1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÁT TRIỂN CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM THEO HƯỚNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ

10 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thực hiện điều này các chuyên gia kế toán hàng đầu của Việt Nam từ Bộ Tài chính, NH nhà nước, hội nghề nghiệp, ủy ban chứng khoán, các công ty dịch vụ kế toán – kiểm toán, các trư[r]

Trang 1

Tập 172, số 12/2, 2017

Trang 2

T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ

CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN – KINH TẾ

Hà Xuân Hương - Thân phận người phụ nữ trong dân ca trữ tình sinh hoạt Tày, Thái 3

Ngô Thị Thu Trang - Một số biện pháp nâng cao năng lực sử dụng từ Hán Việt cho học sinh phổ thông 9 Nguyễn Thị Hà, Vũ Thị Hồng Hoa - Nâng cao tỷ lệ nữ trong các cơ quan dân cử 15

Nguyễn Thu Hà, Nguyễn Thị Mai Hương, An Thị Thư, Nguyễn Thị Hồng - Phát triển chuẩn mực kế toán

Việt Nam theo hướng chuẩn mực kế toán quốc tế 21

Nguyễn Thị Hòa - Sử dụng tuyển tập “Những lá thư thời chiến Việt Nam” trong giáo dục lịch sử 27

Nguyễn Thị Xuân Thu, Phạm Ngọc Duy - Những tác động của việc sử dụng sơ đồ ngữ nghĩa đối với khả

năng ghi nhớ từ vựng tiếng Anh chuyên ngành của sinh viên trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp – Đại học

Vũ Kiều Hạnh, Hoàng Thị Cương - Nghiên cứu kỹ năng đọc của sinh viên năm thứ 2 tại trường Đại học Nông

Lâm – Đại học Thái Nguyên, cơ sở để thiết kế các hoạt động rèn luyện tăng cường 39

Nguyễn Thị Thu Hường - Bảo vệ quyền nhân thân cho lao động chưa thành niên theo pháp luật Việt Nam 45

Nguyễn Thị Thắm - Hành trình tìm kiếm hạnh phúc của nhân vật nữ trong Những nẻo đường đời và những bản

Lê Thị Lựu, Trần Bảo Ngọc, Bùi Thanh Thủy và cộng sự - Nhận thức của sinh viên cử nhân điều dưỡng về

môi trường giáo dục tại trường Đại học Y Dược - Đại học Thái Nguyên bằng bảng hỏi DREEM 57

Bùi Thị Minh Hà, Nguyễn Hữu Thọ - Nhận thức của nông hộ về biến đổi khí hậu và tác động của biến đổi khí

hậu tới sản xuất chè - Trường hợp nghiên cứu: Vùng chè Tân Cương thành phố Thái Nguyên 63

Dương Thanh Tình, Trần Văn Quyết, Nguyễn Ngọc Lý, Nguyễn Việt Dũng - Giải quyết việc làm cho lao

động dân tộc thiểu số thông qua phát triển chuỗi liên kết tiêu thụ các sản phẩm từ cây quế tại huyện Văn Yên,

Nguyễn Thu Nga, Đỗ Thị Tuyết Mai, Nguyễn Thị Diệu Hồng - Sử dụng hàm Cobb - Douglas tuyến tính để

đánh giá hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng Việt Nam 75

Phùng Thanh Hoa, Bùi Thị Thanh Thuỷ - Tác động của kinh tế thị trường đến nông thôn Việt Nam hiện nay 81

Hoàng Thị Mỹ Hạnh, Sombath Kingbounkai - Quá trình di cư của người Việt đến Lào và định cư tại tỉnh

Vi Thị Phương - Sử dụng báo chí vào công cuộc xây dựng nền văn hóa mới ở Việt Nam, nhìn từ góc độ tạp chí

Nguyễn Thị Minh Loan - Đề xuất mô hình tập huấn dạy đặt câu hỏi trong kỹ năng đọc hiểu 99

Nguyễn Thị Bích Ngọc - Đánh giá nội dung và việc giảng dạy học phần bút ngữ tiếng Anh trung cao cấp 2 tại

Khoa Ngoại ngữ, Đại học Thái Nguyên xét từ góc độ sinh viên 105

Nguyễn Mai Linh, Trần Minh Thành, Dương Thị Hồng An - Kết hợp sử dụng hồ sơ học tập (Portfolio) và

thuyết trình nhóm trong dạy và học các khóa học tiếng Anh chuyên ngành tiếp cận hậu phương pháp luận 111

Trần Thị Kim Hoa - Phát triển năng lực sử dụng từ tiếng Việt cho học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số qua

Trần Tú Hoài - Một số nội dung cơ bản của chính sách phát triển giảng viên qua thực tiễn tại trường Đại học

