Trên thực tế, một loạt các vụ việc có dấu hiệu của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền trên thị trường gây bức xúc trong dư luận như vụ tăng giá cước 3G, vụ Vinapco, v[r]
Trang 2T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ
CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN – KINH TẾ
Bùi Hoàng Tân - Tình hình sở hữu ruộng đất công ở huyện Hà Châu, tỉnh Hà Tiên qua nghiên cứu tư liệu địa bạ
Đoàn Thị Yến - Vua Tự Đức với vấn đề Công giáo trước và sau năm 1862 9 Trần Minh Thuận - Vấn đề ruộng đất và các cuộc đấu tranh tự phát của nông dân ở tỉnh Bạc Liêu thời
Đồng Văn Quân - Các kiểu chế độ dân chủ trong lịch sử và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay 21
Lê Thị Giang, Lê Thị Hương - Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và xây dựng
con người 27 Cao Thị Phương Nhung, Ngô Thị Quang - Chủ tịch Hồ Chí Minh bàn về công tác học tập lí luận trong tác
phẩm “Diễn văn khai mạc lớp học lí luận khóa I trường Nguyễn Ái Quốc” 33 Lưu Thu Trang - Bi kịch của nhân vật Grigori Melekhov qua mối quan hệ với hai nhân vật nữ Aksinia và
Nguyễn Diệu Linh - Cá sỉnh trong văn hóa ẩm thực của người Thái trắng ở xã Sơn A, huyện Văn Chấn, tỉnh
Nguyễn Thị Tân Tiến, Hà Thị Hằng - Sự khác biệt về kết quả chuẩn đầu ra tin học của sinh viên học học phần
Tin học đại cương với sinh viên đạt chứng chỉ IC3 ở trường Đại học Y – Dược, Đại học Thái Nguyên 55 Đầu Thị Thu - Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên thông qua hoạt động trải nghiệm thực tế nghề nghiệp 61 Nguyễn Ngọc Bính, Dương Tố Quỳnh - Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn bóng
chuyền cho sinh viên trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên 67
Hoàng Thị Hải Yến - Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức trong việc xây dựng đạo đức, lối sống cho
sinh viên trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp – Đại học Thái Nguyên hiện nay 79
Phùng Thị Tuyết, Nông Hồng Hạnh - Đánh giá trong dạy học qua đề án ở bộ môn tiếng Trung Quốc - Khoa
Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên 85 Trần Hoàng Tinh - Thực trạng và biện pháp xây dựng kế hoạch, chỉ đạo thực hiện giáo dục tính kỷ luật cho
Hoàng Thị Lý - Vai trò của hoạt động giàn giáo trong việc làm tăng khả năng đọc hiểu tiếng Anh của sinh viên
Dương Thị Hồng An, Đặng Phương Mai - Đánh giá phần mềm hỗ trợ học tập và giảng dạy tiếng Anh tại
trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông – Đại học Thái Nguyên 103
Tạ Thị Mai Hương, Nguyễn Vân Thịnh, Nguyễn Thị Hạnh Hồng - Tác động của việc sử dụng hồ sơ bài tập
lên sự phát triển kĩ năng nghe hiểu của sinh viên: nghiên cứu trường hợp tại trường Đại học Kinh tế và Quản trị
Trần Tuấn Anh, Đỗ Văn Hải, Trần Thị Thu Thủy, Hoàng Văn Hùng - Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu
đất đai đa mục tiêu phục vụ công tác quản lý tại phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai 115 Nguyễn Thị Gấm, Đào Thị Hương - Ảnh hưởng của chất lượng dịch vụ ngân hàng tới sự thỏa mãn của khách
Nguyễn Thị Thanh Thủy - Đầu tư trực tiếp nước ngoài với sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam 129
Journal of Science and Technology
175 (15)
N¨m 2017
Trang 3Chu Thị Hà, Đỗ Thị Hà Phương, Nguyễn Thị Giang, Lin Xiao Wu - Nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm
Trần Viết Khanh, Đỗ Thúy Mùi - Một số giải pháp phát triển nông nghiệp vùng Tây Bắc 141 Nguyễn Thị Lan Anh - Tăng cường quản lý sử dụng kinh phí cho hoạt động y tế tại Bệnh viện Đa khoa Trung
Nguyễn Thị Giang, Đỗ Thị Hà Phương, Chu Thị Hà, Hồ Lương Xinh - Hiệu quả kinh tế trong sản xuất nấm
