1. Trang chủ
  2. » Văn bán pháp quy

NGHIÊN CỨU SỰ HIỆN DIỆN VÀ MỐI TƯƠNG QUAN CỦA KIM LOẠI TRONG ĐỒ CHƠI TRẺ EM TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

7 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 362,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xác định các thành phần chính dựa trên độ lớn của các giá trị riêng (Eigen value) và giá trị phần trăm tích lũy của phương sai (Accumulative). Tuy nhiên, nhóm đồ chơi bằng giấy [r]

Trang 1

NGHIÊN CỨU SỰ HIỆN DIỆN VÀ MỐI TƯƠNG QUAN CỦA KIM LOẠI

TRONG ĐỒ CHƠI TRẺ EM TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

Võ Thị Lệ Hà 1 , Nguyễn Thị Thu Hằng 2

1 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

2 Trường Đại học Nông Lâm - ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Nghiên cứu khảo sát 41 mẫu đồ chơi bằng nhựa, giấy và kim loại được thu thập trên địa bàn Hà Nội và xác định tổng hàm lượng kim loại bằng thiết bị ICP-MS Kỹ thuật phân tích thành phần chính (PCA) được sử dụng để phân tích mối tương quan giữa các kim loại trong các mẫu đồ chơi Kết quả cho thấy rằng các kim loại đều xuất hiện trong tất cả các mẫu phân tích Các mẫu đồ chơi giấy và kim loại có 3 thành phần chính, đồ chơi nhựa có 4 thành phần chính nhưng các thành phần kim loại trong thành phần chính giống nhau Mối tương quan giữa các kim loại cho thấy Zn và Ni

có thể được sử dụng trong ổn định nhiệt, Cr và As được ứng dụng tạo màu, Pb và Cd sử dụng giữ màu và tăng sự ổn định về cấu trúc vật liệu

Từ khóa: Đồ chơi trẻ em, tương quan, kim loại nặng, PCA, ICP-MS

ĐẶT VẤN ĐỀ*

Trung Quốc hiện nay đang là nhà sản xuất và

xuất khẩu đồ chơi lớn nhất thế giới, chiếm

hơn 75% sản lượng đồ chơi Trong đó, Mỹ là

nước nhập khẩu đồ chơi lớn nhất, tiếp đến là

Châu Âu và các nước khác trên thế giới [10]

Tuy nhiên, đồ chơi xuất khẩu của Trung Quốc

là đối tượng thường xuyên bị thu hồi với số

lượng lớn vì không đảm bảo chất lượng và có

nguy cơ không an toàn Năm 2007, 25 triệu

đồ chơi xuất xứ từ Trung Quốc đã bị thu hồi ở

Mỹ Nguyên nhân là do đồ chơi có chứa kim

loại Chì độc hại trong lớp sơn phủ quá mức

cho phép hay các đồ chơi từ tính có các bộ

phận nhỏ dễ gây nguy hiểm cho trẻ [3] Việt

Nam được xem là thị trường tiêu thụ tiềm

năng đối với ngành công nghiệp đồ chơi trẻ

em Theo báo cáo “Tổng kết thanh tra diện

rộng về đồ chơi trẻ em” của Bộ Khoa học và

Công nghệ năm 2013 cho thấy rằng: 90% đồ

chơi giá trẻ lưu thông trên thị trường có xuất

xứ từ Trung Quốc, trong đó phần lớn nhập

khẩu không chính ngạch Vi phạm chất lượng

đồ chơi tương đối phổ biến ở Việt Nam [1]

Vì vậy, sự an toàn và chất lượng đồ chơi luôn

được đặt lên hàng đầu và cần kiểm soát chặt

chẽ Bức tranh nghiên cứu đã thực hiện trên

thế giới về đánh giá khả năng phơi nhiễm các

* Tel: 0919 962586, Email: hangtnvn@tuaf.edu.vn

chất độc hại có trong đồ chơi trẻ em trong quá trình trẻ tiếp xúc đồ chơi được tổng hợp ở bảng 2 Các nghiên cứu đều kết luận rằng, các