Phạm Thị Huyền, Vũ Thị Thủy - Rèn luyện phong cách làm việc quần chúng của người cán bộ theo phong

cách Hồ Chí Minh 127

Journal of Science and Technology

N¨m 2017

Trang 3

Tống Thị Phương Thảo - Bảo vệ quyền của lao động nữ khi mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ theo pháp luật

Lương Thị Hạnh - Vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bắc Kạn 137 Nguyễn Thị Thanh Hà, Nguyễn Thị Thu Hiền - Một số vấn đề về việc xây dựng lối sống mới cho sinh viên

Việt Nam hiện nay 143

Hồ Lương Xinh, Nguyễn Thị Yến, Nguyễn Thị Giang, Lưu Thị Thùy Linh, Bùi Thị Thanh Tâm, Nguyễn

Mạnh Thắng - Xác suất cải thiện thu nhập của hộ nông dân sau thu hồi đất nông nghiệp tại các khu công nghiệp

Đinh Ngọc Lan, Đoàn Thị Thanh Hiền, Dương Tuấn Việt - Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất và

tiêu thụ miến dong tại huyện Nguyên Bình- tỉnh Cao Bằng 155

Đỗ Thị Hà Phương, Chu Thị Hà, Nguyễn Thị Giang, Dương Xuân Lâm - Tác động của vốn xã hội và công nghệ

thông tin đến dự định chia sẻ tri thức và hành vi chia sẻ tri thức của cán bộ giảng viên tại Đại học Thái Nguyên 161 Nguyễn Thị Hiền Thương, Dương Thị Thu Hoài, Cù Ngọc Bắc, Kiều Thu Hương, Vũ Thị Hải Anh - Sự

tham gia của người dân trong việc thực hiện các tiêu chí cơ sở hạ tầng - chương trình xây dựng nông thôn mới

tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 169

Vũ Bạch Điệp, Mai Việt Anh - Huy động vốn cho phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố

Thái Nguyên, thực trạng và một số giải pháp 175 Nguyễn Thị Ngọc Anh, Hoàng Huyền Trang - Thiết kế và sử dụng các trò chơi học tập nhằm nâng cao hiệu

quả dạy học môn khẩu ngữ cao cấp cho sinh viên Trung Quốc tại Khoa Ngoại ngữ, Đại học Thái Nguyên 181 Trần Thị Yến, Khổng Thị Thanh Huyền - Những lỗi về câu thường gặp trong bài viết tiếng Anh học thuật của

sinh viên Việt Nam chuyên ngành tiếng Anh: Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp 187

Hà Thị Thanh Hoa, Chu Thị Kim Ngân, Dương Thị Thúy Hương - Mức độ hài lòng của khách hàng về chất

lượng dịch vụ mạng di động Vinaphone tỉnh Thái Nguyên 193

Vũ Thị Loan, Vũ Thị Hậu - Vai trò của giá cổ phiếu đối với dự báo khó khăn tài chính doanh nghiệp: Mô hình

Hồ Thị Mai Phương, Hoàng Thị Tú, Trần Nguyệt Anh - Thiết kế và tổ chức trò chơi học tập trong hình thành

biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mẫu giáo 205

Đồng Thị Hồng Ngọc, Nguyễn Quỳnh Hoa, Nguyễn Thị Thu Hường, Hoàng Thanh Hải, Nguyễn Thị Thu

Hằng - Ứng dụng mô hình logistic xếp hạng tín dụng doanh nghiệp xây dựng niêm yết tại Việt Nam 211

Hà Thị Hòa, Hồ Ngọc Sơn - Phân tích chuỗi giá trị qua các kênh tiêu thụ sản phẩm Sơn tra tại Yên Bái 219

Trang 4

Nguyễn Thu Hà và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 172(12/2): 21-25

PHÁT TRIỂN CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM

THEO HƯỚNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ

An Thị Thư, Nguyễn Thị Hồng

Trường Đại học Kinh tế & Quản trị Kinh doanh – ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Chuẩn mực kế toán Việt Nam được xây dựng trên cơ sở chuẩn mực kế toán quốc tế, tuy nhiên vẫn có những điểm khác biệt nhất định Khoảng cách giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam và quốc

tế là khá lớn và điều này gây trở ngại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay của nước

ta Để tăng cường khả năng hội nhập, cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài và thu hút đầu tư từ nước ngoài thì cần thiết phải thay đổi hệ thống chuẩn mực kế toán cho phù hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế Bài viết khái quát một số điểm chính về chuẩn mực kế toán quốc tế, việc áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế của một số quốc gia trên thế giới và của Việt Nam; đồng thời chỉ ra những khó khăn trong quá trình hòa hợp quốc tế của chuẩn mực kế toán Việt Nam Từ đó, đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển chuẩn mực kế toán Việt Nam theo hướng chuẩn mực kế toán quốc tế