Đỗ Thị Vân Hương - Phân tích hiệu quả mô hình trồng cây cà phê chè (Arabica), cây mắc ca (Macadamia) tại
Đặng Ngọc Huyền Trang, Dương Thị Thùy Linh - Xác định mối quan hệ giữa nguồn đầu tư trực tiếp nước
Dương Thị Tình - Thực trạng tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước năm 2016 và giải pháp cho những năm tiếp theo 171 Phạm Thị Thanh Mai, Nghiêm Thị Ngoan - Đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm chè mang chỉ dẫn
Nguyễn Thị Thảo - Kết quả thực hiện chương trình giảm nghèo tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011-2015 183 Nguyễn Thị Lan Anh, Đào Thị Hương - Phát triển mối liên kết các tác nhân trong chuỗi giá trị ngành hàng chè
Trần Thùy Linh, Đỗ Hoàng Yến - Hoàn thiện các quy định về xác định hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Ngô Thị Quỳnh Trang, Phạm Thị Thu Phương, Hoàng Thị Lan Hương - Các rào
Phan Thị Vân Giang, Phạm Bảo Dương - Một số vấn đề lý luận và bài học kinh nghiệm liên kết kinh tế trong
Trang 4Trần Thùy Linh và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 175(15): 195 - 200
195
HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ XÁC ĐỊNH HÀNH VI LẠM DỤNG
VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG THEO LUẬT CẠNH TRANH 2004
Trần Thùy Linh*, Đỗ Hoàng Yến
Trường Đại học Kinh tế & Quản trị kinh doanh – ĐH Thái Nguyên
TÓM TẮT
Có thể nói, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường đang là hiện tượng nghiêm trọng và phổ biến nhất trong các vấn đề về cạnh tranh hiện nay Trên thực tế, một loạt các vụ việc có dấu hiệu của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền trên thị trường gây bức xúc trong dư luận như vụ tăng giá cước 3G, vụ Vinapco, vụ Megastar, vụ K+, vụ Tân Hiệp Phát khiếu nại công ty liên doanh nhà máy bia Việt Nam, vụ AB Tour khiếu nại công ty Ánh Dương… Các quy định về kiểm soát hành
vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường đã được quy định cụ thể, chi tiết trong Luật Cạnh tranh
2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành Mặc dù vậy, các quy định về xác định hành vi lạm dụng
vị trí thống lĩnh thị trường đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế, bất cập cần được hoàn thiện để nâng cao hiệu quả thực thi
Từ khóa: hành vi lạm dụng; thống lĩnh thị trường; vị trí thống lĩnh; hạn chế cạnh tranh; luật
cạnh tranh
Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường là một
trong những hiện tượng tương đối phổ biến
trong nền kinh tế thị trường Pháp luật cạnh
tranh của các nước đều coi đây là hành vi
nghiêm trọng, có tác động tiêu cực đến cạnh
tranh và do đó cần ngăn cấm Theo Bộ quy
tắc về cạnh tranh của Liên Hợp Quốc được
thông qua ngày 22/04/1980 và Luật mẫu về
cạnh tranh của UNCTAD, “hành vi lạm dụng
vị trí thống lĩnh và vị trí độc quyền để hạn chế
cạnh tranh là hành vi hạn chế cạnh tranh mà
doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc độc
quyền sử dụng để duy trì hay tăng cường vị
trí của nó trên thị trường bằng cách hạn chế
khả năng gia nhập thị trường hoặc hạn chế
quá mức cạnh tranh” [3] Như vậy, hành vi
lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường là hành
vi hạn chế cạnh tranh, được thực hiện bởi
doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường,
bằng việc khai thác quyền lực thị trường mà
mình có được để bóp méo, hạn chế cạnh tranh
nhằm loại bỏ đối thủ, duy trì củng cố vị trí
của mình trên thị trường và trục lợi từ khách
hàng, người tiêu dùng Việt Nam đã ban hành
luật cạnh tranh từ năm 2004, trong đó có các
quy định về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường Song, trên thực tế, có
*
Tel: 0989761083, Email: dngbaolinh2@gmail.com
