1. Trang chủ
  2. » Lịch sử lớp 12

HƯỚNG TỚI MỘT CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CỬ NHÂN SƯ PHẠM TIẾNG ANH DỰA TRÊN CÁC ĐỀ ÁN HỌC TẬP TRONG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH ỨNG DỤNG NGHỀ NGHIỆP

11 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề án học tập trong giáo dục đại học là kĩ thuật phát triển chương trình đào tạo nhằm đặt sinh viên vào trong các tình huống nghề nghiệp thực tiễn để thông qua đó [r]

Trang 2

T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ

SỐ ĐẶC BIỆT CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 10 NĂM THÀNH LẬP

KHOA NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN (2007 – 2017)

TS Lê Hồng Thắng - Bàn về dạy-học ngoại ngữ qua đề án dưới góc độ của giáo học pháp 3 Nguyễn Thị Như Nguyệt, Chu Thành Thúy - Đánh giá năng lực đầu ra tiếng Nga của sinh viên trình độ

A2-B1 theo khung tham chiếu chung châu Âu tại Khoa Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên 7 Nguyễn Thùy Linh - Kiểm tra đánh giá trong giảng dạy các môn đề án ngôn ngữ - một số chia sẻ từ thực tế 13

Vũ Thị Thanh Huệ - Nhận thức của sinh viên đối với khóa đọc mở rộng trực tuyến với sự trợ giúp của mạng xã

Mai Thị Thu Hân, Nguyễn Thị Liên, Hoàng Thị Tuyết, Dương Thị Ngọc Anh - Tăng cường tính tự học bằng

Dương Đức Minh, Dương Lan Hương - Nghiên cứu về sự tương tác giữa người thuyết trình và khán giả khi học

kỹ năng thuyết trình của sinh viên chuyên ngành tiếng Anh tại Khoa Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên 31 Phạm Thị Kim Uyên - Sử dụng nhật ký trong dạy biên dịch cho sinh viên chuyên ngữ Đại học Nha Trang 37

Lê Thị Hồng Phúc - Phản hồi của sinh viên về dự án TV show lấy điểm cuối kỳ trong khóa ngữ âm 43 Hán Thị Bích Ngọc - Dạy học ngoại ngữ bên ngoài lớp học - ứng dụng mạng xã hội facebook trong dạy và học

Nguyễn Ngọc Lưu Ly, Quách Thị Nga - Vài nét về việc sử dụng truyền thông đa phương tiện trong giảng dạy

tiếng Trung Quốc trình độ sơ cấp tại Khoa Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên 55

Lê Thị Hòa, Đậu Thị Mai Phương - Nâng cao kỹ năng thế kỷ 21 trong học tiếng Anh chuyên ngành thông qua

Nguyễn Thị Bích Ngọc, Trần Minh Thành - Phương pháp gia tăng hiệu quả của đề án tạp chí tiếng Anh trong

việc học viết cho sinh viên chuyên ngành tiếng Anh tại Khoa Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên 67 Hoàng Thị Huyền Trang, Nguyễn Thị Ngọc Anh - Phát triển khả năng đọc hiểu tiếng Anh cho sinh viên ngoại

ngữ thông qua các bài đọc có nội dung bao hàm yếu tố văn hóa phù hợp 73 Nguyễn Quốc Thủy, Nguyễn Thị Đoan Trang - Dạy - học ngoại ngữ qua đề án tạp chí tại trường Đại học Sư

Nguyễn Tuấn Anh - Thiết kế tổ chức dạy học môn báo chí trực tuyến theo hướng học ngôn ngữ qua dự án như

Đỗ Thị Sơn, Đỗ Thị Phượng - Nghiên cứu phân tích lỗi sai của sinh viên Khoa Ngoại ngữ - Đại học Thái

Nguyên khi dịch trực tiếp từ Hán Việt sang tiếng Trung Quốc và giải pháp khắc phục 91 Trần Đình Bình - Ứng dụng phương pháp dạy học qua dự án trong dạy học ngoại ngữ ở Việt Nam 97

Lê Thị Khánh Linh, Lê Thị Thu Trang - Phương tiện biểu đạt thái độ của người kể chuyện trong các chương

Đỗ Thanh Mai, Phùng Thị Thu Trang - Ứng dụng Moodle trong dạy và học trực tuyến học phần tin học đại

Mai Thị Ngọc Anh, Vi Thị Hoa, Phạm Hùng Thuyên - Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án trong giảng

dạy môn tiếng Trung du lịch tại Khoa Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên 117 Trần Thị Hạnh - Nhận thức của sinh viên về việc ứng dụng Edmodo như một công cụ phụ trợ trong học tập 123 Bùi Thị Ngọc Oanh - Cải thiện kỹ năng nói của sinh viên không chuyên trình độ A2 với dạy học qua đề án 129

Journal of Science and Technology

174 (14)