Từ khoá: Chuẩn mực kế toán Việt Nam, chuẩn mực kế toán quốc tế, hội nhập, hòa hợp, phát triển

MỞ ĐẦU*

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện

nay, Việt Nam muốn tăng khả năng cạnh

tranh với các doanh nghiệp nước ngoài và thu

hút được đầu tư nước ngoài nhiều hơn thì cần

thiết phải rút ngắn khoảng cách với các thông

lệ, quy tắc chung của quốc tế trong đó có

chuẩn mực kế toán quốc tế Việc xây dựng

chuẩn mực kế toán Việt Nam dựa trên các

chuẩn mực kế toán quốc tế góp phần nâng cao

tính công khai, minh bạch trong báo cáo tài

chính của các doanh nghiệp, phản ánh được

các giao dịch của nền kinh tế thị trường, đáp

ứng yêu cầu hội nhập quốc tế

Để đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế khu vực

và quốc tế, Việt Nam đã và đang thiết lập

hành lang pháp lý về kế toán, kiểm toán theo

thông lệ quốc tế nhằm hoàn thiện và nâng cao

hiệu quả của công tác kế toán, trong đó một

bộ phận quan trọng là hệ thống chuẩn mực kế

toán Việt Nam Cho đến nay, nước ta đã ban

hành được 26 chuẩn mực kế toán Việt Nam

dựa trên cơ sở của chuẩn mực kế toán quốc tế

và điều kiện thực tế của đất nước [1]

Tuy nhiên, thực tế cho thấy giữa chuẩn mực

kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc

*Tel: 0983 345 491; Email: nguyenthuha1807@gmail.com

tế vẫn còn một khoảng cách khá lớn, gây trở ngại không ít cho quá trình hội tụ kế toán quốc tế của nước ta

Để nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác kế toán nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển thì cần thiết phải rút ngắn hơn nữa khoảng cách giữa chuẩn mực kế toán quốc gia

và quốc tế Do đó “phát triển chuẩn mực kế toán Việt Nam theo hướng chuẩn mực kế toán quốc tế” là việc làm cần thiết và cấp bách hiện nay

KHÁI QUÁT MỘT SỐ ĐIỂM CHÍNH VỀ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ

Chuẩn mực kế toán quốc tế (viết tắt là IAS/IFRS) là một Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế bao gồm 08 Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) và 30 chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) do Hội đồng Chuẩn mực

kế toán quốc tế (IASB) - tiền thân là Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) ban hành IASB (International Accounting Standards Board) là một tổ chức độc lập thuộc khu vực

tư nhân, có trụ sở chính ở thành phố London, Vương Quốc Anh, chuyên thực hiện việc phát triển và chấp nhận việc ban hành, sửa đổi, bổ sung các chuẩn mực kế toán quốc tế IASB hoạt động dưới sự giám sát của Uỷ ban sáng

Trang 5

Nguyễn Thu Hà và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 172(12/2): 21-25

22

lập chuẩn mực kế toán quốc tế (IASCF)

IASB được thành lập từ năm 2001 để thay thế

IASC do Ngân hàng thế giới hỗ trợ thành lập

và phát triển từ năm 1973 đến năm 2000 Mục

tiêu hoạt động chính của IASB là phát triển

các chuẩn mực kế toán có chất lượng cao,

thống nhất, dễ hiểu và có tính chất khả thi cao

cho toàn thế giới trên quan điểm phục vụ lợi

ích của công chúng; tăng cường tính minh

bạch, có thể so sánh được của thông tin trong

báo cáo tài chính và các báo cáo liên quan đến

tài chính, kế toán khác, giúp những thành viên

tham gia thị trường vốn thế giới và những

người sử dụng báo cáo tài chính đưa ra các

quyết định kinh tế; xúc tiến việc sử dụng và

ứng dụng nghiêm ngặt các chuẩn mực kế toán

quốc tế; đem đến những giải pháp có chất

lượng cao cho sự hoà hợp giữa hệ thống

chuẩn mực kế toán quốc gia và các chuẩn

mực kế toán quốc tế [3]

