Đánh giá kết quả nghiên cứu: thứ nhất ưu điểm về kiểm soát quản lý tại Minexport, (i)về môi trường kiểm soát, nhà quản trị cấp cao của Minexport đã có những thay đổi đáng[r]
Trang 1i
TÓM TẮT LUẬN VĂN Tính cấp thiết của đề tài
Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu của nhóm nhiên liệu, khoáng sản cả nước ước đạt 3,47 tỷ USD, giảm 29,2% so với năm 2015 Bên cạnh những nguyên nhân khách quan như chủ trương giảm xuất khẩu khoáng sản, giá khoảng sản có sự cạnh tranh gay gắt giữa các nước xuất khẩu thô thì vẫn tồn tại những nguyên nhân chủ quan, đặc biệt từ phía các doanh nghiệp Tuy có nguồn tài nguyên dồi dào nhưng thực tế cho thấy, giá trị các sản phẩm khoáng sản của nước ta thấp, chưa có sức cạnh tranh
Trong viễn cảnh kinh tế thế giới ngày càng mở cửa, các hiệp định về giao thương được ký kết càng nhiều, nguy cơ tụt hậu và mất sức cạnh tranh của các DN xuất nhập khẩu khoáng sản sẽ ngày càng rõ nét nếu DN không nhanh chóng tìm ra giải pháp phù hợp
Hiện nay, các DN xuất nhập khẩu, công cụ quản lý hữu hiệu này vẫn chưa được quan tâm và sử dụng đúng mức Các yếu tố cơ bản của KSNB như “môi trường kiểm soát”, “đánh giá rủi ro”, “hoạt động kiểm soát”, “hệ thống thông tin và truyền thông”, “giám sát” vẫn còn mờ nhạt và chưa tạo được dấu ấn rõ nét
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu về cơ sở lý thuyết về KSNB trong doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp xuất nhập khẩu nói riêng
Phân tích đánh giá thực KSNB trong Minexport, nêu ra những kết quả đạt được và những hạn chế
Đề xuất những giải pháp, những kiến nghị để có thể hoàn thiện KSNB trong hoạt động Minexport
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là thực trạng KSNB trong Công ty xuất nhập khẩu Minexport
Trang 2Kiểm soát nội bộ trong Công ty xuất nhập khẩu Minexport khoảng thời gian
từ năm 2014 đến năm 2016
Bố cục của luận văn
Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Thực trạng kiểm soát nội bộ trong Công ty xuất nhập khẩu Minexort Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu, các khuyến nghị và kết luận
Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu
Ở chương 1 trình bày về tính cấp thiết, lý do chọn đề tài thông qua tình hình kinh tế xã hội, những thuận lợi và khó khăn mà doanh nghiệp xuất nhập khẩu nói chung và công ty Minexport nói riêng từ đó chỉ ra cần phải hoàn thiện KSNB trong doanh nghiệp mà cụ thể trong bài viết là công ty Minexport
Trong chương này cũng đưa ra mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, và giới thiệu bố cục của bài luận văn
Chương 1 Cao học viên đã tổng hợp một số công trình nghiên cứu về KSNB trong và ngoài nước để có thể đúc kết được những kinh nghiệm cho bài luận văn của mình
Chương 2: Cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp
Để tồn tại và phát triển bền vững thì các doanh nghiệp cần có những công cụ quản lý hiệu quả và trong đó kiểm soát là một công cụ giúp cho nhà quản lý làm được điều đó Nhận thức được vấn đề đó, từ những năm đầu thế kỷ XX, các nhà kinh tế, khoa học đã đưa ra nhiều quan điểm và khái niệm về hoạt động kiểm soát trong doanh nghiệp tiêu biểu như quan điểm của Henry Fayol (1916), Anthony (2003) hay các nhà kinh tế trong nước như quan điểm của GS.TS Nguyễn Quang Quynh, PGS.TS Nguyễn Thị Phương Hoa hay trong Chuẩn mực kế toán Việt Nam