N¨m 2017

Trang 3

Nguyễn Hạnh Đào, Đinh Nữ Hà My - Nghiên cứu tình huống về những khó khăn với người học và điều cần

lưu ý khi giảng dạy môn tiếng Anh chuyên ngành áp dụng phương pháp học qua dự án 135 Nguyễn Thị Kim Oanh - Sử dụng đường hướng học tập theo dự án cho môn học tiếng Anh chuyên ngành tại

Viện Ngoại ngữ, Đại học Bách Khoa Hà Nội: lợi ích, thách thức và đề xuất 141

Vũ Thị Kim Liên - Phát triển năng lực ngữ dụng của sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia

Đàm Minh Thủy - Tích hợp kỹ năng trong học ngoại ngữ thông qua dự án làm video “Tìm hiểu ảnh hưởng của

Nguyễn Thị Thu Hoài - Thực trạng thực tập giảng dạy tiếng Anh ở một số trường THPT tại thành phố Thái

Nguyễn Thị Ngọc Anh, Hoàng Huyền Trang - Khảo sát lỗi sai của sinh viên Trung Quốc khi học tiếng Việt

tại Khoa Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên và những đề xuất khắc phục 165 Quách Thị Nga, Đỗ Thị Thu Hiền - Những vấn đề tồn tại của giáo trình đối dịch Trung - Việt ở Việt Nam hiện

nay và giải pháp khắc phục (khảo sát tại Khoa Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên) 171 Phan Thanh Hải - Hướng tới một chương trình đào tạo cử nhân sư phạm tiếng Anh dựa trên các đề án học tập

Lê Vũ Quỳnh Nga, Lý Thị Hoàng Mến, Nguyễn Thị Thu Oanh - Nâng cao chất lượng bài dịch của sinh viên

Khoa Ngoại ngữ - ĐHTN thông qua việc áp dụng phương pháp học tập hợp tác 183 Đoàn Thị Thu Phương - Phong cách học ngoại ngữ của học sinh lớp 11, Nam Định 189 Đinh Thị Liên, Nguyễn Thị Ngọc Anh - Hệ thống biểu tượng trong Then Tày 197

Trang 4

Phan Thanh Hải Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 174(14): 177-182

177

HƯỚNG TỚI MỘT CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CỬ NHÂN SƯ PHẠM

TIẾNG ANH DỰA TRÊN CÁC ĐỀ ÁN HỌC TẬP TRONG ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH ỨNG DỤNG NGHỀ NGHIỆP

Phan Thanh Hải*

Trường Đại học Sư phạm – ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Cách tiếp cận POHE (Profession Oriented Higher Education) trong đào tạo bậc đại học nhấn mạnh thực hành ứng dụng, học thông qua làm và định hướng thực tập nghề nghiệp rõ rệt Đề án học tập trong giáo dục đại học là kĩ thuật phát triển chương trình đào tạo nhằm đặt sinh viên vào trong các tình huống nghề nghiệp thực tiễn để thông qua đó họ khám phá tri thức, phát triển kĩ năng và hình thành thái độ phù hợp đối với thực tiễn nghề nghiệp tương lai của mình Một chương trình chủ yếu dựa trên các đề án học tập quy mô vừa và lớn là một chương trình tốt để đào tạo Cử nhân Sư phạm tiếng Anh theo định hướng POHE Tuy nhiên, điều kiện hiện tại ở một số trường đại học Việt Nam cần một số thay đổi để

có thể triển khai được một chương trình như thế Bài viết sẽ trình bày các phân tích lý thuyết cùng dẫn chứng thực tiễn tại trường Đại học Sư phạm – ĐH Thái Nguyên như một góc nhìn về khả năng phát triển cũng như những khuyến nghị cụ thể về điều kiện thực hiện loại chương trình đào tạo này

Từ khoá: POHE; Đề án học tập; Chương trình đào tạo; Sư phạm tiếng Anh; Việt Nam

Cách đây chưa lâu, người ta vẫn nhìn nhận

công tác đào tạo giáo viên tiếng Anh là còn

rất yếu kém: nhiều sinh viên ra trường bị gọi

là “câm”, “điếc” tiếng Anh [1], [2]; chưa làm

việc được ngay theo yêu cầu của vị trí công

việc Năng lực phát triển nghề nghiệp dường

như bị bỏ ngỏ: một số thống kê gần đây cho

thấy nhiều giáo viên tiếng Anh vẫn chưa đạt

chuẩn [3]