Chuẩn mực kế toán quốc tế bao gồm 3 nhóm

chính là IASs (International Accounting

Standards) – nhóm chuẩn mực kế toán do

IASC ban hành; IFRSs (International

Finalcial Reporting Standards) - chuẩn mực

báo cáo tài chính quốc tế do IASB ban hành;

các hướng dẫn thực hiện chuẩn mực báo cáo

tài chính quốc tế do Uỷ ban hướng dẫn IFRS

ban hành

Trong những năm gần đây, việc áp dụng các

Chuẩn mực kế toán quốc tế, đặc biệt là Chuẩn

mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) đã

phát triển nhanh chóng và được áp dụng phổ

biến trên toàn thế giới Trong số 140 quốc gia

được khảo sát, có 116 nước yêu cầu toàn bộ

hoặc hầu hết những doanh nghiệp nội địa áp

dụng IFRS Đa số những quốc gia còn lại cho

phép áp dụng IFRS Tất cả các tổ chức có tác

động quan trọng đến nền kinh tế thế giới như

G20, Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ tiền tệ

quốc tế (IMF), Hội đồng Ổn định Tài chính

Quốc tế (FSB) và Tổ chức Quốc tế các Ủy

ban Chứng khoán (IOSCO) đều ủng hộ và hỗ

trợ việc áp dụng IFRS trên toàn cầu [5]

Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế đóng góp giá trị to lớn đối với tính bền vững của nền kinh tế toàn cầu: tạo sự minh bạch, đồng thời, giúp nâng cao trách nhiệm giải trình bằng cách giảm bớt lỗ hổng thông tin giữa nội

bộ và bên ngoài công ty Ngoài ra, IFRS còn giúp các doanh nghiệp và thị trường hoạt động hiệu quả hơn nhờ có một chuẩn mực phạm vi toàn cầu và đáng tin cậy, áp dụng cho cả các nền kinh tế phát triển và mới nổi IFRS cũng hỗ trợ giảm thiểu chi phí về vốn

và chi phí báo cáo

VIỆC ÁP DỤNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Việc áp dụng IAS/IFRS ở Pháp

Từ cuối thập niên 1970, Pháp đã tham gia quá trình hội tụ kế toán thông qua EU Phương thức hội tụ kế toán quốc tế của Pháp là duy trì tồn tại ba hệ thống áp dụng cho ba đối tượng khác nhau, trong đó việc hội tụ với chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS chỉ diễn

ra đối với báo cáo hợp nhất các công ty đại chúng Đối với các doanh nghiệp không phải đại chúng, các quy định kế toán chỉ được điều chỉnh theo hướng hội tụ khi cần thiết và thích hợp Trong giai đoạn hội tụ sâu hơn, Pháp vẫn

có khuynh hướng địa phương hóa chuẩn mực quốc tế để phù hợp với yêu cầu và đặc điểm của quốc gia, đặc biệt là đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ [4]

Như vậy Pháp xây dựng hệ thống chuẩn mực theo hướng quốc tế nhưng vẫn giữ những đặc điểm riêng của quốc gia

Việc áp dụng IAS/IFRS ở Trung Quốc Trung Quốc bắt đầu thiết lập chuẩn mực kế toán từ năm 1988 Cuối năm 1992, Bộ tài chính Trung Quốc đã bãi bỏ hệ thống kế toán truyền thống và sử dụng chuẩn mực quốc tế Sau đó, vào năm 2001 Trung Quốc đã ban hành 16 chuẩn mực kế toán và các qui định khác như hệ thống kế toán cho hoạt động siêu thị (ASBE) Tuy nhiên, trước sức ép hội nhập kinh tế thế giới, Trung Quốc đã chấp nhận

Trang 6

Nguyễn Thu Hà và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 172(12/2): 21-25

xây dựng hệ thống chuẩn mực kế toán mới

theo hướng hội tụ kế toán quốc tế trên cơ sở

IAS/IFRS gồm 38 chuẩn mực kế toán có hiệu

lực từ năm 2007 [4]