một loạt các vụ việc có dấu hiệu của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, trí độc quyền trên thị trường gây bức xúc trong dư luận như vụ tăng giá cước 3G, vụ Vinapco, vụ Megastar,
vụ K+, vụ Tân Hiệp Phát khiếu nại công ty liên doanh nhà máy bia Việt Nam, vụ AB Tour khiếu nại công ty Ánh Dương… đặt ra câu hỏi về vấn đề hiệu quả thực thi các quy định của Luật cạnh tranh về hành vi lạm dụng
vị trí thống lĩnh thị trường Bài viết này sẽ trao đổi về những hạn chế trong các quy định của Luật cạnh tranh về xác định hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện các quy định để nâng cao hiệu quả thực thi Luật cạnh tranh MỘT SỐ HẠN CHẾ TRONG CÁC QUY ĐỊNH VỀ XÁC ĐỊNH HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG CỦA LUẬT CẠNH TRANH HIỆN NAY Luật cạnh tranh 2004 của Việt Nam không đưa ra khái niệm hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường mà thay vào đó lại liệt
kê các hành vi bị coi là lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường tại Điều 13 Qua nghiên cứu cho thấy, các quy định của Luật cạnh tranh
2004 vừa khó thực thi vừa có thể dẫn tới việc
bỏ sót hành vi phản cạnh tranh trên thị trường Nhận định trên sẽ được tác giả phân tích cụ thể qua các luận điểm sau đây:
Trang 5Trần Thùy Linh và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 175(15): 195 - 200
Thứ nhất, Các quy định pháp luật về xác
định hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam
khó thực thi trên thực tế Luật cạnh tranh Việt
Nam có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/ 2005,
nhưng phải gần 4 năm sau, ngày 14/04/2009
vụ việc lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc
quyền đầu tiên và cũng là vụ việc hạn chế
cạnh tranh đầu tiên mới được đưa ra xử lý Đó
là vụ việc liên quan đến quá trình thực hiện
hợp đồng mua bán nhiên liệu hàng không
giữa Công ty xăng dầu hàng không Việt Nam
(Vinapco) và Công ty cổ phần hàng không
Pacific Airlines (PA) Tuy nhiên, cho đến
nay, sau 12 năm Luật cạnh tranh có hiệu lực
thi hành, mặc dù cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền của Việt Nam về quản lý cạnh tranh
cũng đã tiến hành điều tra tiền tố tụng nhiều
vụ việc liên quan đến hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường nhưng số vụ việc còn lại
được điều tra chính thức chỉ là 4 vụ Trong đó
chỉ có vụ việc nêu trên và vụ việc AB Tour
kiện Công ty TNHH Sản xuất - Thương mại -
Dịch vụ - XNK Ánh Dương là đã có kết luận
và được xử lý theo quy định, còn lại 2 vụ việc
khác đã bị đình chỉ điều tra Qua nghiên cứu,
chúng tôi nhận thấy sự khó khăn trong việc
thực thi các quy định này xuất phát từ những
điểm sau:
Một là, các quy định về xác định hành vi lạm
dụng vị trí thống lĩnh thị trường còn mang
nặng tính định dạng, thiên về mô tả hình thức
biểu hiện bên ngoài mà chưa chú trọng đến
các dấu hiệu đặc trưng của hành vi khiến cho
có nhiều hành vi mang tính lạm dụng gây tác
động phản cạnh tranh nhưng lại không thỏa
mãn những dấu hiệu mô tả trong luật
Luật Cạnh tranh 2004 liệt kê 6 hành vi lạm
dụng vị trí thống lĩnh thị trường bị cấm [1]
Trên cơ sở đó Nghị định 116/2005/NĐ-CP
tiếp tục chi tiết hóa các quy định của Luật
bằng cách liệt kê 20 hành vi lạm dụng với các
hình thức biểu hiện khác nhau [2] Ở cả hai
văn bản này đều không đưa ra khái niệm hành
vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường mà chỉ
liệt kê, mô tả hành vi cụ thể dựa theo hình
thức biểu hiện bên ngoài Ví dụ hành vi giới
hạn thị trường gây thiệt hại cho khách hàng
quy định tại khoản 3 điều 13 Luật cạnh tranh
2004 được hiểu theo hướng chỉ bao gồm 2 hành vi sau đây (khoản 2 điều 28 Nghị đinh
116/2005/NĐ- CP):