đồ chơi được lựa chọn nghiên cứu đều xác định được hàm lượng kim loại nặng với các hàm lượng khác nhau và trẻ có thể bị ảnh hưởng sức khỏe khi tiếp xúc, ngậm các đồ chơi có chứa chất độc hại tiềm ẩn này Nghiên cứu phơi nhiễm đồ chơi trẻ em có xuất xứ Trung Quốc ở Nigeria cho thấy rằng, trong 51 đồ chơi bằng nhựa với các màu sắc khác nhau thì có 43 mẫu (84%) chứa hàm lượng chì cao hơn nồng độ cho phép Hàm lượng chì cao có thể gây tổn thương về não, thần kinh, giảm trí thông minh làm chậm sự phát triển cho trẻ [11] Chì cũng được phát hiện trong các mẫu đồ chơi có cùng xuất xứ ở Thái Lan, Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kì [2,4,9] 100 mẫu khảo sát ở Thái Lan phát hiện 13 mẫu vượt quy chuẩn cho phép [4] Các mẫu ở Ấn

Độ cho thấy rằng, màu sắc của các đồ chơi khác nhau, mức độ hiện diện các kim loại như

Pb, Cd, Zn, Cr sẽ khác nhau Trong đó, đồ chơi màu vàng phát hiện hàm lượng Chì nhiều nhất và đồ chơi màu xanh có nhiều Cadimi nhất Tuy nhiên, các mẫu đồ chơi ở Thổ Nhĩ Kì đều phát hiện Pb và Ca nhưng hàm lượng đều nằm trong tiêu chuẩn cho phép [2] Nghiên cứu mối tương quan giữa các kim loại nặng trong mẫu đồ chơi bằng việc áp dụng kỹ thuật phân tích thành phần

Trang 2

chính (PCA) làm cơ sở bước đầu xác định

nguồn phát sinh được ứng dụng khá phổ biến

trong nghiên cứu khoa học Hiện nay ở Việt

Nam, nghiên cứu về kim loại nặng trong đồ

chơi trẻ em và xác định mối tương quan chưa

được sự quan tâm Số liệu về kim loại nặng

trong đồ chơi phổ biến trên thị trường Việt

Nam tương đối thiếu Bước đầu đánh giá sự

hiện diện của kim loại ở một số đồ chơi với

các dạng vật liệu khác nhau, từ đó xác định

nguồn phát sinh đã được thực hiện ở trong

nghiên cứu này

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

41 mẫu đồ chơi làm từ các loại vật liệu như

nhựa, kim loại và giấy với các màu sắc khác

nhau được lựa chọn làm đối tượng nghiên cứu

Các đồ chơi này có xuất xứ từ Trung Quốc,

mới, được thu thập trên địa bàn Hà Nội

Phân tích và xử lý mẫu

Các mẫu đồ chơi được xử lý khác nhau tùy

theo vật liệu làm đồ chơi theo hướng dẫn

trong TCVN 6238-3:2011 Các mẫu đồ chơi

được làm sạch, để khô tự nhiên và giảm kích

thước bằng bàn cắt, máy cắt Retsch MS 2000,

kéo sao cho kích thước nhỏ hơn 6mm Các

mẫu được bảo quản trong các túi plastic có

khóa trước khi được phân tích

Phân tích tổng hàm lượng kim loại trong mẫu

sử dụng kỹ thuật phá mẫu bằng lò phá mẫu vi

sóng (nhãn hiệu ETHOS 900) trước khi được

phân tích bằng máy Quang phổ phát xạ

Plasma ICP-MS theo phương pháp 200.8 của

US-EPA

QA/QC

Dung dịch chuẩn thêm vào trên nền mẫu đồ

chơi và chất nội chuẩn được sử dụng để đánh

giá độ ảnh hưởng của nền mẫu cũng như xác

định độ thu hồi Mức độ thu hồi của 8 kim

loại (As, Cd, Pb, Cu, Zn, Mn, Ni, Cr) nằm

trong khoảng 91.9%-109.2% Thông qua độ

thu hồi của phương pháp và sử dụng hệ số

hiệu chỉnh để xử lý số liệu

Đường chuẩn được xây dựng tuyến tính với

hệ số tương quan r2 > 0.999

Mẫu phân tích lặp lại 3 lần với độ lệch chuẩn tưởng đối không vượt quá 10% giữa các lần đo Giá trị giới hạn định lượng (LOQ) được xác định cho các kim loại cụ thể: As, Cd, Pb là 1ppb; Cu và Zn là 10ppb, Ni là 1ppb và Cr

là 5ppb

Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu được tổng hợp, phân tích và xử lý bằng phần mềm SPSS IBM 20 theo kỹ thuật phân tích thành phần chính (CPA)