Việc áp dụng IAS/IFRS ở Australia

Australia đã sở hữu những bước chuẩn bị nhất

định cho việc chuyển đổi từ chuẩn mực kế

toán quốc gia sang IAS/IFRS từ năm 2002 và

đã chính thức chuyển sang áp dụng IAS/IFRS

từ ngày 01.01.2005 Đây là 1 trong những

quốc gia đầu tiên áp dụng IAS/IFRS Tuy

nhiên, Hội đồng chuẩn mực kế toán của Úc

(AASB) đã xem xét việc ban hành IAS/IFRS

tại riêng quốc gia Theo đó, chuẩn mực kế

toán Úc đã sở hữu sự điều chỉnh cho tương

thích với môi trường pháp lý và các đặc điểm

riêng biệt để thích hợp với Úc Chuẩn mực kế

toán Úc không đơn thuần là IAS/IFRS mà bản

chất đã có sự thay đổi theo hình thức

A-IAS/IFRS (A-IAS/IFRS đã được chuyển đổi

theo Úc) Sự điều chỉnh của A-IAS/IFRS bao

gồm các thay đổi trong việc lựa tìm được ban

hành theo IAS/IFRS và bổ sung những hướng

dẫn và thay đổi một số thuật ngữ khác so có

IAS/IFRS.[4] Như vậy mặc dù Úc chấp nhận

hầu hết các chuẩn mực theo IAS/IFRS nhưng

Úc vẫn có các điều chỉnh nhất định mang đặc

điểm riêng của quốc gia

THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CHUẨN MỰC

KẾ TOÁN QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM

Việt Nam bắt đầu nghiên cứu việc ban hành

các chuẩn mực kế toán năm 1999 và đến nay

đã có 26 chuẩn mực được ban hành

Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) được

xây dựng trên cơ sở chuẩn mực kế toán quốc

tế theo nguyên tắc vận dụng có chọn lọc

thông lệ quốc tế, phù hợp với đặc điểm nền

kinh tế và trình độ quản lý của doanh nghiệp

Việt Nam

Đã có nhiều nghiên cứu khác nhau của các tác

giả về đánh giá mức độ hài hòa của VAS với

chuẩn mực kế toán quốc tế như các nghiên

cứu của Phạm Hoài Hương (2010) [2], và

Trần Quốc Thịnh (2014) [5] Theo nghiên cứu

của TS Phạm Hoài Hương (2010) được tiến hành nhằm xác định mức độ hòa hợp giữa VAS với chuẩn mực kế toán quốc tế, thông qua việc so sánh VAS và IAS/IFRS liên quan đến 10 chuẩn mực kế toán chủ yếu có ảnh hưởng quan trọng đến báo cáo tài chính Kết quả phân tích cho thấy mức độ hài hòa bình quân là 68% Mức độ hài hòa về mặt đo lường (81,2%) cao hơn nhiều so với mức độ hài hòa về mặt khai báo thông tin (57%) Mức

độ hài hòa của các chuẩn mực liên quan đến doanh thu và chi phí cao hơn các chuẩn mực liên quan đến tài sản Như vậy, tồn tại một khoảng cách đáng kể giữa IAS/IFRS và VAS, đặc biệt là vấn đề khai báo thông tin [2] Một số khác biệt cụ thể giữa VAS và IAS/IFRS, chẳng hạn như theo VAS 21, doanh thu và chi phí tài chính được tính vào lãi/lỗ hoạt động kinh doanh trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là không phù hợp với thông lệ quốc tế VAS chưa có quy định cho phép đánh giá lại tài sản và nợ phải trả theo giá trị hợp lý tại thời điểm báo cáo Hiện nay Việt Nam đang có những thay đổi tích cực để hòa hợp tốt hơn với các chuẩn mực kế toán quốc tế Ngày 22/12/2014 Bộ tài chính đã ban hành thông tư 200/2014/TT-BTC hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp thay thế quyết định số 15/2006/QĐ-BTC Thông tư 200 ra đời với nhiều điểm mới thay đổi theo hướng tiến gần hơn với chuẩn mực

kế toán quốc tế, đánh dấu bước đổi đổi mới quan trọng trong lộ trình hội tụ kế toán quốc

tế của Việt Nam [1]

NHỮNG KHÓ KHĂN CỦA VIỆT NAM TRONG HÒA HỢP VỚI CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ

Quá trình soạn thảo và ban hành các chuẩn mực kế toán Việt Nam diễn ra khá chậm so với yêu cầu thực tế

Các nền tảng pháp lý của hệ thống kế toán Việt Nam chưa được điều chỉnh và bổ sung kịp thời; chẳng hạn hệ thống pháp lý về kế toán hợp nhất kinh doanh và báo cáo tài chính

Trang 7

Nguyễn Thu Hà và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 172(12/2): 21-25