- Chỉ cung ứng hàng hóa, dịch vụ trong một hoặc một số khu vực địa lý nhất định;
- Chỉ mua hàng hoá, dịch vụ từ một hoặc một
số nguồn cung nhất định trừ trường hợp các nguồn cung khác không đáp ứng được những điều kiện hợp lý và phù hợp với tập quán thương mại thông thường do bên mua đặt ra Cách quy định chi tiết theo hướng mô tả hành
vi, ở một khía cạnh nhất định có thể tạo thuận tiện, dễ dàng cho việc áp dụng luật bởi các cơ quan thực thi chỉ cần thu thập thông tin, chứng cứ phù hợp với mô tả theo quy định của luật mà không cần phải phân tích, chứng minh về tác động phản cạnh tranh của hành
vi Tuy nhiên, nhìn ở khía cạnh khác, việc quy định theo hướng liệt kê một mặt hạn chế đáng kể khả năng đánh giá của cơ quan quản
lý cạnh tranh trong quá trình điều tra, xử lý
vụ việc, mặt khác cũng tạo ra khó khăn cho
cơ quan quản lý cạnh tranh trong quá trình thực thi Cơ quan quản lý cạnh tranh của Việt Nam thực chất không có thẩm quyền được đưa ra các đánh giá sâu về bản chất gây hạn chế cạnh tranh của hành vi mà chỉ thực hiện việc thu thập các chứng cứ phù hợp với
mô tả theo quy định để kết luận Có thể nói, trong điều kiện môi trường cạnh tranh trong nước sôi động như hiện nay, thực tiễn các hành vi cạnh tranh sẽ diễn ra ở mức độ gay gắt, đa dạng và mang nhiều yếu tố tiêu cực Thế nhưng với cách quy định của Luật cạnh tranh như nêu trên sẽ buộc các cơ quan quản
lý cạnh tranh phải hướng theo cách tiếp cận hẹp trong phạm vi các hành vi được liệt kê, bất kể hành vi đó thực chất có tác động phản cạnh tranh hay không Điều này tất yếu làm cho việc thực thi của các cơ quan quản lý cạnh tranh bị hạn chế
Trang 6Trần Thùy Linh và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 175(15): 195 - 200
197
Hai là, các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh
thị trường được mô tả với cấu thành pháp lý
quá phức tạp Các hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường được liệt kê tại điều 13
Luật cạnh tranh 2004 và Nghị định
116/2005/NĐ-CP mặc dù được mô tả cụ thể
nhưng có cấu thành pháp lý quá phức tạp, khó
hiểu đã gây khó khăn trong việc áp dụng
trong thực tiễn Chẳng hạn Nghị đinh
116/2005/NĐ – CP giải thích hành vi áp đặt
giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý gây thiệt
hại cho khách hàng nếu cầu về hàng hoá, dịch
vụ không tăng đột biến tới mức vượt quá
công suất thiết kế hoặc năng lực sản xuất của
doanh nghiệp và thỏa mãn hai điều kiện giá
bán lẻ trung bình tại cùng thị trường liên quan
trong thời gian tối thiểu 60 ngày liên tiếp
được đặt ra tăng một lần vượt quá 5%; hoặc
tăng nhiều lần với tổng mức tăng vượt quá
5% so với giá đã bán trước khoảng thời gian
tối thiểu đó và không có biến động bất thường
làm tăng giá thành sản xuất của hàng hóa,
dịch vụ đó vượt quá 5% trong thời gian tối
thiểu 60 ngày liên tiếp trước khi bắt đầu tăng
giá [2] Quy định trên đặt ra yêu cầu cho các
cơ quan có thẩm quyền để xác định hành vi
áp đặt giá bán hàng hóa, dịch vụ của doanh
nghiệp có bất hợp lý hay không thì phải xác
định được công suất thiết kế hoặc năng lực
sản xuất của doanh nghiệp bao nhiêu, sau đó
phải chứng minh cầu về hàng hóa dịch vụ
không tăng đột biến so với công suất thiết kế
hoặc năng lực sản xuất của doanh nghiệp
Bước tiếp theo là phải xác định giá bán lẻ
trung bình tại cùng thị trường liên quan trong
thời gian tối thiểu 60 ngày và so sánh giá sau
khi tăng với giá hàng hóa, dịch vụ tương ứng
trong khoảng thời gian tối thiểu 60 ngày trước
khi tăng giá Đây là những công việc không
hề đơn giản trong bối cảnh nền kinh tế vận
động phức tạp như hiện nay
Thứ hai, Các quy định hiện nay của Luật
cạnh tranh về xác định hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường cũng dẫn tới việc bỏ sót