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Hàm lượng kim loại trong đồ chơi vật liệu nhựa

Kết quả phân tích các mẫu đồ chơi nhựa được

mô tả thống kê ở bảng 1 Các mẫu phân tích đều hiện diện các kim loại As, Cd, Pb, Cu,

Zn, Mn, Ni và Cr với khoảng hàm lượng khá rộng tương ứng lần lượt là 1.84 – 30, 0.27 – 86.48, 0.86 – 440.45, 2.35 – 642.69, 22.71 – 7752.69, 9.68 – 188.33, 9.11 – 210.09 và 17.45 – 303.04 mg/kg với giá trị trung bình tương ứng là 9.90, 3.58, 16.21, 98.50, 742.48, 46.69, 54.12, 99.21 mg/kg Sự biến thiên hàm lượng kim loại của các mẫu phân tích là

do sự khác nhau về màu sắc, dạng đồ chơi được lựa chọn nghiên cứu Sự xuất hiện đa dạng các kim loại trong đồ chơi nhựa được giải thích là do Pb và Cd được sử dụng tạo màu và ổn định nhiệt cho vật liệu nhựa [12],

Cr ngoài việc tạo màu còn được sử dụng để

mạ bảo vệ bề mặt vật liệu [9,10] Zn được sử dụng phổ biến hiện nay để ổn định cậu trúc nhựa, phụ gia chống cháy cho vật liệu nhựa

và tăng thời gian phát sáng màu khi kết hợp với Cu [8,12] Bên cạnh đó, As cũng được sử dụng làm chất tạo màu [9] Hàm lượng tổng trung bình của các kim loại có xu hướng tăng dần theo thứ tự Cd< As< Pb< Mn< Ni< Cu< Cr< Zn Trong đó, Zn là kim loại có giá trị trung bình lớn nhất còn Cd là bé nhất Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu này tương đồng đối với Zn nhưng khác biệt đối với Pb và Cd khi

so sánh với ngiên cứu tại Nigeria năm 2010 đối với đồ chơi nhựa nhập khẩu từ Trung Quốc [11] Sự khác biệt này có thể là do Pb

và Cd trước đây thường được sử dụng phổ biến như chất ổn định trong nhựa Tuy nhiên

Trang 3

hiện nay, Zn đã được sử dụng thay thế cho Pb

và Cd trong việc bảo vệ cấu trúc của nhựa

PVC, Pb được sử dụng như các chất tạo màu

và chất nhuộm bằng cách kết hợp với Cr [12]

nên hàm lượng Pb và Cd có xu thế giảm đi,

Zn và Cr có xu thế tăng Zn được sử dụng

trong đồ chơi nhựa dưới dạng kẽm borate

hoặc kẽm omadin [8] Trong các mẫu phân

tích có 20 mẫu có hàm lượng kim loại có hàm

lượng Cr vượt giới hạn quy định trong TCVN

6238-3:2011 Bởi vì Cr được sử dụng khá phổ

biến để làm chất tạo màu trong các vật liệu

nhựa Một số chất tạo màu từ Cr là chì

sulphochromate Pb(Cr,S)O4 và chì chromate

molybdate sulphate Pb(Cr,S,Mo)O4 tạo nên

các màu sắc vàng và đỏ [13] Đặc biệt với hai

mẫu đồ chơi dạ quang có hàm lượng kẽm

(Zn) và đồng (Cu) là rất lớn Điều này là do

ngoài chức năng làm chất ổn định, chất tạo

màu (vàng và xanh lá nhạt, người ta còn sử

dụng sulphate kẽm ZnS làm chất nền và có

thêm đồng để giúp gia tăng thời gian phát

sáng [5] Hàm lượng kim loại trong các mẫu

phân tích có màu tươi sáng (màu xanh, vàng,

hồng) có xu hướng lớn hơn so với các mẫu

phân tích có màu đậm và tối (đen, nâu và đỏ)