Gần đây Bộ GD&ĐT đưa ra chuẩn năng lực

sử dụng tiếng Anh (CNL SDTA) đối với Cử

nhân Sư phạm tiếng Anh, nhưng bằng cách

nào để sinh viên tốt nghiệp đạt CNL SDTA

tương đương với bậc 5 trong khung năng lực

sử dụng ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam

(KNL SDNN Việt Nam), nhất là khi đầu vào

yếu kém, thì dường như các trường vẫn cứ

loay hoay Bên cạnh đó, việc hình thành thái

độ phù hợp - một trong ba hợp phần đầu ra

của các chương trình đào tạo giáo viên tiếng

Anh ngày càng được nhìn nhận có tầm quan

trọng lớn hơn đối với sự phát triển nghề

nghiệp - là rất khó và dường như cũng chưa

có giải pháp thỏa đáng trong các chương trình

đào tạo

*

Tel: 0904977678; Email: haiknn@gmail.com

Cách tiếp cận chương trình theo định hướng thực hành ứng dụng nghề nghiệp (gọi tắt là POHE, theo tên tiếng Anh của cách tiếp cận này) nhằm bảo đảm sinh viên ra trường làm việc được ngay POHE nhấn mạnh thực hành trong quá trình đào tạo, thúc đẩy thực tập nghề nghiệp sớm và nhiều, sử dụng phương pháp dạy học dựa trên dự án, theo triết lý học thông qua làm, học qua trải nghiệm

Tuy nhiên, vẫn có những điểm yếu bộc lộ trong thực tế thực hiện: Thái độ của người học vẫn chưa được hình thành tốt như mong đợi, dạy học dựa trên dự án vẫn chưa vận dụng triệt để tinh thần của phương pháp này, phần thực hành thực tập ở thực địa của sinh viên chưa được tăng cường đủ nhiều và chưa đạt chất lượng cao

Bài báo đề xuất mô hình Chương trình chủ yếu dựa trên đề án học tập quy mô vừa và lớn (gọi tắt là Chương trình đề xuất) như một chương trình tốt để đào tạo cử nhân sư phạm tiếng Anh, đáp ứng tầm nhìn phát triển cho tương lai với những xu hướng đang nổi hiện nay Trong phần tiếp theo của bài báo, tác giả phân tích những yêu cầu mới cùng những hạn chế của mô hình hiện tại Kế đến, tác giả trình bày những điểm mạnh của mô hình mới Cuối cùng, tác giả nhận định một số khó khăn có thể gặp phải để đưa ra những khuyến nghị

Trang 5

Phan Thanh Hải Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 174(14): 177-182

thay đổi về phía nhà trường và các cấp quản

lý cao hơn

NỘI DUNG

Những yêu cầu mới đối với đào tạo giáo

viên tiếng Anh

- Yêu cầu về năng lực đáp ứng nhu cầu của

nhà tuyển dụng Theo một khảo sát được

công bố năm 2011: 42% cử nhân ra trường ở

Việt Nam không đáp ứng được yêu cầu của

nhà tuyển dụng [1]

Cử nhân ngoại ngữ, như một bài báo đăng trên

báo điện tử dantri.vn ngày 15/05/2006, phản

ánh: 50% không thể giao tiếp nói bằng ngoại

ngữ, 40% không thể nghe hiểu bằng ngoại ngữ)

[2] Một thống kê của Bộ GD&ĐT dẫn trên báo

Lao động ngày 28/02/2016: 50% giáo viên tiếng

Anh tiểu học, 63,29% bậc THCS và 73,88%

cấp THPT chưa đạt chuẩn [3]

- Yêu cầu về phân tầng hệ thống trường đại

học Chính phủ chủ trương phân tầng các

trường trong hệ thống đại học Việt Nam: đến

năm 2020 chỉ một số ít trường theo định

hướng nghiên cứu, trong khi 70 - 80% tổng số

sinh viên sẽ theo học các chương trình nghề

nghiệp - ứng dụng Các trường đại học sư

phạm được cho là sẽ theo định hướng thực

hành ứng dụng [4], [5]

- Yêu cầu về đặc tính thực hành ứng dụng

cao trong các chương trình POHE Hiện

nay, các Chương trình đào tạo của Trường

Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên

(ĐHTN) đều đã được chuyển đổi theo định

hướng POHE Chương trình POHE đòi hỏi ít

nhất 50% thời lượng đào tạo là các hoạt động

có tính thực hành ứng dụng Mối quan hệ với

công giới được chú trọng phát triển mạnh

hướng tới tạo điều kiện để sinh viên thực

hành, thực tập tại thực địa nhiều và sớm [6]

- Yêu cầu về năng lực nghề nghiệp cao hơn

nhiều đối với cử nhân sư phạm Sinh viên sư

phạm khi ra trường cần phải trở thành các

“chuyên gia giáo dục” chứ không chỉ đơn

thuần là “người dạy” [7], nghĩa là cần hiểu rõ

triết lý giáo dục và những vấn đề thuộc về lí

luận để có thể làm tốt công tác giáo dục Đòi

hỏi đặt ra là sinh viên sư phạm phải có được

thay đổi lớn về tư duy, phát triển thói quen tự

học/nghiên cứu, có thái độ đúng đắn, lòng say

mê đối với nghề và năng lực tự bồi dưỡng để phát triển nghề nghiệp

- Yêu cầu về đầu ra (năng lực sử dụng tiếng Anh) cho chương trình đào tạo Cử nhân sư phạm tiếng Anh Sinh viên tốt nghiệp ngành