hành vi phản cạnh tranh, tạo kẽ hở pháp lý để
doanh nghiệp lách luật Như trên đã phân tích
việc xác định hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh theo luật cạnh tranh Việt Nam quy định theo hướng liệt kê, mô tả Cách quy định này mang nặng tính kỹ thuật, cứng nhắc không nhắm vào bản chất phản cạnh tranh của hành
vi mà chỉ nhắm đến biểu hiện bên ngoài của hành vi, do đó, tất yếu dẫn tới hệ quả sau đây:
Một là, cách quy định liệt kê thường dẫn tới
tình trạng không bao quát được hết các trường
hợp Có những hành vi được thực hiện nhằm
mục đích phản cạnh tranh, trục lợi từ khách hàng hoặc nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh nhưng không nằm trong những hành vi được liệt kê trong luật thì cũng không thể xử lý Chẳng hạn trong vụ việc liên quan đến bản quyền phát hình các sự kiện thể thao, công ty
CP Viễn thông và Truyền thông An Viên (AVG) đã ký hợp đồng hợp tác với liên đoàn bong đá Việt Nam (VFF), theo đó AVG được VFF chuyển nhượng toàn bộ thương quyền của các giải đấu bóng đá do VFF tổ chức trong đó có các trận thi đấu tại giải bóng đá
vô địch quốc gia trong thời hạn từ 2011-
2030 Qua phân tích cho thấy, hợp đồng này
có tác động hạn chế cạnh tranh, ngăn cản sự gia nhập thị trường của các doanh nghiệp khác Mặc dù hành vi ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới
là hành vi bị cấm theo khoản 6 điều 13 Luật cạnh tranh 2004 [1], nhưng theo mô tả cụ thể của hành vi này tại điều 31 Nghị định 116/2005/NĐ-CP [2] thì việc ký hợp đồng của AVG và VFF không nằm trong những hành vi được liệt kê Do đó, cơ quan quản lý cạnh tranh Việt Nam mặc dù nhận thấy tác động tiêu cực của hành vi của AVG đối với cạnh tranh nhưng không có cơ sở để xử lý
Hai là, cách quy định mang tính cứng nhắc,
kỹ thuật, đóng khung không bám vào bản chất hành vi mà chỉ thiên về mô tả cũng sẽ không bắt kịp với những thay đổi thực tiễn Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, nhiều chiến lược cạnh tranh mới, trong đó có cả những
Trang 7Trần Thùy Linh và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 175(15): 195 - 200
hành vi phản cạnh tranh đã du nhập vào Việt
Nam và được các doanh nghiệp vận dụng
trong hoạt động kinh doanh Các hành vi hạn
chế cạnh tranh mang tính chất đóng cửa thị
trường hoặc trục lợi khách hàng được thực
hiện dưới nhiều hình thức mới, với mức độ
tinh vi, phức tạp Các cơ quan quản lý cạnh
tranh của Việt Nam mặc dù đánh giá được
tính chất hành vi phản cạnh tranh của doanh
nghiệp nhưng không có cơ sở để xử lý Ví dụ
như hành vi ép giá đã xuất hiện tương đối phổ
biến ở Việt Nam nhưng Luật cạnh tranh và
các văn bản hướng dẫn thi hành đều chưa
điều chỉnh
Thứ ba, các quy định hiện hành cho thấy một
sự thiếu rõ ràng về mục tiêu thực sự của Luật
cạnh tranh nói chung hay mục tiêu của các
quy định về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường nói riêng Mục tiêu của Luật cạnh
tranh có thể chỉ là bảo vệ (quá trình) cạnh
tranh, hoặc có thể bao gồm cả phúc lợi xã hội,
lợi ích người tiêu dùng như là kết quả của
cạnh tranh Các quy định hiện nay dường như
không theo một tinh thần nhất quán là bảo vệ
cái gì Điều 13 ngoài các hành vi lạm dụng
mà hậu quả của nó có thể gây cản trở, bóp
méo cạnh tranh, còn có một số hành vi mang
tính bóc lột, trục lợi khách hàng và người tiêu
dùng như hành vi áp đặt giá mua, giá bán
hàng hoá dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá
bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng,
hành vi hạn chế sản lượng, giới hạn thị trường
và hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ…
tuy nhiên, nếu xác định mục đích của các quy