Hàm lượng kim loại trong các mẫu đồ chơi

kim loại

Kết quả phân tích hàm lượng kim loại trong

các mẫu đồ chơi bằng kim loại trong bảng 1

cho thấy rằng, hầu hết các đồ chơi đều xuất

hiện các kim loại với hàm lượng khác nhau

Hàm lượng của As (16 -99.38 mg/kg); Cd

(0.59-10.88 mg/kg); Pb (18.83-136.58

mg/kg); Cu (101.11-3088 mg/kg); Zn

(556.49-172777.78 mg/kg); Mn (127.62 –

4346.59 mg/kg); Ni (26.51- 266.07 mg/kg) và

Cr (129.40- 1237.22 mg/kg) biến thiên trong

các mẫu khảo sát Giá trị hàm lượng trung

bình của kim loại như As, Cd, Pb, Cu, Zn,

Mn, Ni, Cr lần lượt là 45.32, 3.86, 54.34,

934.53, 135064.43, 1070.54, 116.42, 614.20

mg/kg Đáng chú ý là Zn tồn tại trong các

mẫu đồ chơi kim loại với hàm lượng tương

đối cao Hàm lượng của As, Cd, Cr, Cu, Ni,

Pb and Mn trong các mẫu đồ chơi kim loại

trong nghiên cứu này cao hơn so với các đồ chơi trang sức kim loại ở Mỹ [7] Tương tự như với vật liệu nhựa, kim loại cũng được sử dụng như các chất tạo màu cho đồ chơi kim loại So sánh với giới hạn quy định trong TCVN 6238-3:2011, 5 mẫu đồ chơi đều cho tổng hàm lượng Cr vượt chuẩn Điều này có thể được lý giải do ngoài vai trò tạo màu, Zn

và Cr còn được sử dụng để mạ lên bề mặt các vật liệu kim loại khác, tạo ra các lớp phủ bảo

vệ và ngăn ngừa kim loại bị gỉ Cr là một kim loại cứng, giòn và có khả năng chống ăn mòn rất cao [8] Vì vậy, có thể nói các đồ chơi mạ kim loại sử dụng phổ biến của Cr và Zn dẫn đến hàm lượng Zn và Cr chiếm ưu thế trong các mẫu đồ chơi kim loại [5, 8,13]

Hàm lượng kim loại trong các mẫu đồ chơi giấy

Bảng 1 mô tả kết quả thống kê về hàm lượng các kim loại trong đồ chơi bằng giấy cho thấy rằng, các kim loại được khảo sát đều xuất hiện trong các mẫu đồ chơi với hàm lượng trung bình của các kim loại có xu hướng giảm dần theo xu thế Zn> Cr> Cu> Mn> Ni> Cd> Pb> As Đáng chú ý là hàm lượng Cr vượt chuẩn TCVN 6238-3:2011 trong 2 mẫu phân tích Bởi vì Cr được sử dụng khá phổ biến để làm chất tạo màu trong các đồ chơi giấy Kết quả phân tích được giữa các đồ chơi với vật liệu khác nhau tương đồng nhau Trong các kim loại phát hiện trong mẫu đồ chơi, hàm lượng trung bình của Zn là lớn nhất (538.36 mg/kg) Các kim loại có mặt trong giấy với vai trò như các chất phụ gia (chất tạo màu, chất kết dính…) Mỗi chất tạo màu được tạo

ra từ sự pha trộn của nhiều kim loại nặng khác nhau Tuy nhiên một số chất tạo màu (có chứa Zn) ngoài việc được sử dụng để cải thiện cấu trúc và bề mặt của giấy còn được sử dụng như chất độn và phủ cấu trúc dưới dạng kẽm oxide, kẽm sulphide hoặc lithopone (kết quả từ sự kết hợp giữa barium sulphate với kẽm sunphide) Các chất tạo màu của Zn và

Cd thường được thêm vào để tăng cường độ kết dính hoặc cải thiện chất lượng của giấy tái chế [6]

Trang 4

Phân tích mối tương quan giữa các kim

loại trong đồ chơi

Trong nghiên cứu này, kỹ thuật phân tích

thành phần chính (PCA) được thực hiện bằng

phần mềm thống kế SPSS IBM 20 để xác

định môi tương quan giữa các kim loại trong

các nhóm mẫu đồ chơi với các vật liệu khác

nhau (nhựa, giấy và kim loại) Kết quả phân

tích thống kế này được thể hiện ở bảng 3 Xác

định các thành phần chính dựa trên độ lớn của

các giá trị riêng (Eigen value) và giá trị phần

trăm tích lũy của phương sai (Accumulative)

Trong phân tích này, các thành phần chính

được xác định dựa trên giá trị riêng (eigen

value) lớn hơn 1 và các thành phần cần phải

mô tả được ít nhất 80% phần trăm tích tũy

phương sai [14]

