yếu là phụ trách các ban ngành đoàn thể ở xã
như Hội phụ nữ, Mặt trận, trạm y tế, Kết
quả điều tra cho thấy chỉ có khoảng 1,2% phụ
nữ dân tộc thiểu số tham gia công tác quản lý
xã hội, trong khi nam giới ở lĩnh vực này là
18% Theo khảo sát của chúng tôi, tỷ lệ nữ
tham gia công tác lãnh đạo, quản lí có liên
quan chặt chẽ đến đặc điểm kinh tế, truyền
thống văn hóa của từng dân tộc và từng địa
phương, những người tham gia công tác lãnh
đạo chỉ tập trung ở một số tộc người có đông
dân số (Tày, Dao) Có thể nói, số lượng cán
bộ nữ chiếm tỉ lệ thấp chủ yếu là xuất phát từ
nhận thức định kiến về giới đã tồn tại dai
dẳng trong nhận thức chung của cộng đồng
Phụ nữ dân tộc thiểu số tham gia các phong
trào góp phần xây dựng nông thôn mới
Là tổ chức thành viên trong khối đại đoàn kết
toàn dân tộc, phụ nữ các dân tộc thiểu số tỉnh
Bắc Kạn cùng các cấp hội của mình tham gia
là nòng cốt trong xây dựng nông thôn thông qua việc thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, với quan điểm: xây dựng gia đình hạnh phúc là nền tảng để xây dựng một xã hội văn minh, gắn với thực hiện 4 chuẩn mực xây dựng gia đình “No ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc”, phối hợp chặt chẽ với ngành công an thực hiện Nghị quyết liên tịch 01/2002/NQLT về “Quản lý, giáo dục con em trong gia đình không phạm tội và tệ nạn xã hội” Các chương trình phối hợp đã góp phần thiết thực nâng cao trách nhiệm của các bậc cha mẹ trong nuôi dạy, giáo dục con cái [4]
Ðể hỗ trợ các gia đình thực hiện tốt các cuộc vận động, Hội đã triển khai một số đề án, chương trình hướng vào gia đình, lấy gia đình
là đối tượng để tác động như đề án “Giáo dục
5 triệu bà mẹ nuôi dạy con tốt giai đoạn 2010-2015”; phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” góp phần nâng cao vai trò, vị thế của người phụ nữ trong gia đình và xã hội, hướng đến mục tiêu bình đẳng giới, đồng thời triển khai sâu rộng cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch” Nhiều mô hình hoạt động hiệu quả, như “Phụ nữ sản xuất, chăn nuôi giỏi”; “Hộ gia đình không chăn nuôi gia súc dưới gầm sàn” Bên cạnh đó, các cấp Hội Phụ nữ đã xây dựng nhiều loại hình câu lạc bộ để tạo điều kiện cho hội viên tham gia phát huy hiệu quả hệ thống thiết chế văn hóa ở cơ sở như: Câu lạc bộ Phụ nữ với Pháp luật; Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế; Câu lạc bộ Nuôi con khỏe, dạy con ngoan,…nhiều quy định về cưới xin, ma chay theo nếp sống mới đã được người dân hưởng ứng [3, tr.6]
Để hoàn thành tiêu chí giao thông trong xây dựng nông thôn mới, phụ nữ các dân tộc thiểu
số tỉnh Bắc Kạn còn tích cực phối hợp với các ban ngành, đoàn thể tham gia tổng vệ sinh đường làng, ngõ xóm; tích cực tham gia làm đường giao thông liên thôn, liên xã, đường vào các khu kinh tế, giúp người dân đi lại thuận tiện hơn
Trang 8Lương Thị Hạnh Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 172(12/2): 137-142
X
141
Sự chung tay góp sức của phụ nữ đã góp phần
quan trọng đưa Phong trào thi đua “Phụ nữ
chung sức xây dựng nông thôn mới” trên địa
bàn tỉnh ngày càng phát triển mạnh mẽ cả bề
rộng lẫn chiều sâu, từng bước thực hiện thắng
lợi công cuộc xây dựng nông thôn mới theo
tinh thần của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ
tỉnh lần thứ XI nhiệm kỳ 2015-2020 đã đề ra
Phụ nữ dân tộc thiểu số trong việc giữ gìn
bản sắc văn hóa dân tộc
Trong quá trình phát triển xã hội, đặc biệt là
trong thời kỳ đổi mới, cùng với sự đổi thay về
đời sống kinh tế, sự giao lưu văn hóa ngày
càng được mở rộng kéo theo những thay đổi
đáng kể về văn hóa tộc người Bên cạnh việc
bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống thì
văn hóa tộc người cũng đang tiếp thu và phát
huy những yếu tố văn hóa mới Nhờ vậy mà
bản sắc văn hóa tộc người càng trở nên phong
phú, đa dạng Bằng sự khéo léo của mình phụ
nữ các dân tộc thiếu số đã góp nên những sắc
thái rất riêng trong việc trao truyền, phổ biến
và sáng tạo ra các giá trị văn hóa tích cực của
mỗi cộng đồng tộc người
Trong các sinh hoạt tín ngưỡng và các lễ hội