Trang 3iii
số 07 Đúc kết những kết quả nghiên cứu đó, Cao học viên cũng đưa ra quan điểm riêng về kiểm soát trong doanh nghiệp
Kiểm soát luôn giữ vai trò quan trọng trong quá trình quản lýtrong mọi hoạt động của DN và được thực hiện chủ yếu bởi KSNB trong doanh nghiệp.Một trong những định nghĩa đầu tiên về KSNB được Viện kế toán Hoa Kỳ đưa ra năm 1948, sau đó hàng loạt các quan điểm về KSNB của các nhà kinh tế, các tổ chức trong và ngoài nước đưa ra song chung lại thì KSNB là một công cụ quản lý quan trọng, không thể thiếu trong các DN Nhà quản lý phải chú ý tới việc thực hiện KSNB trong mỗi hoạt động mà họ tiến hành và chịu trách nhiệm KSNB được thực hiện đầy đủ sẽ giúp nhà quản lý có một sự đảm bảo hợp lý rằng mục tiêu mà họ mong muốn có thể đạt được khi giao nhiệm vụ cho các cá nhân khác
Các nhà kinh tế cũng đưa ra các ý kiến về các yếu tố cấu thành KSNB trong doanh nghiệp song quan điểm mà được nhiều nhà kinh tế, các tổ chức áp dụng theo
là quan điểm của COSO, và cũng dựa trên cơ sở của COSO, VAS có hiệu lực từ
01/01/2014 thay thế cho chuẩn mực kiểm toán số 400 thì “KSNB là sự kết hợp của
năm yếu tố: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, hoạt động giám sát” KSNB với năm yếu tố cấu thành sẽ phản ánh đầy
đủ hơn, bản chất hơn vai trò của KSNB trong việc đạt được các mục tiêu của DN
Trong chương 2 cũng nêu ra những lợi ích và hạn chế cố hữu của KSNB, KSNB sẽ là công cụ để cho nhà quản lý điều hành và đạt được những mục tiêu của
DN một cách tương đối, hạn chế được phần nào những rủi ro mà DN sẽ gặp phải nếu không có cơ chế kiểm soát và phòng ngừa tốt Tuy nhiên KSNB cũng sẽ có những hạn chế nhất định do bản thân các nhà quản lý luôn muốn tiết kiệm chi phí tối đa nên khi hoạt động KSNB tiêu tốn nhiều chi phí thì các DN vừa và nhỏ họ sẽ không chấp nhận và chỉ đưa ra một số công cụ kiểm soát riêng lẻ mà không có sự thống nhất Ngoài ra, những hạn chế về con người, sự cấu kết ngầm của một số các nhà quản lý hay quyền hạn được tập trung thiên về một người thì hoạt động KSNB cũng không phát huy được hiệu quả
Trang 4Việc thiết kế và vận hành KSNB trong DN còn chịu sự ảnh hưởng lớn từ hoạt động kinh doanh của DN là gì Đối với hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu thì việc thiết kế và vận hành KSNB sẽ phải tính đến các đặc trưng của hoạt động XNK, các rủi ro mà DN XNK thường xuyên mắc phải như: yếu tố về thời gian chuyển giao hàng hóa, đặc trưng về thời điểm thanh toán và thời điểm giao nhận hàng hóa, phương thức thanh toán, tập quán, thông lệ quốc tế về thanh toán quốc tế
Từ những sự khác biệt trên mà các công ty xuất nhập khẩu sẽ chịu những rủi ro trong hoạt động kinh doanh: rủi ro về tỷ giá, rủi ro trong quá trình tổ chức thực hiện hợp đồng XNK, rủi ro về vận chuyển và giao nhận hàng hóa