Từ kết quả phân tích thống kê ở bảng 3 cho

thấy, các mẫu trong cả 3 dạng vật liệu đều xác

định được 8 thành phần với giá trị phần trăm

phương sai (variance) và giá trị riêng (eigen

value) khác nhau như F1, F2, F3, F4, F5, F6,

F7, F8 Tuy nhiên, nhóm đồ chơi bằng giấy

và kim loại có cùng một xu thế về mối tương

quan và cùng số lượng thành phần chính Cả

hai nhóm đều xác định 3 thành phần chính F1,

F2 và F3 có giá trị phần trăm phương sai lần

lượt là 43.58 %, 26.64 % và 25.12%, chiếm

95.35% tích lũy của phương sai và các giá trị

riêng lớn hơn 1 Kết quả xác định độ tập trung

của các biến theo không gian không gian

được biểu diễn ở hình 1 (a và c) Nhóm F1

bao gồm Cr, As, Mn Nhóm F2 bao gồm Cd

và Pb Nhóm F3 bao gồm Zn và Ni Điều này

có thể lý giải rằng, các kim loại thuộc cùng

nhóm có thể cùng một nguồn phát sinh như

Zn và Ni có thể cùng được sử dụng để ổn

định nhiệt Cr, As và Mn được sử dụng để tạo

màu Pb và Cd cùng sử dụng để giữ màu và

tăng độ ổn định về cấu trúc [8,12] Các kim

loại này có thể được sử dụng trong quá trình

sản xuất đồ chơi hoặc từ vật liệu tái chế Từ

kết quả thống kê chiết xuất từ bảng 2 và hình

1 (a, c), sẽ xây dựng mối tương quan giữa các

thông số trong mẫu và các thành phần chính được thể hiện ở phương trình như sau:

F1 = 0.95 Mn + 0.912 As + 0,912 Cr + 0.007 Cd + 0.369 Pb – 0.171 Ni – 0.477 Cu – 0.344 Zn F2 = -0.19 Mn + 0.32 As + 0.401 Cr + 0.994 Cd + 0.92 Pb – 0.197 Ni + 0.141 Cu – 0.47 Zn F3 = -0.10 Mn – 0.05 As + 0.37 Cr – 0.086 Cd – 0.35 Pb + 0.96 Ni - 0.780 Cu + 0.753 Zn Đối với nhóm đồ chơi bằng nhựa cũng được phân tích thống kê tương tự được thể hiện ở bảng 2 và mô phỏng độ tập trung của các biến theo không gian ở hình 1 (b) Tuy nhiên, kết quả có sự khác biệt về số lượng thành phần chính đối với nhóm đồ chơi bằng giấy và kim loại nhưng thành phần kim loại trong các nhóm có sự tương đồng Bốn thành phân chính F1, F2, F3 và F4 có giá trị phần trăm phương sai lần lượt là 25.18 %, 24.49 %, 15.94%, 14.04%, chiếm 79.67 % tích lũy của phương sai Nhóm F1 bao gồm Cu và Zn; Nhóm F2 bao gồm Cd và Pb; Nhóm F3 bao gồm As và Mn và Nhóm 4 gồm Cr Kết quả phân tích thống kế xác định thành phần chính (bảng 2) và độ tập trung của các biến theo không gian ở hình 1 (b) sẽ xây dựng mối tương quan giữa các thông số trong mẫu và các thành phần chính được thể hiện ở phương trình như sau:

F1 = 0.025 As – 0.073 Cd + 0.014 Pb + 0.858Cu + 0.938 Zn + 0.033 Mn + 0.456 Ni – 0.081 Cr

F2 = -0.041 As + 0.904 Cd + 0.905 Pb + 0.021 Cu - 0.095 Zn + 0.263 Mn + 0.039 Ni – 0.025 Cr

F3 = 0.894 As + 0.075 Cd + 0.105 Pb + 0.258

Cu – 0.111 Zn + 0.816 Mn – 0.155 Ni + 0.094 Cr F4 = -0.016 As - 0.036 Cd + 0.035 Pb + 0.191Cu - 0.109 Zn + 0.029 Mn + 0.585 Ni + 0.911Cr

KẾT LUẬN

41 mẫu đồ chơi gồm nhựa, kim loại và giấy trong nghiên cứu này đều phát hiện hàm lượng kim loại nặng (As, Cd, Pb, Cu, Zn, Mn,