Cử nhân sư phạm tiếng Anh cần đạt CNL SDTA tương đương bậc 5 trong KNL SDNN Việt Nam [8] Trong bối cảnh thực tế tuyển sinh đầu vào, sinh viên của Đại học Thái Nguyên nói chung có xuất phát điểm thấp về năng lực sử dụng tiếng Anh thì để đạt được chuẩn đầu ra như vậy đòi hỏi một cách tiếp cận học tập rèn luyện khác trước nhiều Những hạn chế của Chương trình đào tạo tiếng Anh hiện tại

Trong mô hình hiện hành, các sinh viên chủ yếu được theo các học phần/môn học (gọi chung là môn học) Bên cạnh ba học phần thực hành sư phạm và hai học phần thực tập

sư phạm, có tới 40-44 môn học

Thời lượng thực hành (gồm thảo luận, seminar, thực hành, bài tập, đề án, thực tế chuyên môn) trong các môn học theo quy chế đào tạo chiếm ít nhất 50% thời lượng, và cần phải hai (02) giờ thực hành mới quy chuẩn được thành 1 giờ chuẩn (Ví dụ một môn học

có thời lượng 45 giờ học chuẩn sẽ được thực hiện trong ít nhất là 68 giờ học nói chung) Với mỗi môn học lại có thể có 1-2 hoạt động

đề án học tập hoặc tương tự, các sinh viên phải tiêu tốn nhiều thời gian tham gia nhiều nhóm học tập Điều này tiềm ẩn sự xung đột đáng kể giữa quỹ thời gian cố định của sinh viên và rất nhiều hoạt động học tập, chủ yếu được thực hiện trong môi trường lớp học Điều đó có thể dẫn đến sự thiếu chiều sâu trong hoạt động học tập nói chung và đề án học tập nói riêng Do sinh viên phải học trung bình khoảng sáu môn học trong một học kỳ với nhiều hoạt động đòi hỏi nhiều thời gian chuẩn bị ngoài giờ học trên lớp (bao gồm cả các đề án học tập) nên câu hỏi: “liệu rằng các

đề án học tập có thực sự đạt được chất lượng hiệu quả như kỳ vọng của các nhà phát triển chương trình hay không?” là hoàn toàn đáng đặt ra Một số nhà nghiên cứu đã tìm hiểu về thách thức giữa thời gian phải bỏ ra để học

Trang 6

Phan Thanh Hải Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 174(14): 177-182

179

theo các đề án học tập và yêu cầu về thời gian

dành cho các môn học khác của sinh viên

Theo Ribeiro và Mizukami, các đề án học tập

đòi hỏi sự tiêu tốn thời gian đáng kể so với

các phương pháp học truyền thống và rất

nhiều khi cả sinh viên lẫn giáo viên không thể

giải quyết được mâu thuẫn về mặt thời gian

này [9], khiến cho những ưu điểm của

phương pháp học tập này bị đe dọa không thể

phát huy được (thậm chí, các đề án còn trở

thành gánh nặng không có mấy tác dụng)

Hiện tượng các sinh viên chưa coi trọng đề án

trong môn học là có thể thấy rõ Một nguyên

nhân là do sinh viên chưa thấy được vai trò

của đề án học tập đối với việc chiếm lĩnh kiến

thức ở cấp độ cao, đóng góp hình thành các kĩ

năng cũng như định hình những thái độ phù

hợp đối với nghề nghiệp tương lai Sinh viên

chưa thể nhìn ra được vị trí của các đề án học

tập trong hệ thống đào tạo khi mà các đề án

học tập chỉ là một phần nhỏ trong một đơn vị

học tập nhỏ là một môn học trong số 6-7 môn

học trong một học kỳ Các đề án học tập trong

chương trình hiện hành đã không phát huy

được đúng tác dụng như theo lý thuyết

Yêu cầu phát triển thái độ - một yêu cầu rất

quan trọng của chương trình đào tạo cử nhân

sư phạm - chưa được giải quyết tốt Trong

phát triển chương trình đào tạo, yêu cầu phát

triển thái độ của người học là một trong

những thách thức lớn đòi hỏi các nhà phát

triển chương trình phải tính toán rất kĩ, tìm ra

những phương cách khả thi Như đã đề cập

bên trên, theo yêu cầu, sinh viên sư phạm khi

ra trường cần phải trở thành các “chuyên gia

giáo dục” – họ cần hiểu rõ triết lý giáo dục và

những vấn đề thuộc về lí luận, cần ý thức sâu

sắc được yêu cầu phát triển nghề nghiệp cũng

như nhiều phẩm chất khác dựa trên nền tảng

thái độ phù hợp đã được hình thành từ trong

quá trình đào tạo ở trường đại học sư phạm

Việc thực hành nhiều ở trường phổ thông, gắn

kết hữu hiệu việc tiếp thụ lý thuyết trong lớp

học với quá trình tự đào tạo của sinh viên

thông qua các trải nghiệm thực tế gặp nhiều

khó khăn Như đã chỉ ra bên trên: các sinh viên

phải học 40-44 môn học với rất nhiều hoạt

động học tập được thực hiện trong môi trường

lớp học (đòi hỏi dự lớp trên giảng đường trường đại học) Trong khi đó, để có thể tăng cường thực hành, thực tập thì lẽ ra sinh viên phải dành được nhiều thời gian ở các trường phổ thông một cách thường xuyên, đều đặn trong suốt thời gian đào tạo chứ không chỉ là