24

hợp nhất hiện nay ở Việt Nam chưa đầy đủ,

hoàn thiện và chưa sát với chuẩn mực quốc tế

Các hướng dẫn giải thích thực hiện chuẩn

mực theo tinh thần của chuẩn mực kế toán

quốc tế vẫn còn thiếu

Hiên nay các thông tư hướng dẫn của Bộ tài

chính Việt Nam chỉ tâp trung vào phương

pháp hạch toán chứ chưa đúng nghĩa của

hướng dẫn chuẩn mực Đồng thời chưa có

nhiều chương trình tập huấn, hướng dẫn cho

các doanh nghiệp, các cá nhân làm công tác

kế toán – kiểm toán nắm bắt được rõ tinh thần

của chuẩn mực kế toán quốc tế

Quá trình tiếp cận chuẩn mực kế toán quốc

tế còn hạn chế

Các đơn vị kinh doanh hiện nay chưa có

nhiều điều kiện tiếp cận với các chuẩn mực kế

toán quốc tế, chưa hiểu rõ nội dung của các

chuẩn mực kế toán quốc tế mà chỉ quen với

những cách thức hạch toán kế toán truyền

thống từ trước đến nay Nên họ chưa nhận

thấy được những ưu biệt trong các chuẩn mực

kế toán quốc tế Do không hiểu rõ nội dung, ý

nghĩa nên các doanh nghiệp Việt Nam chưa

nhận thức được sự cần thiết của các chuẩn

mực kế toán mà họ thường quan tâm báo cáo

tài chính đáp ứng được với yêu cầu của thuế

cũng như sự thuận tiện

Việc áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế

còn nhiều trở ngại đối với Việt Nam

Việc áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế đối

với Việt Nam gặp phải nhiều trở ngại về mặt

ngôn ngữ, công nghệ và trình độ nhân lực

Các chuẩn mực kế toán quốc tế chỉ là tiếng

Anh nên để nắm bắt rõ nội dung bản chất là

một vấn đề khó khăn đối với Việt Nam Áp

dụng chuẩn mực kế toán quốc tế đòi hỏi

doanh nghiệp phải đầu tư nhiều vào công

nghệ hiện đại để xử lý tự động nhiều nghiệp

vụ phát sinh Các doanh nghiệp cần thiết lập

hệ thống và quy trình để đảm bảo tuân thủ các

chuẩn mực kế toán áp dụng, tăng cường công

tác quản lý công tác báo tài chính và kiểm

toán nội bộ

Chuẩn mực kế toán quốc tế chứa đựng nhiều phương diện phức tạp điều này đồng nghĩa với việc đòi hỏi nguồn nhân lực phải được đào tạo bài bản và chuyên nghiệp

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHUẨN MỰC

KẾ TOÁN VIỆT NAM THEO HƯỚNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ

Để rút ngắn khoảng cách giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam với quốc tế, tăng cường khả năng hội nhập quốc tế của đất nước thì cần phải phát triển các chuẩn mực kế toán Việt Nam theo hướng chuẩn mực kế toán quốc tế Một số giải pháp phát triển như sau:

Xây dựng bổ sung một số chuẩn mực kế toán Việt Nam

Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện mới có 26 chuẩn mực, còn hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế hiện gồm 38 chuẩn mực

Về nội dung các chuẩn mực của Việt Nam vẫn còn nhiều khác biệt đáng kể so với chuẩn mực quốc tế Do đó cần bổ sung một số chuẩn mực cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế Để thực hiện điều này các chuyên gia kế toán hàng đầu của Việt Nam từ Bộ Tài chính, NH nhà nước, hội nghề nghiệp, ủy ban chứng khoán, các công ty dịch

vụ kế toán – kiểm toán, các trường đại học… cần phải hợp tác về mặt chuyên môn để có thể xây dựng các chuẩn mực kế toán chất lượng cao phù hợp với sự phát triển của thị trường cũng như đáp ứng được thông lệ quốc tế Xây dựng “cơ sở hạ tầng” để phục vụ cho việc phát triển kế toán theo hướng quốc tế Nâng cao trình độ của các đối tượng liên quan, bao gồm các quy định về chất lượng đối tượng hành nghề, việc đào tạo trong quá trình làm việc, các quy định kiểm soát chất lượng

kế toán Về cơ bản hiện nay ở Việt Nam, Bộ Tài chính cũng đã ban hành quy định về kiểm soát chất lượng dịch vụ kế toán – kiểm toán cũng như thời gian cập nhật các kiến thức Đây có thể là một sự thuận lợi để triển khai các dự án xa hơn để nâng cao trình độ nguồn nhân lực trong lĩnh vực này

Trang 8

Nguyễn Thu Hà và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 172(12/2): 21-25