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Với các dữ liệu được thu thập qua BCTC, các tài liệu quản lý trong giai đoạn
2014 – 2016 của Minexport và các thông tin tham khảo trên các phương tiện truyền thông để có thể diễn đạt được mục tiêu mà bài luận văn đề ra, Cao học viên đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp nghiên cứu lý thuyết gồm: phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết, phương pháp lịch sử; phương pháp nghiên cứu thực tiễn bao gồm: phương pháp thu thập thông tin thông qua điều tra, phỏng vấn, kiểm tra tài liệu, kiểm tra vật chất, đối chiếu…, phương pháp xử lý thông tin và phương pháp trình bày kết quả nghiên cứu
Chương 4: Thực trạng kiểm soát nội bộ trong Công ty xuất nhập khẩu Minexort
Minexport tiền thân là một công ty 100% vốn Nhà nước trực thuộc Bộ Công Thương, được thành lập năm 1956, trước đây, vai trò là Tổng Công ty làm nhiệm
vụ xuất nhập khẩu chủ yếu phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa Vào thời gian này phạm vi và quy mô hoạt động kinh doanh của Công ty rất lớn, có thể nói các mặt hàng kinh doanh bao gồm tất cả các lĩnh vực như: Than, xi măng, khoáng sản, xăng dầu, hoá chất, phân bón, sắt thép, tân dược, thiết bị y tế… Có thể nói đây là thời kỳ hoạt động mạnh về quy mô và chức năng hoạt động lớn nhất của Công ty, uy tín và vị thế của Công ty không ngừng được
Trang 5v
nâng cao trên thị trường trong nước và quốc tế Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng năm lên tới 800 – 900 triệu USD, đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của ngành thương nghiệp Việt Nam nói riêng và nền kinh tế quốc tế nói chung, song khi đất nước phát triển, các bộ ngành được tách riêng ra thì lĩnh vực hoạt động của Minexport cũng được chuyển lại cho từng bộ ngành cụ thể như than, dầu mỏ… quy
mô của công ty cũng thu dần lại Năm 2005 công ty tiến hành cổ phần hóa và cho đến nay cơ cấu cổ đông của Minexport thì Nhà nước chỉ còn giữ 36.63%, lĩnh vực hoạt động chính vẫn là XNK nhưng mặt hàng chủ đạo là khoáng sản: quặng, tinh quặng, hợp kim, hóa chất, nông lâm nghiệp và dịch vụ Bất động sản với mạng lưới rộng khắp cả nước, doanh thu tăng 2016 có sự tăng trưởng tốt so với những năm trước đây
Một số đặc điểm ảnh hưởng đến KSNB tại Minexport, thứ nhất về đặc điểm hoạt động kinh doanh, Minexport là một doanh nghiệp xuất nhập khẩu nên sẽ gặp những rủi ro trong hình thức kinh danh này: rủi ro về tỷ giá, phương thức thanh toán, các điều khoản trong hợp đồng, điều khoản về bảo hiểm…; thứ hai về đặc điểm tính sở hữu, với cơ cấu cổ đông hiện tại, hoạt động Minexport sẽ được dự đoán năng động hơn, song vẫn còn nhiều điểm hạn chế về kinh nghiệm và cách vận hành hoạt động của công ty Ngoài ra, do Minexport là một doanh nghiệp chuyên về hoạt động xuất nhập khẩu – chủ yếu là khoáng sản, nhưng với cơ cấu cổ đông hiện tại thì Công ty Gia Tuệ đang là cổ đông nắm giữ cổ phẩn lớn nhất lại hoạt động trong lĩnh vực bất động sản và trong thời gian hơn 2 năm qua doanh thu mảng dịch