Trang 5

Ni và Cr) với khoảng biến thiên lớn Trong đó

27 mẫu có hàm lượng Cr vượt giới hạn quy

định trong TCVN 6238 Hàm lượng các kim

loại trong nhóm đồ chơi vật liệu kim loại có

xu hướng lớn hơn so với các nhóm đồ chơi

vật liệu nhựa và giấy Phân tích mối tương

quan giữa các kim loại giữa các nhóm vật liệu

cho thấy nhóm (Zn và Ni) có thể được sử

dụng trong ổn định nhiệt, nhóm (Cr, As) được

ứng dụng tạo màu và nhóm (Pb,Cd) sử dụng

giữ màu và tăng sự ổn định về cấu trúc vật

liệu Tuy nhiên xu thế hiện nay khi Zn sẽ

được được thay thế bởi Pb, Cr được ứng dụng rộng rãi tạo màu đối với sản phẩm đồ chơi phát sáng nên Cr và Zn có xu thế chiếm ưu thế trong các mẫu đồ chơi Vì vậy, tiềm ẩn rủi

ro về sức khỏe đối với các kim loại trong các mẫu đồ chơi cần được kiểm soát chặt chẽ để bảo vệ sức khỏe đối với thế hệ tương lai

LỜI CẢM ƠN Tập thể tác giả xin chân thành

cảm ơn Trường ĐHBK Hà Nội và Viện KH&CN Môi Trường vì hỗ trợ tài chính và

cơ sở vật chất để chúng tôi hoàn thành nghiên cứu này

Bảng 1 Hàm lượng lượng kim loại trong các mẫu đồ chơi ở Hà nội trong nghiên cứu này (mg/kg) (n=41)

Đồ

chơi

Nhựa Max 30.0 25.72 44.45 642.69 7752.69 188.33 210.09 303.04

Mean 9.90 3.58 16.21 98.50 742.48 46.69 54.12 99.21

Độ lệch

chuẩn

Giấy Max 13.64 65.14 26.03 168.01 1250.05 185,57 184,46 696,34

Min 5.01 0.20 3.76 50.36 154.17 42.44 6.33 25.39 Mean 8.86 22.80 12.53 130.01 538.36 105.81 76.24 289.34

Độ lệch

chuẩn

4.16 11.24 11.07 15.06 10.03 7.33 5.4 8.5

Kim

loại

Max 99.38 10.88 136.58 3088.59 172777.78 4346.59 266.07 1237.22 Min 16.00 0.59 18.83 101.11 556.49 127.62 26.51 129.40 Mean 45.32 3.86 54.34 934.53 135064.43 1070.54 116.42 614.20

Đô lệch

chuẩn

TCVN

6238-3:2011

Bảng 2 Hàm lượng lượng kim loại trong các mẫu đồ chơi vật liệu nhựa trên thế giới (mg/kg)

Nghiên cứu/

Tài liệu tham khảo

Hàm lượng (Đơn vị: mg/kg)

0.37-21.11

0.37-21.11 -

Bắc Mỹ [7]

1.04-207

0.06-771

0.88-76.5

0.02-13.7

0.3-22.3

0.18-329

0.01-0.11

0.29‐

1.12 -

0.12-1.11

0.99-1.07

0.25-1.09

0.22-1.04 Nigeria [11] -

0.5-373.33

2.5-1445

12 -93.67

266.6-20043.3

6.17-36.67

31.17-119.67

5.00-191.67

Trang 6

Bảng 3 Kết quả phân tích thống kê để xác định thành phần chính cho các kim loại trong đồ chơi

Đồ chơi bằng kim loại Eigenvalue 3.487 2.132 2.010 0.372 3.552E-16 6.398E-19 -2.144E-16 -1.354E-15 Variance (%) 43.581 26.649 25.120 4.650 4.440E-15 7.998E-18 -2.680E-15 -1.692E-14 Cumulative (%) 43.581 70.230 95.350 100.000 100.000 100.000 100.000 100.000

Đồ chơi bằng nhựa

Variance (%) 25.185 24.492 15.947 14.045 8.954 5.506 3.933 1.938 Cumulative (%) 25.185 49.677 65.625 80.670 88.624 94.130 98.062 100.000

Đồ chơi bằng giấy Eigenvalue 3.487 2.132 2.010 0.372 3.552E-16 6.398E-19 -2.144E-16 -1.354E-15 Variance (%) 43.581 26.649 25.120 4.650 4.440E-15 7.998E-18 -2.680E-15 -1.692E-14 Cumulative (%) 43.581 70.230 95.350 100.000 100.000 100.000 100.000 100.000