ba học phần thực hành sư phạm và hai học phần thực tập sư phạm như hiện tại

Những điểm mạnh của Chương trình đào tạo đề xuất

Chương trình đề xuất là chương trình đào tạo dựa trên các đề án học tập quy mô vừa và lớn Trong chương trình đề xuất, số lượng các môn học được giảm thiểu xuống còn 12-15 môn (chủ yếu là các môn thuộc khối kiến thức đại cương) Phần các môn học còn lại như trong chương trình hiện hành được tổ chức lại thành các đề án học tập quy mô vừa

và lớn sao cho vẫn đáp ứng được yêu cầu tích lũy kiến thức, rèn kĩ năng và phát triển thái độ cần thiết cho ngành đào tạo Các đề án học tập quy mô vừa và lớn là những đề án học tập tích hợp được nội dung kiến thức của nhiều môn học và thường là có thời gian lớn hơn một kì học Chương trình đề xuất giúp khắc phục được các hạn chế đã chỉ ra bên trên, hướng tới một chương trình hiệu quả để đào tạo cử nhân sư phạm tiếng Anh theo định hướng POHE

Thứ nhất, mô hình tổ chức này hứa hẹn tăng chất lượng học tập Với chỉ khoảng 2-3 đề án họp tập cho một học kì hoặc 4-5 đề án cho một năm thì ít nhất về mặt kĩ thuật sinh viên chỉ phải tham gia 4-6 nhóm trong suốt một năm Việc này tạo ra sự ổn định về nhóm; sinh viên thuận tiện trong việc sắp xếp lịch cá nhân do giảm được gánh nặng về thời lượng học tập trên lớp trong mô hình truyền thống vốn đòi hỏi nhiều hoạt động giáp mặt như tổ chức nhóm học tập, làm việc chung và điều phối trong nhiều nhóm theo nhiều môn học

Họ sẽ dành được nhiều thời gian đào sâu kiến thức qua việc hoạt động tự học dựa trên tốc

độ, phong cách học cá nhân với thời gian biểu

đã được cá nhân hóa nhiều hơn Tri thức nhóm cũng được hệ thống tốt hơn qua quá trình đủ dài như vậy

Trang 7

Phan Thanh Hải Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 174(14): 177-182