vụ liên quan đến bất động sản của Minexport đã tăng lên Chính điều này sẽ ảnh hưởng đến việc thiết kế và vận hành KSNB tại Minexport về việc đa dạng thêm loại hình kinh doanh, về nguồn vốn sẽ phân tán cho từng hình thức kinh doanh, mức độ đánh giá về an toàn vốn của các cổ đông; thứ ba đặc điểm về mặt hàng kinh doanh, công ty kinh doanh chính là khoáng sản một mặt hàng chịu nhiều rủi ro về biến động giá do tác động kinh tế chính trị, chịu sự quy định về kiểm định chất lượng…
Thực trạng môi trường kiểm soát tại Minexport: công ty luôn chấp hành tốt nghĩa vụ nộp thuế, bản thân các nhà quản lý cấp cao luôn giữ được nhân cách và ứng xử tốt với nhân viên, công ty cũng có những quy chế nhất định về văn hóa ứng
Trang 6xử trong nội bộ và với khách hàng Cam kết về năng lực qua tìm hiểu công ty chưa
có bảng mô tả chi tiết từng công việc cụ thể và phổ biến cho nhân viên khi tuyển dụng song lãnh đạo công ty vẫn cam kết về năng lực của nhân viên Hội đồng quản trị, với cơ cấu cổ đông tốt định kỳ HĐQT vẫn họp để đánh giá quá trình thực hiện mục tiêu Về triết lý quản lý và phong cách điều hành của nhà quản lý, trước đây, trong thời kỳ quan liêu, bao cấp, nhà quản trị cấp cao chưa chú trọng nhiều tới các công cụ quản lý, tới việc sử dụng các công cụ quản lý nhằm gia tăng tính hiệu quả hoạt động của DN, phương châm và phong cách quản trị của nhà quản lý là thực hiện theo mệnh lệnh, chỉ thị cấp trên, song đến nay khi với một cơ cấu cổ đông tốtMinexport đã từng bước ý thức được tầm quan trọng của các công cụ quản lý, của KSNB đối với hoạt động của doanh nghiệp nên đã từng bước thiết lập và hoàn thiện hệ thống các quy chế, chính sách nhằm nâng cao hiệu lực của KSNB để cam kết tính hiệu quả của hoạt động Về cơ cấu tổ chức, Minexport tổ chức quản lý phân cấp theo cơ cấu trực tuyến- chức năng, thực chất của phương thức này là chuyên môn hoá hoạt động quản trị, tạo điều kiện thực hiện chặt chẽ hoạt động điều hành, quản lý, kiểm tra và phù hợp với cơ cấu tổ chức của Công ty Về phân định quyền hạn và trách nhiệm, với sự phân định quyền hạn và trách nhiệm của từng nhà lãnh đạo trong công ty đã giúp cho họ hiểu rõ được nhiệm vụ mình cần làm gì và mối quan hệ với người khác Do đó, họ thấy được trách nhiệm phải kiểm tra, đối chiếu, phân tích công việc của bản thân trước khi cung cấp báo cáo cho các phòng ban khác và cấp trên Về chính sách nhân sự, Minexport đã thiết kế các thỏa ước lao động tập thể Thỏa ước này cũng nêu rõ phương thức trả lương, điều kiện nâng lương, cách đánh giá xếp loại lao động, quy chế thưởng phạt Bên cạnh đó, đối với những người quản lý cấp cao tại Minexport đã có quy trình đào tạo cụ thể, song những người quản lý cấp trung và toàn bộ nhân viên thì Minexport chưa có chương trình đào tạo Về công tác kế hoạch, khi Minexport đã được cổ phần hóa, để gia tăng tính hiệu quả hoạt động của chính mình, Minexport đã ý thức được sự quan trọng của hệ thống kế hoạch trong công tác kiểm soát, từ đó Minexport đã chỉ đạo một cách sát sao các phòng ban thực hiện tốt công tác lập kế hoạch
Trang 7vii
Thực trạng đánh giá rủi ro, hiện nay công tác xác định rủi ro phần lớn do các nhà quản trị chức năng tiến hành Tùy theo đặc trưng bộ phận quản trị khác nhau