Tăng cường vai trò của các cơ sở đào tạo

Các cơ sở đào tạo kế toán – kiểm toán có vai

trò quan trọng trong việc nghiên cứu chương

trình đào tạo phù hợp với thực tiễn ngành

nghề Các đơn vị cần phải tích cực trong quá

trình xây dựng hệ thống chuẩn mực kế toán

Việt Nam, tích cực trao đổi và tiếp thu kinh

nghiệp từ các học viện ở những quốc gia có

hệ thống kế toán phát triển cũng như các tổ

chức ban hành chuẩn mực quốc tế Cần phải

chủ động xây dựng chương trình đạo tạo

chuẩn về kế toán quốc tế để kiến nghị với nhà

nước về việc áp dụng trong thực tiễn Thiết kế

lại chương trình giảng dạy, tài liệu giảng dạy

kế toán phù hợp và có cập nhật thường xuyên

các chuẩn mực kế toán ban hành

Các trường đại học, cao đẳng, các nơi đào tạo

chuyên ngành… cần trở thành cầu nối giữa

các doanh nghiệp và việc áp dụng các văn bản

pháp quy mới về kế toán trong vai trò hướng

dẫn và thu thập các ý kiến đóng góp từ phía

các doanh nghiệp

KẾT LUẬN

Trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam

đang tích cực thay đổi, cập nhật theo hướng

quốc tế để phát triển kinh tế nói chung và lĩnh

vực kế toán nói riêng Để quá trình hội tụ kế

toán quốc tế diễn ra nhanh chóng và hiệu quả

hơn nữa thì việc phát triển chuẩn mực kế toán Việt Nam theo hướng chuẩn mực kế toán quốc tế là quan trọng và cần thiết hiện nay Tuy nhiên trong quá trình hòa hợp với các chuẩn mực kế toán quốc tế, Việt Nam gặp phải không ít khó khăn và trở ngại Để phát triển chuẩn mực theo hướng quốc tế đòi hỏi Việt Nam phải có giải pháp đồng bộ từ xây dựng chuẩn mực đến cơ sở hạ tầng và các cơ

sở đào tạo kế toán

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Thu Hà, Trần Đình Tuấn (2016), “Rút ngắn khoảng cách giữa chuẩn mực kế toán Việt

Nam với chuẩn mực kế toán quốc tế”, Tạp chí Tài chính, số 631, tr 47 - 48

2 Phạm Hoài Hương (2010), “Mức độ hài hòa giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực

kế toán quốc tế”, Tạp chí Khoa học và công nghệ -

ĐH Đà Nẵng, số 5(40), tr 155 – 164

3 Đỗ Thị Thúy Phương, Hoàng Thị Thu (2014),

Giáo trình Kế toán quốc tế, Nxb Đại học Thái

Nguyên

4 Trần Quốc Thịnh (2012), “Thách thức của quá trình hội tụ kế toán quốc tế và những kinh nghiệm

cho Việt Nam”, Tạp chí Kiểm toán, số 3/2012

5 Trần Quốc Thịnh (2014), Định hướng xây dựng

hệ thống chuẩn mực báo cáo tài chính Việt Nam đáp ứng xu thế hội tụ kế toán quốc tế, Luận án tiến

sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh

SUMMARY

DEVELOPING VIETNAMESE ACCOUNTING STANDARDS TOWARDS

INTERNATIONAL ACCOUNTING STANDARDS

Nguyen Thu Ha*, Nguyen Thi Mai Huong, An Thi Thu, Nguyen Thi Hong

University of Economic and Business Administration – TNU

Vietnamese accounting standards are built on the basis of international accounting standards, but there are certain differences Distance between Vietnamese accounting standards and international accounting standards is quite large and this interferes with the process of international economic integration of our country In order enhance integration, competition with foreign businesses and attract international investment, it is necessary to change the system of accounting standards in line with international accounting standards This paper covers some of the main points of the international accounting standards, the application of international accounting standards in some countries and in Vietnam; besides, it points out the difficulties in the process of international integration of Vietnamese accounting standards From there, some solutions to develop Vietnamese accounting standards towards international accounting standards are given

Keywords: Vietnamese accounting standards, international accounting standards, integration, harmony, develop

Ngày nhận bài: 01/9/2017; Ngày phản biện: 27/9/2017; Ngày duyệt đăng: 16/10/2017

*

Tel: 0983 345 491; Email: nguyenthuha1807@gmail.com

Trang 9

soT T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ

SOCIAL SCIENCE – HUMANITIES – ECONOMICS

Ha Xuan Huong - Women’s stituations in Thai and Tay’s folk songs 3 Ngo Thi Thu Trang - Some measures that need to be implemented to enhance students’ ability in terms of

using Sino – Vietnamese words 9 Nguyen Thi Ha, Vu Thi Hong Hoa - Enhancing the proportion of female in people’s elected bodies 15 Nguyen Thu Ha, Nguyen Thi Mai Huong, An Thi Thu, Nguyen Thi Hong - Developing vietnamese

accounting standards towards international accounting standards 21 Nguyen Thi Hoa - Using collection “Vietnam wartime letters” in historical education 27 Nguyen Thi Xuan Thu, Pham Ngoc Duy - Effects of using semantic mapping on ESP vocabulary retention of

the students at University of Technology – Thai Nguyen University 33

Vu Kieu Hanh, Hoang Thi Cuong - English reading skill of the second-year students at University of

Agriculture and Forestry – Thai Nguyen University: basis for enhancement activities 39 Nguyen Thi Thu Huong - Protection ofpersonal rights for juvenile labor in Vietnam law 45

Nguyen Thi Tham - The journey to search for happiness of female characters in the short stories Cœur brûle et autres