Variance (%): Phần trăm của phương sai; Accumulative (%): Phần trăm tích lũy của phương sai

Hình 1 Component plot in rotated space a (Giấy), b (Nhựa), c (Kim loại)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Khoa học và Công nghệ (2013), Báo cáo tổng kết thanh tra diện rộng về đồ chơi trẻ em

2 Charehsaz M., Guven D., Bakanoglu A., Celik H., Ceyhan R., Demir E (2014), “Lead, Cadium, Arsenic and Nickel content of toy samples

marketed in Turkey”, Turkey Journal Pharmacy Science, 11, pp 263-268

3 David Walsh (2007), Millions of toxic toys recalled: The nightmarish reality of global capitalism The International Committee of the

Fourth International (ICFI)

4 Decharat S., Maneelo S., Chuchay S (2013),

“Assessment of lead levels in some children’s

plastic toys”, KKU Research Journal - Humanity and Social Science, 8(6), pp 026-033

5 George C Lisensky, Manish N Patel, and Megan L Reich (1996), “Experiments with Glow-in-the-Dark Toys: Kinetics of Doped ZnS Phosphorescence”, Journal of Chemical Education, 73(11), pp 1048-1055

6 Gulnur Mertoglu-Elmas (2017), “The Effect of Colorants on the Content of Heavy Metals in Recycled Corrugated Board Papers”,

BioResources, 12(2), pp 2690-2698

7 Mert G., Gerald J Z (2013), “Contamination

by ten harmful elements in toys and children’s jewelry bought on the North American Market”,

Journal of Environment Science & Technology, 47

(11), pp 5921–5930

8 Mutaz A., Ahmad A., Tharwat N., Ahmad A

Qutob (2014), “Determination of Different Trace Heavy Metals in Children’s Plastic Toys Imported

to the West Bank/Palestine by

ICP/MS-Environmental and Health Aspects”, Journal of Environmental Protection, 5, pp 1104-1110

9 Nassem A., Malik N., Firoj H., Signh A., Patel K., Khan R and Masihur R (2012), “Heavy metal assessment of leachates of some plastic toys purchased from districts of UP, India”,

International research journal of Environmental Sciences, 1, pp 32-36

Trang 7

10 Nick Lin-Hi, (2012) Study on the

international council of toy industries (ICTI) care

process University of Mannheim

11 Omolaoye J A., Uzairu A and Gimba C E,

(2010), “Heavy metal assessment of some soft

plastic toys imported into Nigeria from China”,

Journal of Environmental Chemistry and Toxicity,

2, pp 126-130

12 Rajankar P., Sinha S., Sara B., Denney V.,

Clark S., (2013), “Lead in Idian’s enamel

household paints”, National report, pp 14-42

13 Scientific Committee Health and Environmental Risks, SCHER (2015), “Opinion

on Chromium VI in toys”, European Commission

14 Shi H., Vigneau-Callahan K., Shestopalov A., Mibury P., Matson W., Krista B., (2002),

“Characterization of diet-dependent metabolic serotypes: Proof of principle in female and male

rats” Journal of Nutrition, 132(5), pp 1031-1038

ABSTRACT

OCCURRENCE AND CORRELATION OF HEAVY METAL

IN CHILDREN’S TOY IN HANOI

Vo Thi Le Ha 1 , Nguyen Thi Thu Hang 2*

1 Hanoi University of Science and Technology, 2

University of Agriculture and Forestry - TNU

41 samples (paper, iron and plastic toys) were taken in Hanoi and analysied total concentration of heavy metal by ICP-MS Principal Component Analysis (PCA) was used to determine the correlation of heavy metal in toy samples The results showed that eight heavy metals were occured in all observed samples Paper and metal toys have three main components, whereas plastic toys have four main components, but the elements of main components were similar The positive correlation results revealed that, Zn and Ni can be used in thermal stabilization, whereas

Pb and Cd for endure the material structure

Keywords: Toys, Correlation, Heavy metal, CPA, ICP-MS

Ngày nhận bài: 08/9/2017; Ngày phản biện: 22/9/2017; Ngày duyệt đăng: 30/11/2017

* Tel: 0919 962586, Email: hangtnvn@tuaf.edu.vn

Ngày đăng: 15/01/2021, 02:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w