định là ngoài bảo vệ quá trình cạnh tranh còn
bảo vệ phúc lợi xã hội, lợi ích của người tiêu
dùng thì các hành vi lạm dụng trong Luật
cạnh tranh Việt Nam là chưa đủ Thậm chí có
những hành vi rất phổ biến trong thực tiễn
thương mại, được thực hiện bởi doanh nghiệp
có vị trí thống lĩnh thị trường sẽ gây thiệt hại
nghiêm trọng cho lợi ích khách hàng, người
tiêu dùng như hành vi bán kèm thì lại không
có quy định
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ XÁC ĐỊNH HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG
Qua những phân tích nêu trên, chúng tôi cho rằng vấn đề hoàn thiện quy định chủ yếu không nằm ở chỗ phải rà soát, bổ sung thêm các hành vi cụ thể mà chính là phải thay đổi cách tiếp cận quy định Với cách tiếp cận hiện hành, dù pháp luật cạnh tranh có liệt kê thêm hàng trăm hành vi lạm dụng dựa theo hình thức bên ngoài thì cũng không thể bao quát hết tất cả các trường hợp Chúng tôi xin đề xuất một số kiến nghị sau:
Một là, cần thay đổi cách tiếp cận quy định
theo hướng cân bằng giữa phương pháp liệt
kê, mô tả với phương pháp nhắm vào bản chất Việc liệt kê, mô tả sẽ dễ dàng trong việc nhận diện hành vi, còn quy định nhắm vào bản chất thông qua khái quát hóa hành vi bằng khái niệm sẽ giúp tránh được việc bỏ sót hành vi Do đó, nên bổ sung khái niệm hành
vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, trong
đó có xây dựng các tiêu chí cơ bản theo hướng mở nhằm xác định các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh và bổ sung thêm điều khoản mang tính bao quát các hành vi có bản chất tương tự Ngoài tham khảo Bộ quy tắc về cạnh tranh của Liên Hợp Quốc được thông qua ngày 22/04/1980 và Luật mẫu về cạnh tranh của UNCTAD, kinh nghiệm của EU, Hoa Kỳ có thể là những gợi mở tốt cho Việt Nam trong việc xây dựng khái niệm hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, đảm bảo nhắm vào bản chất của hành vi, phản ánh đúng mục tiêu của Luật cạnh tranh Chẳng hạn như ở EU, mặc dù khái niệm lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường không được đề cập trực tiếp trong luật cạnh tranh nhưng thực tiễn xét xử của Tòa án tối cao Châu Âu (ECJ) đã đưa ra quan điểm chung về hành vi lạm dụng
vị trí thống lĩnh thị trường là “hành vi của
doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, có tác động đến cấu trúc thị trường, làm suy giảm mức độ cạnh tranh của thị trường thông qua việc sử
Trang 8Trần Thùy Linh và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 175(15): 195 - 200
199
dụng các phương pháp khác biệt với những
phương pháp cạnh tranh được sử dụng trong
điều kiện cạnh tranh thông thường của hàng
hóa, dịch vụ trên cơ sở các giao dịch của các
thương gia, gây trở ngại cho việc duy trì mức
độ cạnh tranh đang tồn tại trên thị trường
hoặc sự gia tăng mức độ cạnh tranh của thị
trường đó” [4], đồng thời ECJ cũng đưa ra
quan điểm các hành vi lạm dụng trí thống lĩnh
thị trường được liệt kê trong Điều 86 (hiện tại
là Điều 102 hiệp ước về chức năng của liên
minh Châu Âu - TFEU) chỉ là những dạng
hành vi lạm dụng điển hình nhất, chứ không
phải là một bảng liệt kê đầy đủ [5] Do đó,
xác định hành vi phải bám vào bản chất của
hành vi và khái niệm cần phải được xây dựng
đảm bảo tính bao quát và nhắm vào bản chất
của hành vi
Hai là, thay vì quy định theo hướng mặc
nhiên coi là vi phạm (per se rule) nếu thỏa
mãn cấu thành hành vi bằng việc kết hợp xem
xét hành vi và đánh giá tác động phản cạnh
tranh của hành vi Tức là tiếp cận trên nguyên
tắc lập luận hợp lý (rule of reason), không chỉ
căn cứ vào biểu hiện hành vi mà còn phải cân
nhắc cả những tác động tiêu cực và tích cực
của hành vi Bởi có những hành vi mang tính