mang tính cộng đồng như Lồng tồng, lễ kỳ
yên (của người Tày, Nùng), lễ cấp sắc (người
Dao),… luôn có sự tham gia của người phụ
nữ Ngoài việc nấu nướng, lo chuẩn bị lễ vật,
lấy củi, mượn bát đũa,… chị em còn tham gia
các nghi thức khi có thể
Số ít phụ nữ ở các dân tộc Tày, Nùng, Dao có
căn làm nghề cúng bái gọi là bà Then, bà Pựt
Họ là người chủ trì các nghi lễ: Cầu an giải
hạn (kỳ yên), lễ hắt khoăn (lễ gọi hồn vía), lễ
đầy tháng (lẩu bươn), lễ bắc cầu xin hoa (lễ
xin con),… làm cầu nối liên lạc giữa người
trần gian với thế giới thần Phật Với kinh
nghiệm và sự hiểu biết sâu rộng về phong tục
tập quán tộc người, một số bà Then còn có thể
bốc thuốc chữa trị được một số bệnh nan y,
như: chữa hậu sản, vô sinh, tránh sẩy thai,
chữa vết thương trâu bò bị dòi (pền non),
những hoạt động tín ngưỡng của họ đã trở
thành chỗ dựa về mặt tinh thần cho đại bộ phận dân chúng, giúp họ vượt qua những khó khăn, biến cố của cuộc sống Mặt khác còn góp phần bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa dân gian các dân tộc, là 1 trong 19 tiêu chí quan trọng trong công cuộc xây dựng nông thôn mới
KẾT LUẬN Với hơn 70% lao động nữ tham gia trực tiếp vào các hoạt động nông nghiệp đã cho thấy phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới Bởi
vì, phụ nữ vừa là chủ thể góp phần quan trọng vào thành công của Chương trình, vừa là người được trực tiếp thụ hưởng những thành quả tốt đẹp do Chương trình xây dựng nông thôn mới mang lại Điều đáng chú ý, trong xu hướng nam giới (dưới 45 tuổi) ngày càng chuyển sang các công việc phi nông nghiệp
và di cư ra thành phố (hoặc xuất khẩu lao đông) tìm việc làm, thì phụ nữ đóng vai trò quyết định trong các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, cộng đồng Hiện nay, trong mỗi gia đình phụ nữ chính là người cùng chồng quản lý các nguồn lực, quyết định các đầu tư, chi tiêu lớn trong sản xuất, kinh doanh, xây dựng nhà cửa và mua sắm các tiện nghi sinh hoạt Vì vậy, có thể khẳng định họ là một chủ thể quan trọng và nhân tố tích cực thúc đẩy quá trình xây dựng nông thôn mới
Trong quá trình phát triển của xã hội, vị trí, vai trò của phụ nữ trong đời sống kinh tế, chính trị thể hiện có lúc rất mờ nhạt; còn trong việc giữ gìn mái ấm gia đình thì vị trí, vai trò của phụ nữ trong mọi thời kỳ lịch sử luôn thể hiện đậm nét, xuyên suốt qua hàng ngàn năm nay
Để phụ nữ các dân tộc thiểu số ở nông thôn miền núi phát huy tiềm năng sáng tạo to lớn của mình ngày càng trở thành chủ nhân đích thực của xã hội thì cần phát huy chính tài năng, lòng nhiệt tình và sức sáng tạo của phụ
nữ Do đó, các cấp Hội cần có những chính
Trang 9Lương Thị Hạnh Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 172(12/2): 137-142
sách tích cực nhằm tạo điều kiện và cơ hội
cho phụ nữ phát huy vai trò trong việc xây
dựng nông thôn mới Đặc biệt là đội ngũ chi
hội trưởng phụ nữ cấp xã, thôn ở vùng miền
núi có vai trò rất lớn trong việc tuyên truyền,
vận động và thu hút các chị em vào các hoạt
động nhằm bồi dưỡng kiến thức toàn diện về
kinh tế và xây dựng gia đình ấm no, hạnh
phúc Bởi khi phụ nữ đã làm tốt vai trò của
mình sẽ có sức lan tỏa và lôi cuốn được
những lực lượng và nguồn lực khác trong xã
hội tạo ra sức mạnh tổng hợp để hoàn thành
chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng
nông thôn mới
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Lê Thi (1990), Việc làm, đời sống phụ nữ trong
chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã
hội, Hà Nội
2 Lê Thi (1998), Phụ nữ nông thôn vàphát triển
ngành nghề phi nông nghiệp, Nxb Khoa học Xã
hội, Hà Nội
3 Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2015), “Phụ nữ trong sản xuất và tham gia xã hội ở nông thôn; thực
trạng và khuyến nghị chính sách”, Tạp chí nông
nghiệp và phát triển nông thôn, kỳ 2, tháng
9/2015, tr.3-9
4 Vương Thị Vân (2009), Vai trò của phụ nữ
nông thôn trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên, Luận văn
Thạc sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Đại học Thái Nguyên
SUMMARY
THE ROLE OF ETHNIC MINORITY WOMEN IN