Thứ hai, cách tổ chức học tập như vậy đảm

bảo tốt hơn cho đặc tính thực hành ứng dụng

nghề nghiệp của định hướng POHE Do đặc

thù của ngành sư phạm, phòng thực hành thí

nghiệm chính là các trường phổ thông nên

“thực hành” nghĩa là sinh viên tham gia các

hoạt động tại trường phổ thông Cách tổ chức

học tập với ít thời gian trên giảng đường đại

học cho phép sinh viên có thể tham gia hoạt

động ở trường phổ thông trong một khoảng

thời gian đều đặn và nhiều đáng kể

Thứ ba, những tiền đề trên tạo thuận lợi để

phát triển thái độ đúng đắn đối với nghề

nghiệp tương lai cho sinh viên sư phạm Về

mặt chuyên môn dạy học ngoại ngữ, việc thực

tiễn quan sát, thực hành giúp chiêm nghiệm,

soi chiếu thứ ánh sáng thực tế lên những vấn

đề lý thuyết thụ đắc ngôn ngữ đã được trình

bày trong các tài liệu, vv sẽ giúp cho sinh

viên sư phạm tiếng Anh có được thái độ phê

phán tốt hơn Về mặt nghiệp vụ sư phạm, việc

nhúng mình vào môi trường tiếp xúc với học

sinh sẽ nuôi dưỡng cảm xúc, lòng say mê

cùng ý thức trau dồi rèn tập để trở thành một

người giáo viên giỏi giúp ích cho việc học của

học sinh

Thêm nữa, những tác động về mặt đổi mới

phương pháp giảng dạy cũng được tạo điều

kiện hình thành Nhà nghiên cứu giáo dục

Lortie đã đưa ra khái niệm “trải nghiệm làm

giáo viên từ lúc còn là học sinh [tác giả

dịch]” (apprenticeship of observation) và chỉ

ra rằng hiệu quả của việc đào tạo ban đầu

trong các trường sư phạm đối với phương

pháp giảng dạy của giáo viên là rất hạn chế

[10] Chính việc quan sát công việc của giáo

viên dưới con mắt của giáo sinh (chứ không

phải học sinh) mới có tác dụng khiến các

giáo viên tương lai ứng dụng các thành tựu

đổi mới phương pháp cho quá trình giảng

dạy của mình Ở một khía cạnh khác, chính

khoảng thời gian trải nghiệm thực tiễn

trường phổ thông đủ dài trong khi vẫn còn

đang là giáo sinh sẽ giúp họ bắt vào được

thực hành nghiên cứu cải tiến (action

research) - một hoạt động hiện vẫn còn chưa

được triển khai tốt ở các trường phổ thông

ngay cả khi các cấp quản lý đã tìm nhiều

cách cổ vũ Sự tham gia tương đối sâu và nhiệt tình của các giáo sinh trong những hoạt động chuyên môn cũng có thể có những tác động nhất định tới hoạt động sinh hoạt chuyên môn của các giáo viên phổ thông - một hoạt động được nhiều người nhận định

là còn bị sao nhãng hoặc nhiều tính hình thức trong thực tiễn ở các trường phổ thông Thứ tư, chương trình đề xuất có thể gợi mở một hướng giải quyết yêu cầu phát triển năng lực sử dụng tiếng Anh đạt CNL SDTA tương đương bậc 5 trong KNL SDNN Việt Nam của

cử nhân sư phạm tiếng Anh Yêu cầu về chuẩn đầu ra năng lực tiếng Anh nói trên, trong bối cảnh tuyển sinh những năm gần đây của ngành sư phạm tiếng Anh ở khu vực miền núi phía Bắc không thể chọn được những học sinh giỏi nhất, đòi hỏi những hướng tiếp cận học tập rèn luyện khác với các thực hành vẫn thường được áp dụng trong nhiều năm qua - vốn vẫn được một số người coi là thiếu hiệu quả Việc cấu trúc các hoạt động nâng cao năng lực sử dụng tiếng Anh theo một đề án quy mô lớn dường như có thể đáp ứng một số đặc điểm yêu cầu của việc học tiếng Anh theo nhóm nhỏ trong một bối cảnh thực tế ở không gian lớn hơn lớp học truyền thống

Những khó khăn, rào cản trong việc thực hiện Chương trình đào tạo đề xuất

- Quy chế đào tạo hiện hành: Với học chế tín

chỉ, trong đó quy định về số lượng tín chỉ của chương trình không dưới 120 Một tín chỉ được quy định bằng: 15 tiết học lý thuyết hoặc 30 - 45 tiết thực hành, thí nghiệm, thảo luận hoặc 45 - 90 giờ thực tập tại cơ sở, hoặc

45 - 60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ

án, khóa luận tốt nghiệp thì không dễ để các trường thiết kế một chương trình theo hướng

đề xuất Giải pháp cụ thể cần được các trường tính toán kĩ thêm

- Công tác quản lý đào tạo tại các trường đại học: Công tác quản lý đào tạo trong trường

đại học cũng cần thay đổi để tạo thuận lợi cho việc triển khai chương trình đề xuất Do đặc thù chương trình: sinh viên có độ cơ động cao, việc giảm mục tiêu kiến thức tăng mục tiêu thái độ, cùng việc tăng sự tham gia và tầm ảnh hưởng của công giới vào trong quá

Trang 8

Phan Thanh Hải Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 174(14): 177-182

181

trình đào tạo nên công tác quản lý đào tạo tại

trường đại học sẽ phải có sự điều chỉnh lớn

- Tính cam kết cao của những người phát

triển chương trình:

Vì ở cấp độ chương trình nên các đề án học

tập cần được thiết kế kĩ lưỡng và khéo léo

cùng những tài liệu, công cụ hỗ trợ đầy đủ

Việc đó đòi hỏi những người phát triển

chương trình nắm rất chắc “tinh túy” của

phương pháp dạy học dựa trên đề án cũng

như những kết quả đầu ra quan trọng nhất của

chương trình đào tạo Quá trình phát triển

chương trình, do vậy, cần được thực hiện với

sự đầu tư nhiều thời gian, công sức, chuyên

môn từ những người phát triển chương trình

Lưu ý rằng “những người phát triển chương

trình” hàm ý chỉ cả các giảng viên - những

người sẽ triển khai chương trình, hướng dẫn

sinh viên thực hiện các đề án học tập - chứ

không phải chỉ một nhóm nhỏ những người

làm việc chuyên biệt với chức năng “thiết kế

chương trình”

- Chương trình đào tạo 2 giai đoạn và đào

tạo giáo viên tại thực địa

Tháng 2/2017, đại học FPT công bố chương

trình đào tạo Kỹ sư thực hành Fast Track SE,

chương trình được xem là mới mẻ và khác

biệt [12]

Tháng 1/2016, trang web của The Hechinger

Report đăng tải bài báo về kế hoạch “đào tạo

giáo viên tại thực địa” như một phần của

chương trình học trực tuyến mới lấy bằng

thạc sĩ tại trường Steinhardt School của Đại

học New York [13]