mà các nhà quản trị sẽ quan tâm, đánh giá rủi ro của bộ phận mình một cách cụ thể; theo đánh giá của bản thân các nhà quản trị tại Minexport thì việc phân tích khả năng sự việc xảy ra và mức độ tác động của các rủi ro tại Minexport chưa thật sự hiệu quả do chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, phán đoán cũng như phỏng vấn ý kiến của các nhà kinh tế, chuyên gia trên các phương tiện thông tin đại chúng là chủ yếu Công ty dành nhiều sự quan tâm của mình cho việc phòng chống gian lận trong nội
bộ và nhiệm vụ này được phân công cho Bộ phận quản lý, tuy nhiên do không có bộ phận chuyên trách nên công việc này cũng không được thực hiện một cách triệt để
Thực trạng hệ thống thông tin và truyền thông, công ty đã ứng dụng các phần mềm hỗ trợ xử lý thông tin trong công tác quản lý khách hàng, công tác kế toán và công tác văn thư Điều này góp phần tạo ra các báo cáo kết quả công việc được nhanh chóng kịp thời, toàn diện và chi tiết cung cấp cho các đối tượng có liên quan bên trong và bên ngoài doanh nghiệp.Các nhà quản lý và các nhân viên ở các phòng ban đều ý thức được trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình,tuy nhiên điều này xuất phát từ nhận thức của mỗi nhân viên, công ty chưa xây dựng được văn bản quy định trách nhiệm và quyền hạn của mỗi cá nhân rõ ràng
Thực trạng hoạt động kiểm soát: thứ nhất thực trạng áp dụng nguyên tắc kiểm soát cơ bản, các nguyên tắc kiểm soát cơ bản bao gồm: Phân công, phân nhiệm; Bất kiêm nhiệm; và ủy quyền, phê chuẩn, các nguyên tác cơ bản này được Minexport vận dụng và có quy thành văn bản cho từng vị trí trong công ty Thứ hai, thực trạng áp dụng các thủ tục kiểm soát cơ bản: soát xét của nhà quản lý, định kỳ hàng quý công ty có sơ kết đánh giá mức độ hoàn thành kế hoạch Tuy nhiên, các nhà quản lý chỉ chú trọng đến việc so sánh đánh giá mức độ hoàn thành các chỉ tiêu
kế hoạch đã được xây dựng về mặt số lượng, chứ chưa chú trọng phân tích mức độ hoàn thành về mặt tỷ trọng; phân chia trách nhiệm hợp lý, hầu hết các bộ phận đều phân chia nhiệm vụ và trách nhiệm cho mỗi thành viên, không có hiện tượng một cá nhân nắm hết tất cả các khâu của quy trình nghiệp vụ, doanh nghiệp đã thực hiện ủy
Trang 8quyền bằng văn bản cho cấp thừa hành thực hiện nghiệp vụ về những hoạt động thường xuyên Điều này giúp cho nhà quản lý tiết kiệm thời gian trong việc điều hành hoạt động kinh doanh của đơn vị; kiểm soát quá trình xử lý thông tin, hệ thống chứng từ kế toán được lập đúng quy định, được lưu trữ, bảo quản khoa học, an toàn
và dễ dàng truy cập khi cần thiết, tuy nhiên việc tổ chức luân chuyển chứng từ vẫn chưa được quy định cụ thể về trình tự luân chuyển cũng như thời gian luân chuyển làm cho các nghiệp vụ khi phát sinh không được xử lý kịp thời gây tổn thất cho hoạt động kinh doanh của đơn vị,qua khảo sát quá trình xử lý thông tin của công ty vẫn chưa được kiểm soát chặt chẽ Mức độ sai sót có khả năng xảy ra cao làm ảnh hưởng đến độ tin cậy của thông tin; kiểm soát vật chất, DN đã trang bị hệ thống camera theo dõi các hoạt động trong văn phòng công ty cũng như kho bãi Hoạt động bảo vệ tài sản cũng được chú trọng, bên cạnh đó, định kỳ hàng tháng công ty