phản cạnh tranh nhưng ở những góc độ, tình
huống cụ thể lại có thể mang lại tác động tích
cực, có lợi cho người tiêu dùng, nâng cao
phúc lợi xã hội Khi tác động tích cực mang
lại lớn hơn so với những hậu quả tiêu cực thì
hành vi không nên bị xem là vi phạm và cần
xử lý Xu hướng luật cạnh tranh các nước
hiện nay đều chuyển từ cách tiếp cận dựa trên
hình thức hành vi (form based approach), tức
là chỉ cần xác định, phân tích có đủ các dấu
hiệu của hành vi được mô tả trong luật là vi
phạm sang cách tiếp cận dựa trên phân tích
tác động (effect based approach), tức là phân
tích hành vi không chỉ dựa vào hình thức biểu
hiện của hành vi mà còn dựa trên cả tác động
về kinh tế của hành vi, xem xét khả năng tạo
ra những tác động tích cực về mặt kinh tế của
hành vi để cân nhắc là có vi phạm hay không
Trong bối cảnh toàn cầu hóa đặt ra nhu cầu hài hòa hóa pháp luật, việc nghiên cứu để vận dụng xu hướng này vào luật cạnh tranh Việt Nam là cần thiết
Ba là, cần xác định rõ mục tiêu của các quy
định về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
là bảo vệ cạnh tranh hay bảo vệ kết quả của cạnh tranh hay cả hai Từ đó, làm cơ sở để thiết kế các hành vi lạm dụng cụ thể Cần nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài, nắm rõ
cơ sở lý luận của từng hành vi, để sửa đổi, bổ sung những hành vi còn thiếu Việc bổ sung, hay bỏ bớt hành vi phải luôn gắn với việc trả lời cho câu hỏi, nếu doanh nghiệp thống lĩnh thực hiện hành vi đó, sẽ gây tác động tiêu cực đến cạnh tranh hay phúc lợi xã hội hay lợi ích người tiêu dùng Ngược lại, nếu doanh nghiệp thống lĩnh thị trường muốn gây tác động hạn chế cạnh tranh họ sẽ có xu hướng thực hiện những hành vi gì, muốn trục lợi từ khách hàng, người tiêu dùng, giảm phúc lợi xã hội thì họ sẽ thực hiện những hành vi gì
KẾT LUẬN Các quy định về xác định hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường của luật cạnh tranh
2004 bước đầu đã tạo ra công cụ pháp lý trong việc nhận diện và xử lý hành vi phản cạnh tranh của các doanh nghiệp thống lĩnh thị trường, góp phần làm lành mạnh môi trường cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, quá trình thực thi đã bộc nhiều bất cập đặt ra nhu cầu cần tiếp tục nghiên cứu để sửa đổi, hoàn thiện các quy định nhằm tăng cường hiệu quả thực thi, đáp ứng các yêu cầu thực tiễn Việc sửa đổi, bổ sung nên theo hướng kết hợp chặt chẽ giữa tư duy kinh tế và tư duy pháp lý bởi Luật Cạnh tranh là phương tiện được Nhà nước sử dụng để điều chỉnh các quan hệ cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Quốc hội (2004), Luâṭ Cạnh tranh số
27/2004/QH11 ngày 03/12/2004, Hà Nội
2 Chính phủ (2005), Nghị định số
116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 quy định chi tiết thi hành một
số điều của Luật Cạnh tranh, Hà Nội
Trang 9Trần Thùy Linh và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 175(15): 195 - 200
3 United Nations conference on trade and
development (2010), Model Law on Competition,
United Nations, New York and Geneva
4 Case Hoffmann-La Roche & Co AG v
Commission (C-85/76) [1979];
5 Case Tetrapak Interational SA v Commission
(C-333/94P) [1996] ECR I-5951
SUMMARY
IMPROVING REGULATIONS ON DEFINING DOMINANT ABUSIVE
PRACTICES UNDER VIETNEMESE COMPETITION LAW 2004
Tran Thuy Linh*, Do Hoang Yen
TNU University of Economics and Business Administration