Le Thi Luu, Tran Bao Ngoc, Bui Thanh Thuy et al - The bachelor of nursing students’ perception of educational

environment at University of Medicine and Pharmacy - Thai Nguyen University by DREEM questionnare 57 Bui Thi Minh Ha, Nguyen Huu Tho - Awareness of household on climate change and its effectiveness on tea

cultivation: a case study in Tan Cuong tea area, Thai Nguyen city 63 Duong Thanh Tinh, Tran Van Quyet, Nguyen Ngoc Ly, Nguyen Viet Dung - Employment creation potential

for ethnic minorities through value chain development of cinnamon products in the northern mountainous region

of Vietnam - a case study of Van Yen district, Yen Bai province 69 Nguyen Thu Nga, Do Thi Tuyet Mai, Nguyen Thi Dieu Hong - Applying Cobb-Douglas linear function to

measure the efficiency of Vietnam commercial banks 75 Phung Thanh Hoa, Bui Thi Thanh Thuy - The impact of market economy on rural Viet Nam at present 81 Hoang Thi My Hanh, Sombath Kingbounkai - The migration process of Vietnamese to Laos and location in

Vi Thi Phuong - Using press to the new construction of building culture in Vietnam, look at the Tao Dan

Nguyen Thi Minh Loan - A proposed model for question generation instruction in reading comprehension 99 Nguyen Thi Bich Ngoc - English written proficiency – upper intermediate 2 (EWU241): students’ evaluation of

the course content and teaching activities at the School of Foreign Languages, Thai Nguyen University 105 Nguyen Mai Linh, Tran Minh Thanh, Duong Thi Hong An - Portfolio development and group presentation

Tran Thi Kim Hoa - Developing the ability of using Vietnamese for ethnic minority elementary school pupils

Tran Tu Hoai - The main points of “lecturers development” policy that were taken in University of Education –

Pham Thi Huyen, Vu Thi Thuy - Training the working style manner of cadres following Ho Chi Minh’s style 127

Journal of Science and Technology

Trang 10

Tong Thi Phuong Thao - Protect the rights of women workers during pregnancy, childbirth and child rearing

according to Vietnamese labor law 131 Luong Thi Hanh - The role of ethnic minority women in building new rural areas in Bac Kan province 137 Nguyen Thi Thanh Ha, Nguyen Thi Thu Hien - Some issues on building new ways of life for Vietnamese

students nowadays 143

Ho Luong Xinh, Nguyen Thi Yen, Nguyen Thi Giang, Luu Thi Thuy Linh, Bui Thi Thanh Tam, Nguyen

Manh Thang - Probability of improving farmer household income after agricultural land acquisition at

industrial zones in Thai Nguyen province 149 Dinh Ngoc Lan, Doan Thi Thanh Hien, Duong Tuan Viet - Analyzing factors effect to production and

consumption of canna in Nguyen Binh district - Cao Bang province 155

Do Thi Ha Phuong, Chu Thi Ha, Nguyen Thi Giang, Duong Xuan Lam - Investigating the effects of social

capital and information technology on knowledge sharing intention and knowledge sharing behavior among

employees in Thai Nguyen University 161 Nguyen Thi Hien Thuong, Duong Thị Thu Hoai, Cu Ngoc Bac, Kieu Thu Huong, Vu Thị Hai Anh -

Research the contribution of cityzens to implement the imfrastructure criteria for new rural program in Phu

Luong district, Thai Nguyen province 169

Vu Bach Diep, Mai Viet Anh - Some solutions for mobilizing capital for small and medium enterprises developing

Nguyen Thi Ngoc Anh, Hoang Huyen Trang - Designing and using learning games in order to increase the

effective teaching in oral advanced proficiency for chinese students at School of Foreign Languages, Thai

Tran Thi Yen, Khong Thi Thanh Huyen - Common sentence problems in academic writing committed by

Vietnamese students of English: situation, causes and solutions 187

Ha Thi Thanh Hoa, Chu Thi Kim Ngan, Duong Thi Thuy Huong - The satisfaction of customers on the

quality of Vinaphone mobile network service of Thai Nguyen province 193

Vu Thi Loan, Vu Thi Hau - The role of market stock price as a financial distress predictor: SVM model 199

Ho Thi Mai Phuong, Hoang Thi Tu, Tran Nguyet Anh - Design and organization of learning games in

elementary school mathematical symbols for elementary school children 205 Dong Thi Hong Ngoc, Nguyen Quynh Hoa, Nguyen Thi Thu Huong, Hoang Thanh Hai, Nguyen Thi Thu

Hang - Application of logistic models in rating credit of listed construction enterprices in Vietnam 211

Ha Thi Hoa, Ho Ngoc Son - Values chain analysis through consumption channels of Son tra in Yen Bai province 219

Ngày đăng: 15/01/2021, 02:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w