đã thực hiện kiểm kê hàng tồn kho, tài sản cố định, tuy nhiên công ty chưa ban hành các quy chế cụ thể, chi tiết về quản lý tài sản, vật tư thiết bị tại DN cũng như trách nhiệm cụ thể nếu để xảy ra mất mát; phân tích rà soát, định kỳ hàng quý, các nhà quản trị đã thực hiện so sánh giữa kết quả thực tế thực hiện và số liệu kế hoạch Nhưng do phần lớn chủ quan đặc thù kinh doanh của doanh nghiệp tương đối ổn định nên việc phân tích so sánh thường không đi sâu, bỏ qua các hoạt động rà soát khác như là tỷ lệ nợ quá hạn, biến động về giá mua vật tư
Thực trạng giám sát, giám sát thường xuyên đạt được thông qua việc tiếp cận các ý kiến đóng góp của khách hàng, nhà cung cấp hoặc xem xét các báo cáo hoạt động và phát hiện các biến động bất thường.Trên cơ sở đó, HĐQT sẽ đánh giá hiệu quả và xem xét mức độ hoàn thành công việc của các cá nhân và tập thể và đó chính
là cơ sở để thanh toán các khoản tiền lương và tiền thưởng.Cho đến nay, Minexport
đã hoàn thành việc thiết lập 3 quy định và quy chế quản trị nội bộ Trong quá trình thực hiện, các quá trình này được cập nhật và liên kết chặt chẽ với các quy định bên ngoài như hệ thống pháp luật và những thay đổi trong công nghệ, thị trường, khách hàng.Trong một số trường hợp, các bộ phận kiểm tra khác nhau cho thấy kết quả khác nhau Do đó, rất khó cho HĐQT và Ban TGĐ để chấp nhận kết quả nào là
Trang 9ix
chính xác hơn, làm cơ sở cho việc ra quyết định liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh, vấn đề đã được phát hiện trong quá trình thanh tra và kiểm soát sẽ được báo cáo cho HĐQT hoặc Ban TGĐ theo chức năng cũng như thẩm quyền của từng
bộ phận
Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu, các khuyến nghị và kết luận
Đánh giá kết quả nghiên cứu: thứ nhất ưu điểm về kiểm soát quản lý tại
Minexport, (i)về môi trường kiểm soát, nhà quản trị cấp cao của Minexport đã có
những thay đổi đáng kể về phương châm quản lý và phong cách điều hành trong đó đặc biệt chú trọng đến cách thức áp dụng các công cụ quản lý vào quá trình kiểm tra nội bộ công ty để nâng cao hiệu quả làm việc của danh nghiệp hơn; về bộ máy tổ chức công ty, cơ cấu tổ chức và hoạt động của Minexport được tổ chức theo mô hình thống nhất, giúp các phòng ban chủ động và tự chủ trong quá trình vận hành mình; về quản lý nhân sự, công ty luôn thay đổi các chính sách liên quan tới việc đào tạo, bổ nhiệm, đánh giá, sa thải, đề bạt, khen thưởng, tuyển dụng và kỷ luật cán
bộ để nhằm luôn đảm bảo và nâng cao quyền lợi của mọi nhân viên; về công tác kiểm soát, BKS trực thuộc HĐQT đã bước đầu thể hiện được vai trò của mình trong việc kiểm tra toàn bộ hoạt động của công ty Các nguyên tắc phê chuẩn ủy quyền, bất kiêm nhiệm, phân công, phân nhiệm được áp dụng tương đối tốt giúp cho quá trình kiểm soát ngày càng hữu ích và có tác động tích cực trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp; về công tác kế hoạch, ban lãnh đạo Minexport đã xây dựng được quy trình sản xuất kinh doanh tương đối cụ thể, đồng bộ, thường xuyên được điều chỉnh sát so với thực tế Quy trình lập kế hoạch rõ ràng, chi tiết