BUILDING NEW RURAL AREAS IN BAC KAN PROVINCE
Luong Thi Hanh*
University of Sciences - TNU
Ethnic women living in Backan province where people’s economic condition is difficult are deeply
influenced by male-dominated thought So ethnic women accept one's fate resignedly and remain
unchanged Nowadays, ethnic women’s role is more and more developing They not only are
wives and mothers, but also are main labour in family and society More than 70 percent of female
workers directly engaged in agricultural production This shows that ethnic minority women in
Bac Kan province are important subjects which contribute to complete building new rural areas
Keywords: women, ethnic minorities, role, new rural areas, Backan…
Ngày nhận bài: 01/9/2017; Ngày phản biện: 05/10/2017; Ngày duyệt đăng: 16/10/2017
*
Tel: 0914892999, Email: hanhlt@tnus.edu.vn
Trang 10oµ soT T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ
SOCIAL SCIENCE – HUMANITIES – ECONOMICS
Ha Xuan Huong - Women’s stituations in Thai and Tay’s folk songs 3
Ngo Thi Thu Trang - Some measures that need to be implemented to enhance students’ ability in terms of
using Sino – Vietnamese words 9 Nguyen Thi Ha, Vu Thi Hong Hoa - Enhancing the proportion of female in people’s elected bodies 15 Nguyen Thu Ha, Nguyen Thi Mai Huong, An Thi Thu, Nguyen Thi Hong - Developing vietnamese
accounting standards towards international accounting standards 21
Nguyen Thi Hoa - Using collection “Vietnam wartime letters” in historical education 27 Nguyen Thi Xuan Thu, Pham Ngoc Duy - Effects of using semantic mapping on ESP vocabulary retention of
the students at University of Technology – Thai Nguyen University 33
Vu Kieu Hanh, Hoang Thi Cuong - English reading skill of the second-year students at University of
Agriculture and Forestry – Thai Nguyen University: basis for enhancement activities 39 Nguyen Thi Thu Huong - Protection ofpersonal rights for juvenile labor in Vietnam law 45
Nguyen Thi Tham - The journey to search for happiness of female characters in the short stories Cœur brûle et autres
Le Thi Luu, Tran Bao Ngoc, Bui Thanh Thuy et al - The bachelor of nursing students’ perception of educational
environment at University of Medicine and Pharmacy - Thai Nguyen University by DREEM questionnare 57 Bui Thi Minh Ha, Nguyen Huu Tho - Awareness of household on climate change and its effectiveness on tea
cultivation: a case study in Tan Cuong tea area, Thai Nguyen city 63
Duong Thanh Tinh, Tran Van Quyet, Nguyen Ngoc Ly, Nguyen Viet Dung - Employment creation potential
for ethnic minorities through value chain development of cinnamon products in the northern mountainous region
of Vietnam - a case study of Van Yen district, Yen Bai province 69 Nguyen Thu Nga, Do Thi Tuyet Mai, Nguyen Thi Dieu Hong - Applying Cobb-Douglas linear function to
measure the efficiency of Vietnam commercial banks 75 Phung Thanh Hoa, Bui Thi Thanh Thuy - The impact of market economy on rural Viet Nam at present 81
Hoang Thi My Hanh, Sombath Kingbounkai - The migration process of Vietnamese to Laos and location in
Vi Thi Phuong - Using press to the new construction of building culture in Vietnam, look at the Tao Dan
Nguyen Thi Minh Loan - A proposed model for question generation instruction in reading comprehension 99 Nguyen Thi Bich Ngoc - English written proficiency – upper intermediate 2 (EWU241): students’ evaluation of
the course content and teaching activities at the School of Foreign Languages, Thai Nguyen University 105
Nguyen Mai Linh, Tran Minh Thanh, Duong Thi Hong An - Portfolio development and group presentation
for ESP courses toward postmethod 111
Tran Thi Kim Hoa - Developing the ability of using Vietnamese for ethnic minority elementary school pupils
Tran Tu Hoai - The main points of “lecturers development” policy that were taken in University of Education –
Pham Thi Huyen, Vu Thi Thuy - Training the working style manner of cadres following Ho Chi Minh’s style 127
Journal of Science and Technology