Các ví dụ trên cho thấy khả năng có một

chương trình đào tạo định hướng thực hành

nghề nghiệp có tính “đột phá”, thách thức mô

hình đào tạo 4 năm truyền thống và bó gọn

chủ yếu trong khuôn viên trường đại học Một

trong những nguồn tham khảo hữu ích về đào

tạo giáo viên tại thực địa (residency

programs) là trang web của Trung tâm Quốc

gia của các chương trình này ở Hoa Kỳ tại địa

chỉ https://nctresidencies.org/

KẾT LUẬN

Dạy học dựa trên dự án và chương trình đào

tạo POHE được áp dụng ở nhiều nơi, nhiều

ngành đào tạo trong những năm gần đây Những yêu cầu mới đối với đào tạo giáo viên tiếng Anh cũng đặt ra cho các nhà trường sư phạm có đào tạo ngành Cử nhân Sư phạm tiếng Anh nhiều thách thức khó giải quyết Dựa trên những nghiên cứu đã được công bố

và thực tiễn triển khai chuyển đổi chương trình đào tạo tại trường ĐHSP - ĐHTN sang

mô thức POHE, bài báo đề xuất một chương trình đào tạo Cử nhân Sư phạm tiếng Anh dựa chủ yếu trên những đề án học tập quy mô vừa

và lớn như một khả năng có thể giải quyết được những khó khăn thách thức đó

Từ những phân tích lý thuyết và minh họa qua một số kinh nghiệm thực tế, có thể thấy

mô hình này đem đến chất lượng học tập cao hơn, điều kiện thực hành thực tập nghề nghiệp tốt hơn, giải pháp hình thành thái độ của người học hữu hiệu hơn và gợi mở hướng cải tiến nâng cao năng lực sử dụng tiếng Anh đạt chuẩn

Một số thay đổi cần được thực hiện nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển, áp dụng mô hình chương trình đào tạo này Những thay đổi quan trọng nhất là văn bản quy định chương trình khung do Bộ GD&ĐT ban hành, năng lực quản lý đào tạo của trường đại học và chuyên môn, kinh nghiệm của những người phát triển chương trình

Hai ví dụ về phương thức đào tạo kết hợp (blended learning) được tác giả bài báo hi vọng cung cấp một góc nhìn mới về sự chuyển đổi trong cách thức phát triển chương trình đào tạo đáp ứng những yêu cầu mới của thời cuộc

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Hồng Hạnh (2011), ‘Sinh viên thất nghiệp do

thiếu định hướng nghề’, Báo điện tử Dân Trí, truy

cập ngày 31 tháng 7 năm 2017, <đường dẫn rút gọn: goo.gl/yKA8sT>

2 Âu Tâm, Đoan Trúc, Trà My (2006), ‘Cử nhân

ngoại ngữ: “Câm” 50%, “điếc” 40%?’, Báo điện

tử Vietnamnet, đăng lại trên báo điện tử Dantri,

truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2017, <đường dẫn rút gọn: goo.gl/qj7wTR>

3 Yến Anh (2016), ‘Hiếm giáo viên tiếng Anh đạt

chuẩn’, Báo điện tử Người Lao Động, truy cập

ngày 31 tháng 7 năm 2017, <đường dẫn rút gọn: goo.gl/H2xr9j>

Trang 9

Phan Thanh Hải Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 174(14): 177-182

4 Chính phủ (2005), Nghị quyết số

14/2005/NQ-CP ngày 02 tháng 11 năm 2005 về đổi mới cơ bản

và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn

2006 – 2020

5 BCHTƯ Đảng CSVN (2013), Nghị quyết số

29-NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn

bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu

cầu CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường

định hướng XHCN và hội nhập quốc tế

6 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Hướng dẫn xây

dựng và thực hiện chương trình giáo dục đại học

theo định hướng nghề nghiệp (POHE), Hà Nội

Tải về tại http://pohevn.grou.ps/home

7 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2015), Những vấn đề

chung về phát triển chương trình đào tạo giáo

viên (Tài liệu tập huấn cán bộ, giảng viên các cơ

sở đào tạo giáo viên phổ thông về phát triển

chương trình đào tạo), Tải về tại http://taphuan

hnue.edu.vn/

8 Đảng ủy Đại học Thái Nguyên (2013), Văn bản

số 38/BC/ĐU

9 Ribeiro, L R C., Mizukami, M G (2005), “An

experiment with PBL in higher education as

appraised by the teacher and students”, Interface -

Comunic., Saúde, Educ., 9(17), pp 357-368 Tải

về tại https://goo.gl/MiotLV

10 Lortie, D (1975), Schoolteacher: A sociological

study, Chicago: University of Chicago

11 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Quyết định

số 36/2004/QĐ-BGDDT ngày 25 tháng 10 năm 2004về việc ban hành bộ chương trình khung giáo dục đại học khối ngành ngoại ngữ trình độ đại học