(ii)về đánh giá rủi roMinexport đã luôn nhận thức và đánh giá cẩn thận quá trình
đánh giá các rủi ro có thể xảy ra đối với quá trình sản xuất kinh doanh của mình Hoạt động nhận dạng và xem xét các rủi ro tuy chưa được áp dụng trên tất cả các
hoạt động nhưng cũng đã bắt đầu được thực hiện rải rác.(iii)về hệ thống thông tin và
truyền thông Minexport đã bước đầu triển khai thành công áp dụng hệ thống hoạch
định nguồn lực ERP để quản trị toàn bộ hoạt động của mình (iv)về thủ tục kiểm
soát Ban lãnh đạo Minexport đã xây dựng và áp dụng các chính sách và quy chế,
Trang 10các bước và quy trình thủ tục kiểm tra rà soát cơ bản nhằm đáp ứng các mục tiêu của hệ thống KSNB đó là chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh; tuân thủ nghiêm các quy định luật pháp; tính trung thực, hợp lý của BCTC; đảm bảo bảo mật
thông tin và an toàn cho tài sản của doanh nghiệp (v)về quy trình giám sát
Minexport đã bước đầu thiết kế và xây dựng được cơ chế giám sát liên tục và định
kỳ bằng cách rà soát báo cáo của kiểm soát viên nhằm hạn chế các rủi ro có thể xảy,
từ đó đưa ra các kiến nghị có tính khả thi
Một số vấn đề còn tồn tại:thứ nhất, về quy trình kiểm soát Nhận thức của
các tổ chức, cá nhân đại diện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu Nhà nước và tư nhân tại Công ty nói chung và nhận thức của nhà quản trị cấp cao về KSNB là chưa thật đầy đủ KSNB chưa được coi là một công cụ hữu ích cho quản trị.Về mô hình vận hành công ty, chưa có bộ phận riêng thực hiện chức năng phân tích, rà soát rủi
ro sớm để phục vụ làm cơ sở xây dựng các thủ tục KSNB Về chính sách nhân sự, vẫn còn một số lượng nhỏ chưa có các quy đinh cụ thể về việc khen thưởng, đào tạo, bổ nhiệm, tuyển dụng và kỷ luật nhân viên Về công tác kế hoạch, quan niệm của nhà quản trị về vai trò và tác dụng của các loại kế hoạch có sự không đồng đều.Về BKS, BKS tại Minexport chưa xây dựng được chương trình, kế hoạch hoạt
động mang tính thống nhất hàng năm.Thứ hai, về xem xét và rà soát rủi ro Việc
xây dựng các chính sách và quy trình kiểm soát không dựa trên cơ sở xác định và đánh giá rủi ro bên trong và bên ngoài doanh nghiệp.Ban lãnh đạo chưa tổ chức được một đơn vị riêng biệt để áp dụng thực hiện chức năng kiểm tra và rà soát các rủi ro Công ty chưa thực hiện phổ biến toàn công ty các chính sách động viên, khích lệ tinh thần làm việc của các nhân viên Đặc biệt, vấn đề phân tích và định lượng hậu quả của các rủi ro có thể xảy ra chưa chất lượng hay chưa có các biện pháp cụ thể để nhân viên nhận thức rõ ràng về hậu quả nghiêm trọng của rủi ro cũng
như giới hạn rủi ro tối thiểu mà doanh nghiệp có thể chấp nhận được.Thứ ba, về hệ
thống phần mềm vận hành, một số ứng dụng phần mềm chưa được hoàn thành và
vẫn còn trong giai đoạn thí điểm, vì vậy thông tin đưa vào hệ thống không được cập nhật đầy đủ và hiệu quả Minexport chưa tiến hành đào tạo cho nhân viên trong việc