It can be said that abuse of market dominance is the most serious and common phenomenon in the competition issues curently In fact, a series of cases show signs of abuse of dominant position and monopoly on the market, such as the cases of increasingof 3G service fee by 3 Mobile network operators, Vinapco, Megastar, K + Tan Hiep Phat complained to the Vietnam Brewery Joint Venture Company, AB Tour complained to Anh Duong Company The regulations on controlling the abuse of market dominance have been specified, detailed in the Competition Law 2004 and its guiding documents However, the regulations on this field have revealed many shortcomings which need to be improved to enhance the effective enforcement
Keywords: abusive practices; market dominance; dominant position; anticompetition;
competition law
Ngày nhận bài: 27/11/2017; Ngày phản biện: 20/12/2017; Ngày duyệt đăng: 29/12/2017
*
Tel: 0989761083, Email: dngbaolinh2@gmail.com
Trang 10oµ soT T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ
SOCIAL SCIENCE – HUMANITIES – ECONOMICS
Bui Hoang Tan - Ownership situation public field-land in Ha Chau district, Ha Tien province through studying
Doan Thi Yen - Tu Duc king’s attitude towards Catholicism before and after 1962 9 Tran Minh Thuan - The land problems and spontaneous fights of farmers in Bac Lieu province under the
French domination 15
Dong Van Quan - Types of democratic regime in the history and the present socialist democratic regime in our
Le Thi Giang, Le Thi Huong - The original of formation of Ho Chi Minh thought on human beings, human
Cao Thi Phuong Nhung, Ngo Thi Quang - Ho Chi Minh’s talk about the study of theoretics in “the orientation
speech at the opening ceremony of the first theoretics class at Nguyen Ai Quoc Institute” 33
Luu Thu Trang - The tragedy of Grigori Melekhov reflected in the relationship between Aksinia and Natalia in
Quietly Flows the Don (M Sholokhov) 39
Nguyen Dieu Linh - Onychostoma laticeps in culinary culture of white Thai people in Son A commune, Van
Nguyen Thi Tan Tien, Ha Thi Hang - The diffrences of learning outcomes of students having taken the
general informatics course with students obtaining the IC3 certicate at Thai Nguyen University of Medicine and
Dau Thi Thu - Training pedagogical profession for students through real professional activity experience 61
Nguyen Ngoc Binh, Duong To Quynh - Testing and assessing the learning outcome of the volleyball subject
for students at Thai Nguyen University of Economics and Business Administration 67
Luu Quang Sang - Some suggestions of teaching Chinese characters for Vietnamese students 73
Hoang Thi Hai Yen - Applying Ho Chi Minh’ ideology about morality in building morals, lifestyle of students
in Thai Nguyen University of Technology currently 79
Phung Thi Tuyet, Nong Hong Hanh - Assessment of the project-based teaching and learning of the students
major in Chinese at School of Foreign Languages, Thai Nguyen University 85
Tran Hoang Tinh - Situation and measures for planning and directing the implementation of disciplined
education for students at centers for national defense and security education 91
Hoang Thi Ly - role of scaffolding activities in enhancing english reading skills among first year college
students 97
Duong Thi Hong An, Dang Phuong Mai - Evaluating the EFL courseware at Thai Nguyen University of
Ta Thi Mai Huong, Nguyen Van Thinh, Nguyen Thi Hanh Hong - Effects of portforlios on improving listening
comprehension skill for students: a case study at Thai Nguyen University of Economics and Business
Tran Tuan Anh, Do Van Hai, Tran Thi Thu Thuy, Hoang Van Hung - Research building multipurpose
Nguyen Thi Gam, Dao Thi Huong - Influence of service quality on customer satisfaction at Vietinbank- Thai
Nguyen Thi Thanh Thuy - Foreign direct investment with the socio-economic development of Vietnam 129
Journal of Science and Technology
175 (15)
N¨m 2017