12 FPT Corp (2017), FAST TRACK SE - Kỹ Sư

Thực Hành Phần Mềm FPT, Website chương trình

Fasttrack, truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2017,

<http://www.fasttrack.edu.vn/gioi-thieu/>

13 Nichole Dobo (2016), An experiment in

teacher training: More in-person fieldwork, but more online professional development, Website

Tổ chức The Hechinger Report, truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2017, <đường dẫn rút gọn: goo.gl/HNYQj6>

SUMMARY

TOWARD A PROJECT BASED LEARNING CURRICULUM FOR TEFL B.A

Phan Thanh Hai*

University of Education – TNU

A Profession Oriented Higher Education (POHE) curriculum features experiential learning and learning by doing, and profession practicum Projects in a training program curriculum put students in profession situations, through which they acquire knowledge, improve skills and shape proper professional attitudes A project-based POHE curriculum with big and medium size projects accounting for larger percentage of training time is more effective for a TEFL B.A program A typical Vietnamese university, however, needs some changes to become supportive

to the implementation of such a curriculum The article attempts theoretical reasoning, supported by a number of practices at Thai Nguyen University of Education, to provide a perspective as well as some provisional suggestions on the possibility of developing and implementing this type of curriculum

Keywords: POHE; Project-based; Curriculum; TEFL B.A, Vietnam

Ngày nhận bài: 15/10/2017; Ngày phản biện: 10/11/2017; Ngày duyệt đăng: 13/12/2017

*

Tel: 0904977678; Email: haiknn@gmail.com

Trang 10

soT T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ

SCHOOL OF FOREIGN LANGUAGES - TNU (2007-2017)

Nguyen Thi Nhu Nguyet, Chu Thanh Thuy - Students’ Output Competency Assessment in Using Russian

Language at Level A2-B1 on the Basis of Common European Framework of Reference at School of Foreign

Nguyen Thuy Linh - Evaluation and Assessment in Project-Based Learning - Some Practical Suggestions 13

Vu Thi Thanh Hue - Students’ Perception about an Online Extensive Reading Course with the Help of Edmodo 19 Mai Thi Thu Han, Nguyen Thi Lien, Hoang Thi Tuyet, Duong Thi Ngoc Anh - Fostering Learners’

Autonomy through Project Work in an ESP Class at Hoa Lu University: A Case Study 25 Duong Duc Minh, Duong Lan Huong - A Study on the Interaction between the Presenter and Audience in the

Presentation Skill for English Major Students at School of Foreign Languages - Thai Nguyen University 31 Pham Thi Kim Uyen - Use of Journals in Teaching Translation for English Major Students of Nha Trang University 37

Le Thi Hong Phuc - Students’ Responses to the TV Show Project as the End-of-Term Assessment in the

Han Thi Bich Ngoc - Teaching Outside the Classroom - Integrating Social Media into Innovative Language

Nguyen Ngoc Luu Ly, Quach Thi Nga - Some Features in Applying Multimedia Tools into Teaching

Elementary Chinese in School of Foreign Languages - Thai Nguyen University 55

Le Thi Hoa, Dau Thi Mai Phuong - Fostering the 21st Century Skills in Project-Based ESP Learning 61 Nguyen Thi Bich Ngoc, Tran Minh Thanh - Methods to Increase the English Magazine Project Power in the

Study of the English Written Language for English Major Students at School of Foreign Languages - Thai

Hoang Thi Huyen Trang, Nguyen Thi Ngoc Anh - Developing English Language Reading Comprehension

Nguyen Quoc Thuy, Nguyen Thi Doan Trang - Teaching Foreign Languages through Magazine Project at

Nguyen Tuan Anh - PBLL Course Development as a Way of Ensuring a Multidisciplinary Program 85

Do Thi Son, Do Thi Phuong - An Analysis of Students’ Errors at School of Foreign Languages, Thai Nguyen

University in Directly Translating from Sino-Vietnamese Words to Chinese and Solutions 91 Tran Dinh Binh - Application of Project-Based Learning in Language Teaching in Vietnam 97

Le Thi Khanh Linh, Le Thi Thu Trang- Evaluative Devices in Personal Narratives from American and

Do Thanh Mai, Phung Thi Thu Trang - The Application of Moodle in E-Learning and Teaching Informatics

Mai Thi Ngoc Anh, Vi Thi Hoa, Pham Hung Thuyen - Application of Project-Based Learning to the Teaching

of Chinese Excursion at School of Foreign Languages – Thai Nguyen University 117 Tran Thi Hanh - Students’ Perceptions on the Use of Edmodo as a Supplementary Tool in Learning 123 Bui Thi Ngoc Oanh - Using Project-Based Learning to Improve English Speaking Skills of Non-English Major

Journal of Science and Technology

174 (14)

N¨m 2017

Ngày đăng: 15/01/2021, 02:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w